Monday, 29 November 2010

Thứ Hai, 29/11/2010 10:48 In
(TT&VH) - Buổi tọa đàm về cuốn sách Olga Berggoltz của tôi (tác giả Thụy Anh) đã diễn ra tại Hà Nội vào hôm qua 28/11/2010, nhân kỷ niệm 100 năm sinh của nhà thơ Nga này (1910 - 1975).

Mang dáng dấp một chân dung văn học, Olga Berggoltz của tôi dựng lại cuộc đời của nữ thi sĩ này với đầy đủ những thăng trầm trong số phận: từ khi còn là một cô bé con bắt đầu tập làm thơ, dấn bước vào thế giới thi ca với đủ cay đắng ngọt bùi, qua mọi mất mát, tù tội rồi còn lại một mình, cô đơn với bệnh tật và men rượu. Kèm theo đó là một số bài thơ được tác giả Thụy Anh dịch từ nguyên bản tiếng Nga.


Thật ra, qua những bản dịch của Bằng Việt, thơ Olga sớm được bạn đọc Việt Nam yêu thích và biết đến từ cách đây vài chục năm với những Không đề, Mùa lá rụng, Mùa Hè rớt. Không chỉ ở tình cảm đặc biệt của độc giả Việt Nam với văn học Nga, nói như lời nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (khách mời tham gia tọa đàm), thơ Olga rất gần với cảm thức phương Đông: có cái nhìn hồn hậu độ lượng, tràn đầy hy vọng và tha thiết về con người, về cuộc sống... Như lời dịch giả Thụy Anh tự nhận: tôi đã tránh chọn dịch một số bài thơ Olga vốn từng khắc dấu trong trái tim người đọc qua những bản dịch của Ngân Xuyên, Bằng Việt. Chính tôi cũng yêu mến những bản dịch đó và khó lòng chấp nhận những phiên bản khác.

Cũng sáng tác thơ và có 17 năm học tại Nga, tình yêu với Olga là lý do chính để Thụy Anh tìm hiểu và thu thập những tài liệu về nhà thơ này như ghi chép, thư từ, hồi ký của nhà thơ và các bè bạn từng gặp bà. Chính trên nguồn tư liệu ấy, chân dung của Olga Berggoltz được chị dựng lại theo từng chặng đường của cuộc đời, với những tâm trạng, cảm xúc khác nhau trước sự thăng trầm cùng vinh quang và cay đắng mà lịch sử nước Nga xô viết mang lại cho nhà thơ. Cùng với đó, những bài thơ được Thụy Anh chọn dịch cũng chia theo các mốc thời gian tương tự.


Thụy Anh và nhà thơ Hữu Việt tại buổi tọa đàm

Đọc Olga Berggoltz của tôi, độc giả bắt gặp một Olga không chỉ nồng nàn trong tình yêu mà còn có những vần thơ khi hài hước tự trào, lúc nghiệt ngã, gay gắt và quyết liệt. Thậm chí, bắt gặp cả sự hi sinh của một nhà thơ tình khi phải để thơ tình “nhường chỗ” cho những bài thơ thời sự, đầy gắp những lời kêu gọi, động viên nhưng đâu đó vẫn thấp thoáng bóng hình những cảm giác sâu kín nhất của con người...

“10 năm đọc về Olga, tôi càng nhận ra một Olga khác, một Olga không chỉ viết những vần thơ tình đắm đuối mà còn là một nhà thơ công dân, gắn chặt với những nỗi đau lớn nhất mà một người phụ nữ có thể trải qua. Chỉ có cách “bước theo” bà trong từng chặng từng chặng thăng trầm của cuộc đời, tôi mới có thể thấu hiểu những gì bà để lại”, dịch giả Thụy Anh cho biết.

Sunday, 28 November 2010

Bài mới nhất của Lữ Phương

Vì đâu nên nỗi ?

Lữ Phương Cập nhật : 27/11/2010 22:54

Tác động văn hoá của “ đổi mới ” xét như một mô thức phát triển




Vì đâu nên nỗi ?

Tác động văn hoá của “ đổi mới ”
xét như một mô thức phát triển



Lữ Phương



Vấn đề xuống cấp văn hoá và nếp sống hiện nay đã lan rộng đến mức báo động đỏ, khắp nơi đã có rất nhiều người lên tiếng cảnh báo thống thiết. Theo tôi thì đây không phải chỉ là sự suy thoái riêng rẽ và đơn thuần về đạo đức, văn hoá mà thực sự bắt nguồn từ cái mô thức phát triển tổng thể đã quy định sự suy thoái thuộc các lĩnh vực này. Tính chất trầm trọng của sự xuống cấp văn hoá đó cũng chính là ý nghĩa phá sản trầm trọng của một mô thức phát triển mang tính chất lịch sử mà chúng ta đã chọn và cũng vì vậy vấn đề đặt ra ở đây sẽ là vấn đề đi tìm nguyên nhân phá sản về mặt lịch sử của mô thức đó. Tôi có một bài viết đặt vấn đề một cách tương tự [Văn hoá và một chính sách phát triển văn hoá, Diễn Đàn số 27, 01.02.1994], tham gia một đề tài nghiên cứu do trung tướng Trần Độ đảm nhận cách đây gần 20 năm, nay xem lại thấy vẫn còn có những điều thích hợp nên nhân dịp này xin tóm tắt tinh thần bài viết đó vào vài điểm, có thêm một vài ý bổ sung.

*

Trước hết, tôi cho rằng trong việc quyết định con đường phát triển của đất nước, chúng ta đã có một sự ngộ nhận trầm trọng khi đồng nhất khái niệm “ chủ nghĩa xã hội ” mà chúng ta đã chọn lựa vào thời cách mạng giải phóng dân tộc với nội dung khái niệm “ xã hội chủ nghĩa ” mà chúng ta coi là hình thái kinh tế xã hội cần xây dựng để đưa đất nước vào con đường hiện đại hoá. Logic của vấn đề ở đây là : công cụ A giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ A thì nó cũng sẽ giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ B. Logic này cũng là cơ sở của luận điểm của Lenin về phong trào giải phóng dân tộc : phong trào này là một bộ phận của phong trào chống tư bản, đế quốc do quốc tế vô sản lãnh đạo nên sau khi dựa vào quốc tế vô sản hoàn thành cách mạng dân tộc rồi thì phải tiến lên xây dựng ngay chủ nghĩa xã hội, không thông qua giai đoạn phát triển tư bản để tiếp tục sự nghiệp chống đế quốc do quốc tế vô sản lãnh đạo.


Có thể trong điều kiện lúc bấy giờ, chúng ta có nhiều lý do để xác tín vào sự chọn lựa ấy, nhưng những gì diễn ra về sau đã chứng minh rằng cái logic ấy không phù hợp thực tế. Bản chất của hai phạm trù – giải phóng dân tộc và phát triển xã hội – là khác nhau hoàn toàn. Khái niệm “ chủ nghĩa xã hội ” mà chúng ta chọn trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc là khái niệm chỉ về chỗ dựa thực tế của một lực lượng ngoại tại. Chỗ dựa này tuy gọi là “ phe xã hội chủ nghĩa ” nhưng lại có nội dung đặc thù về lý luận lẫn lịch sử của một thực thể chính trị cụ thể, gọi là Đệ tam Quốc tế, lúc bấy giờ được cách mạng Việt Nam coi như cái “ cần thiết ”, cho cuộc đấu tranh – và do hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam, cuộc chiến đấu chống xâm lược của chúng ta có phần phù hợp với sự chọn lựa đó, nghĩa là nghiêng về việc dùng bạo lực cách mạng để cướp chính quyền, nên có người đã nói ở đâu đó – hình như nhà văn Nguyên Ngọc – rằng sự chọn lựa đó chỉ mang tính chất tình thế, một chọn lựa “ cực chẳng đã ”, chứ không phải và cũng không thể xem là một chọn lựa một lần cho mãi mãi, như một chân lý.


Tất cả nhưng khó khăn triền miên mà chúng ta gặp phải trong xây dựng sau khi đã hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất chính là do chúng ta đã vẫn cứ xem việc chọn lựa mang tính chất tình thế ấy như một chọn lựa tuyệt đối, vĩnh viễn, giống như một người sau khi mò mẫm đi tìm đã nhận được của trời một cái cẩm nang thần kỳ, hễ mỗi lần gặp khó khăn, mở ra là giải quyết được mọi việc trên đời. Thực tế đã cung cấp nhiều bằng chứng cho biết sự chọn lựa của chúng ta không phải là một cái cẩm nang thần kỳ, và sự huyễn hoặc của sự thần kỳ này không thể viện dẫn “ lập trường ”, “ lòng tin ” hay sự “ trung thành ”… mà bảo vệ được. Đây là một vấn đề vừa học thuật vừa thực tế mà xét cả hai mặt này, cái mô thức mà chúng ta gọi là “ chủ nghĩa xã hội ”, ban đầu là một cương lĩnh xây dựng trực tiếp, sau này chuyển thành một “ định hướng ” tiến lên lại không tìm được cơ sở nào để tự biện minh về tính chất nghiêm chỉnh và khả thi của nó, dù cho nó có được giải thích như thế nào, vận dụng cách nào đi nữa, bao lâu đi nữa.


Chúng ta thường cho là “ khoa học ” khi coi chủ nghĩa “ Mác-Lênin ” như cái kim chỉ nam tất yếu dẫn đất nước đi về tương lai tươi đẹp gọi là “ xã hội xã hội chủ nghĩa ”, nhưng phân tích đến cùng về mặt lý luận, chúng ta thấy việc dựa vào những biện pháp của Lenin để thực hiện các mục tiêu do Marx đề xuất chỉ tạo ra kết quả ngược lại với chính viễn cảnh xã hội tươi đẹp mà Marx đã hình dung, ấy là chưa nói đến việc khi phân tích đến nguồn gốc bản thân học thuyết Marx chúng ta đã có đủ luận cứ để chứng minh rằng đến lượt nó, học thuyết về tương lai tươi đẹp này cũng chỉ là kết quả logic hình thành từ một giấc mơ triết học, nhất là khi lại giao sứ mạng thực hiện cho một chủ thể hư ảo là “ giai cấp vô sản ”. Đó hoàn toàn không phải là xu thế phát triển của thời đại, cũng không phải là quy luật sinh thành của lịch sử như chúng ta đã ngộ nhận và thuyết minh mà chỉ là những phản ứng chính đáng nhưng lại mang tính mộng ảo của những người trí thức bức xúc trước những bất công gay gắt của chủ nghĩa tư bản thời sơ khai mà cũng là thời kỳ chủ nghĩa tư bản đồng hoá với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.


Đem những luận điểm mộng ảo về lý tưởng đó ra thực hiện, và lại thực hiện bằng biện pháp toàn trị của một guồng máy quyền lực tự cho mình là đại diện duy nhất cho sự minh triết về Lịch sử, tất sẽ dẫn đến một hậu quả kỳ quặc mà Marx gọi là sự “ phóng chiếu lộn ngược ”, khái niệm này Marx sử dụng để chỉ sự kiện lý tưởng của trường kinh tế cổ điển khi áp dụng vào thực tế đã đi ngược lại những nguyên lý do bản thân nó đặt ra. Với mô thức gọi là “ chủ nghĩa xã hội ” ở Việt Nam, hiện tượng đó cũng lặp lại : tất cả đều diễn ra ngược lại với cái mục tiêu mà chúng ta coi là lý tưởng khi đem thực hiện sau khi đã thanh toán xong chủ nghĩa thực dân.


Về mặt kinh tế, mô thức đó không dẫn đến giàu sang, sung mãn mà chỉ có thiếu thốn, nghèo nàn ; đường lối xây dựng đặt trên chủ nghĩa duy ý chí chỉ tạo ra những quyết sách quan liêu, ảo tưởng, tuỳ tiện, nên không hề có phát triển vì động lực phát triển đã bị huỷ diệt. Về chính trị, những khẩu hiệu gọi là “ do dân, vì dân, của dân ” vốn là cơ sở của các cuộc cách mạng dân chủ đích thực, đã trở thành những hứa hẹn mị dân thô lậu, đem ra tuyên truyền chỉ mang lại những hiệu ứng phản tác dụng. Xã hội công dân với những quyền dân sự tối thiểu đã bị đẩy vào “ thế giới ngầm ” bất hợp pháp và đất nước thì bị quản lý như một trại lính. Nhà nước mệnh danh “ đầy tớ của nhân dân ” thực chất là một hình thái Nhà nước - đảng, tập hợp từ ý chí chủ quan của một thiểu số tự lập và tự giam mình trong những giáo điều phản hiện thực, cô lập với đông đảo xã hội, duy trì sự tồn tại của mình bằng cách áp đặt một cung cách quản lý bằng mệnh lệnh từ trên rót xuống theo kiểu chiến tranh, một chiều, độc đoán. Kết quả : không có phát triển mà cũng không có dân chủ và công bằng.


Người ta không thể không đặt ra câu hỏi : tại sao đất nước lại chọn con đường này, đó có phải là con đường tất yếu ? Có rất nhiều câu trả lời xuất phát từ nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng mọi việc đã bắt đầu từ Đại hội Tours, năm 1920, khi Nguyễn Ái Quốc chuyển hướng từ chủ trương canh tân ôn hoà của Phan Châu Trinh sang con đường cách mạng cực đoan của Đệ tam Quốc tế. Cũng có ý kiến muốn lấy năm 1923 làm cột mốc giải thích khúc quanh cho số phận của Việt Nam khi Nguyễn Ái Quốc từ giã môi trường hoạt động khuynh tả ở nước Pháp dân chủ để sang Nga hội nhập vào mô thức chuyên chế kiểu phương Đông.


Tất cả đều có lý do để biện luận, tuy vậy theo nhận định của nhiều người khác thì chính xác nhất có lẽ phải kể đến thời điểm 1949 khi cách mạng Trung quốc thành công nhờ đó Việt Nam tìm được một căn cứ địa trực tiếp, lâu dài, làm chỗ dựa vững chắc để củng cố và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân, nhưng cũng từ cái cột mốc thời gian “ cần thiết ” sinh tử với độc lập dân tộc đó mà cách mạng Việt Nam, dưới nhiều hình thức, đã tạo điều kiện cho sự du nhập vào tổ chức của mình một hệ tư tưởng tệ hại nhất trong những hệ tư tưởng gọi là “ xã hội chủ nghĩa ” phản Marx nhưng vẫn nhân danh Marx để giải phóng loài người – đó là chủ nghĩa Mao, một thứ chủ nghĩa Stalin “ mang đặc điểm Trung quốc ”.


Bằng những cuộc chỉnh huấn tư tưởng, nếu chủ nghĩa Mao đó đã bơm được máu đen vào cơ thể Đảng Việt Nam thì về mặt xã hội, bằng khuyến dụ những cuộc tàn sát truy bức mệnh danh “ đấu tranh giai cấp ”, “ cải cách ruộng đất ”, nó đã đào bới đến tận gốc rễ nền văn hoá truyền thống của dân tộc – bằng cách đưa lên hàng chính diện các nhóm đân cư hạ đẳng nhất của xã hội, biến các tầng lớp này thành lực lượng nòng cốt thực hiện đường lối xây dựng “ xã hội mới ” theo mô thức Mao, đồng thời khuấy lên từ đáy sâu của lịch sử dân tộc các tính chất cặn bã nhất của con người là sự ngu dốt, cơ hội, ti tiện, hẹp hòi, thù hận… biến chúng thành hệ giá trị làm nền cho mọi hoạt động tinh thần mà dấu tích vẫn còn hằn sâu vào đời sống văn hoá của đất nước cho đến ngày nay, chưa biết đến bao giờ mới gột sạch được.


*

Cần phải nói thêm điều quan trọng khác về sự ngộ nhận trên đây là sự ngộ nhận đó vẫn không hề chấm dứt khi, trước sự khủng hoảng và bất lực của mô thức cũ, chúng ta buộc phải thay đổi chỉ đạo chiến lược về phát triển nhưng lại nhằm mục đích tạo cho hình thái kinh tế xã hội đã chọn một số thuộc tính mới cốt chỉ để duy trì cho được con đường đi lên mệnh danh “ chủ nghĩa xã hội ” trong điều kiện “ phe xã hội chủ nghĩa ” đã sụp đổ, bằng cách khai sinh ra chủ trương gọi là “ đổi mới ”. Nguồn gốc của đường lối này thật sự không mới lắm. Nó đã bắt nguồn từ NEP của Lenin : nắm vững chuyên chính của Đảng - Nhà nước – tôi không dùng khái niệm “ chuyên chính vô sản ” vì chẳng thấy có chút gì gọi là vô sản trong cấu trúc của thực thể Đảng - Nhà nước do Lenin lập ra cả – cho phép một bộ phận tư sản trước đây bị cấm đoán nay được hoạt động trở lại để giải quyết sự bế tắc của hình thái gọi là “ xã hội chủ nghĩa thời chiến ”, thực chất là thứ chủ nghĩa xã hội phản mác xít tư biện, không tưởng và giáo điều.


Thực sự thì theo chiến lược cách mạng quen thuộc của Lenin, “ chính sách mới ” đó chỉ là thủ thuật chính trị áp dụng vào kinh tế gọi là lùi một bước để chuẩn bị tiến lên hai bước. Cốt tuỷ của vấn đề ở đây là sử dụng có kiểm soát thật nghiêm nhặt khu vực tư bản tư nhân để hỗ trợ cho hình thái chủ nghĩa tư bản nhà nước đang được xây dựng vốn là thực chất của danh xưng “ chủ nghĩa xã hội ” theo mô thức Lenin. Vì thế mô thức này, những nhà nghiên cứu phương Tây về sau đã hoàn toàn có lý khi gọi là chủ nghĩa Lenin-thịtrường (market-Leninism) và cho rằng những gì mà Việt Nam (hiển nhiên có cả Trung quốc) áp dụng hiện nay vẫn xuất phát từ một phiên bản gốc.


Để giải quyết những khó khăn do thứ chủ nghĩa xã hội giáo điều và không tưởng gây ra sau những năm cải tạo triệt tiêu nền sản xuất hàng hoá, một bộ phận lãnh đạo của Đảng (đặc biệt ở miền Nam) đã cho phép “ bung ra ” với số một số thể nghiệm “ xé rào ” cục bộ hướng về mô thức nói trên từ 1979, nhưng phải đợi đến sau 1986 với ảnh hưởng của chính sách perestroika, kế đến là sự sụp đổ của Đông Âu và Liên xô thì mới hình thành rõ rệt như mô thức “ đổi mới ” đúng nghĩa, và diễn ra trên phạm vi toàn quốc.


Lý luận về “ bước lùi ” thoả hiệp tạm thời của Lenin ở đây đã bị đẩy xa hơn nhiều lần về khoảng cách : kinh tế thị trường ngày càng được xác lập đồng bộ hơn qua sự hợp tác với thế giới tư bản, của cải xã hội xuất hiện phong phú do các nguồn đầu tư và nhập cảng từ bên ngoài, xã hội thoát khỏi tình trạng chia đều sự nghèo đói trầm kha thời kỳ mệnh danh là “ quan liêu bao cấp ”. Giai cấp trung lưu tư sản dựa vào hoạt động kinh tế của nhà nước đã xuất hiện trở lại, tuy còn yếu ớt nhưng đã trở thành một thực thể quan trọng, xã hội công dân cũng từ đó được phục hồi đóng vai trò chủ động nhiều hơn cho sinh hoạt nhiều mặt của cộng đồng, một số quyền tự do dân sự, chủ yếu trong lĩnh vực đi lại, làm ăn, học tập đã được nới lỏng hơn nhiều so với trước đây.


Nhưng để quản lý tình trạng mới này, nhân danh sự ổn định chính trị, nhân danh chủ trương kiên trì tìm đường “ tiến lên chủ nghĩa xã hội ”, các nhà ý thức hệ của Đảng vẫn bám chặt vào hệ tư tưởng đã chọn từ thời chiến tranh chống thực dân – trải qua nhiều lần nhào nặn đã thấm đẫm nội dung bị mao-ít hoá –, với những phạm trù lý luận quen thuộc, mòn sáo, lạc lõng, hoàn toàn bị những diễn biến mới của thực tế phủ định (như chuyên chính vô sản, truyền thống cách mạng, xu thế tất yếu của thời đại, sự tất yếu của chủ nghĩa hội, sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, quốc doanh là chủ đạo, sở hữu toàn dân về đất đai v.v…), bất khả thi hoàn toàn nhưng vẫn được sử dụng cho mục đích duy trì tính chính danh đã quá mòn mỏi, suy yếu của Đảng, bằng những thủ đoạn gò ép giả tạo (gọi là điều tiết) buộc sự vận hành của kinh tế thị trường phải khuôn nắn theo những chính sách được quy định bởi những phạm trù lý luận giáo điều nói trên, và cũng chính vì vậy mà cản trở cuộc sống xã hội phát triển tự nhiên theo hướng cần phải có, cho nên xét trên tổng thể, mô thức phát triển gọi là “ đổi mới ” này, bên cạnh kết quả tích cực về vật chất, đã làm phát sinh những phản ứng chống trả của thực tế, biểu hiện trên bình diện nếp sống và văn hoá một cách tiêu cực và cực đoan như mọi người đều biết.


Các phương tiện truyền thông đã nói nhiều, nhưng tập trung nhất có lẽ phải kể đến hiện tượng bùng nổ – mang tính bù trừ sau một thời kỳ lâu dài các nhu cầu bị đè nén – của một thứ chủ nghĩa vật chất, mang màu sắc chụp giật dung tục, trắng trợn chưa từng có trên đất nước, lan tràn như một bệnh dịch, lau lách xâm nhập vào toàn bộ các ngõ ngách của đời sống (kể cả những lĩnh vực được coi là thiêng liêng cao quý), nổi bật nhất là khu vực công quyền với vai trò “ đầu têu ” của những tiết mục tiêu cực gây tai tiếng làm rúng động công luận, thể hiện qua cả những quyết sách đặt nền trên sự thống soái của cái mà có người đã đặt tên là “ chủ nghĩa GDP ”, cặp theo đó là một thứ chủ nghĩa khác gọi là “ chủ nghĩa thành tích vĩ cuồng ”, đua đòi chơi trội, ngông nghênh, cùng với thái độ liều lĩnh trong sự nhũng lạm, bòn rút, phung phí của công, trắng trợn, tràn lan, bất chấp mọi hậu quả làm băng hoại môi trường tự nhiên và môi trường đạo đức.


Được thôi thúc bởi sự “ điều tiết và lãnh đạo ” của các cơ quan “ cầm cân nẩy mực ” đó, toàn bộ xã hội đã lao vào cuộc chạy đua cuồng điên tìm kiếm và tích tụ tiền tài, của cải bằng mọi cách, hiệu nghiệm nhất có lẽ là những thủ đoạn luồn lách để cấu kết với công quyền, chưa nói đến việc lao vào bất cứ tội ác man rợ nào có thể thực hiện, bất cứ hành vi phi pháp nào có thể nghĩ ra. Một thứ công thức mới dường như đã định hình giúp con người nhanh chóng đi tìm sự thăng tiến cho đời sống vật chất hiện nay : không có tiền thì dùng bạo lực hoặc sự phi pháp để kiếm tiền, đã có tiền rồi thì dùng tiền mua quyền lực để kiếm thêm tiền vì quyền lực ngày nay cũng đã trở thành cái có thể đem bán để kiếm tiền… Tiền kiếm được theo công thức đó vì thế không thể không đi liền với sự chà đạp lên nhân cách, với sự bất lương, với tội ác hoặc dẫn đến tội ác. Không biết chính xác đến mức nào nếu như chúng ta nói rằng đặc trưng của đời sống văn hoá hiện nay là như thế! Và tình trạng ấy đã diễn ra trên khắp mọi vùng miền của đất nước, không từ một xó xỉnh nào !


Khi nhắc đến các hiện tượng nhức nhối này, chúng ta thường thấy xuất hiện các ý kiến đổ lỗi cho cái gọi là “ mặt trái của kinh tế thị trường ” hoặc do sự xâm nhập của “ văn hoá phương Tây ” khi đất nước mở cửa. Tất cả đều có, nhưng cần chú ý rằng, trừ những kẻ theo thuyết tôn giáo toàn thống hoặc những đệ tử trung thành với chủ nghĩa Stalin, ngày nay không ai dám xác quyết sự xấu xa có tính bản chất của thị trường và văn hoá phương Tây cả. Những mặt tiêu cực của các hiện tượng văn hoá này là có thực nhưng vì được quản lý bằng một nền pháp quyền thích hợp, tồn tại chung với những xu hướng khác, chúng không có điều kiện để trở thành phổ biến, trùm lấp như ở nước ta.


Cũng không thể quy mọi điều tệ hại đã kể trên vào cái phạm trù gọi là “ tội ác của cộng sản ” một cách khái quát như nhiều kẻ theo chủ nghĩa chống cộng thích nói bừa, vì cho đến nay chưa bao giờ thấy xuất hiện trên hành tinh này một hình thức xã hội cộng sản nào đúng theo định nghĩa của nó cả, trong khi đó nếu có những thứ “ cộng sản ” có thể gây ra tội ác thật sự thì đó chỉ có thể là những thứ mang tên cụ thể như Stalin, Mao Trạch Đông, Pôn Pốt hoặc gì gì đó thôi. Mà giả sử các thứ gây ra tội ác này tự nhân danh hoặc được quy cho là “ cộng sản ” thì những thứ gọi là “ tội ác ” ấy, chúng ta có thể khẳng định như đinh đóng cột rằng chúng không hề bao gồm những cuộc rượt đuổi một cách điên cuồng theo đồng tiền !


Rốt cuộc thì đối với vấn đề suy thoái đạo đức, văn hoá ở Việt Nam hiện nay thiết nghĩ chúng ta không thể đem các thứ cộng sản hoặc tư bản trừu tượng ra giải thích mà phải tìm đến sự giao thoa và cộng hưởng của hai cơ sở lý luận “ dỏm ” dẫn xuất từ những nguồn gốc đó : đó là thứ chủ nghĩa cộng sản mạo danh, biến thái cùng với cái mặt trái của nó là thứ chủ nghĩa tư bản sơ kỳ, man rợ ! Để hai thứ này riêng ra chúng sẽ đi theo con đường của chúng mà tiết ra nhưng độc tố riêng biệt, nhưng khi để chúng kết lại với nhau thì chúng sẽ quyện lại thành một thứ chủ nghĩa thực dụng sùng bái quyền lực do vật chất mang lại, có sức tàn phá đặc biệt ghê gớm với bất cứ những gì cản trở đường đi của nó : trong khi đưa lên bàn thờ con bò vàng và sử dụng những thủ đoạn chính trị tàn độc và dối trá nhất để bảo vệ ngẫu tượng đó, nó cũng nhân danh những mục tiêu thực dụng trước mắt để hạ bệ mọi cung cách ứng xử trung thực, trong sáng trước cuộc sống, làm tan chảy tất cả những ý thức phản kháng chính đáng trước bất công, giam vào tù ngục mọi lý tưởng lành mạnh, mọi khát vọng tự do của con người… Đó là một hình thái cực đoan nhất của chủ nghĩa hư vô về đức lý.


*

Trước tình hình xuống cấp tinh thần trầm trọng đó, mà sự tiếp cận đã được quy về cái mô thức phát triển cấu thành bởi hai hình thái kinh tế xã hội mang tính chất ý thức hệ tiêu cực và lạc hậu như đã phân tích ở trên thì việc trả lời cho câu hỏi “ làm gì ” trước thực trạng chắc sẽ có thiên hướng tìm đến cái logic sau đây như một tất yếu : phải tách rời hai hình thái ấy ra, không cho chúng cấu kết với nhau để nhân lên sự độc hại, rồi sau đó trong hai thứ ấy, tuỳ theo quan điểm, ta sẽ chọn lấy một, cái này hoặc cái kia, loại trừ những phần độc hại trong cái mô thức đã bị làm cho biến dạng, sửa đổi, canh tân và phục hồi lại các nguyên lý thuần nhất của nó, trau chuốt cho nó có hiệu quả hơn để áp dụng vào thực tế. Chắc hẳn đề nghị ấy sẽ bị không ít người cho là giả tưởng, nhưng chúng ta vẫn thấy trong thực tế không ít người nêu ra qua nhiều hình thức khác nhau.


Chúng ta đều nghe biết trong hàng ngũ thuộc thành phần “ lương đống ” một thời của Đảng, có không ít vị đã phản ứng quyết liệt cái đường lối gọi là “ đổi mới ” hiện nay, cho rằng Đảng đã sai lầm khi từ bỏ các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội để chạy theo tư bản, và chính vì vậy mới làm cho mọi việc rối tung lên. Nhưng làm sao để phục hồi lại một Đảng cộng sản kiên trì được thứ chủ nghĩa xã hội kiểu trước đây thì ngoài mấy khái niệm cũ được nhắc lại, không thấy ai nói rõ phải vận dụng như thế nào. Tốt nhất có lẽ là lập ra một Đảng cộng sản “ đích thực ” hơn để làm đối trọng với cái Đảng cộng sản lôm côm hiện nay, nhưng chắc chắn là không dám đề nghị vì sợ bị kết cho cái tội “ chủ trương đa đảng ”. Chúng ta cũng đọc thấy trên mạng trường hợp một vị quan lớn, hét ra lửa một thời, thậm thụt bày tỏ ý định rủ một số đồng chí trẻ đi lập chiến khu để làm lại tất cả, vì bây giờ mọi thứ đã hỏng hết rồi, nhưng rồi cũng chẳng thấy động tịnh gì cho đến khi chết. Tôi nghĩ mặc dù hoang tưởng nhưng mấy vị này không hoàn toàn vô lý : thứ chủ nghĩa xã hội cổ lỗ mà họ ôm ấp tuy có độc tài, trì trệ, nghèo đói, cả ác độc nữa nhưng mọi thứ đều răm rắp đâu vào đó, tứ bề yên ổn, chay tịnh, chứ đâu có lộn xộn như thứ “ chủ nghĩa xã hội thị trường ” bây giờ ! Cứ nhìn sang Bắc Triều Tiên mà xem !


Xu hướng muốn trở về “ đích thực ” này hiện nay đã yếu đi và được thay bằng cái ngược lại, ồn ào hơn : nhiều người (trong đó có cả những đảng viên) đã mạnh dạn lên tiếng, hoặc là góp ý chân thành hoặc là công kích quyết liệt sự thiếu nhất quán của Đảng khi cứ duy trì khẩu hiệu sọc dưa gọi là “ thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”, cho rằng Đảng đang ra sức đêm ngày “ xây dựng ” một thứ chủ nghĩa tư bản nào đó để kiếm đô-la cho phe cánh và gia đình nhưng vẫn cứ gào thét mấy chữ “ chủ nghĩa xã hội ” để hù doạ người khác và như vậy là không ổn : hãy bỏ cái đuôi ấy đi cho nó đàng hoàng về phương diện lý luận và cả thể diện nữa. Xét về logic thì lý lẽ của các vị này không sai, nhưng điều khiến nhiều người không coi là nghiêm chỉnh lắm là trong vài trường hợp, do thái độ vồn vã quá đáng của họ với các thứ lý thuyết lên gân về chủ nghĩa tự do : nghe sự thuyết minh của các vị ấy chúng ta tưởng như họ đang mang về từ đâu đó một cái cẩm nang thần kỳ mệnh danh tư bản để thay thế cho cái cẩm nang thần kỳ mang tên cộng sản ngày xưa !


Tôi cho rằng cả hai hướng suy nghĩ trên đây là không thích hợp và chẳng giải quyết được gì. Cái mô thức gọi là chủ nghĩa xã hội mà Đảng coi như cương lĩnh xây dựng thời trước đổi mới đã chết hẳn rồi, có vùng vằng thương tiếc thì chỉ tốn nước mắt vô ích. Ngược lại, nếu có những ai cứ nhất định muốn cột thực tế hiện nay vào cái mô thức cũ ấy để chửi cộng sản (và chửi luôn cả ông Marx nữa) thì chẳng khác gì tung cú đấm vào một bóng ma. Còn cái chế độ tư bản kiểu Mỹ, kiểu Đức, Nhật hoặc Na-uy mà nhiều người trong chúng ta thường nhắc đến với nỗi thèm muốn quay quắt, đó cũng chỉ là những viễn tưởng cho tương lai, còn bây giờ thì tất cả đều là của người khác, dù mình có trú ngụ ở những nơi ấy thì cũng là xứ sở của người khác, không thể dựa hơi người khác để lên mặt kênh kiệu làm oai với người nhà. Cũng đừng quên rằng đất nước thời “ đổi mới ”, so với người ta, tuy còn lạc hậu nhưng cũng đã đi vào hội nhập, và bản thân mô thức “ đổi mới ” cũng chỉ là kết quả của một thời kỳ quá độ ; xuất hiện từ những tiền đề nào đó, nó cũng đang tạo ra những điều kiện mới để chuyển động.


Từ những gì đã trình bày, xét từ nội tại, tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất, đáng đặt ra nhất hiện nay là thực hiện một tổng kết về cuộc đổi mới trên 20 năm qua với tư cách là một mô thức phát triển quá độ, trong đó quan trọng nhất là phải nhận ra cho được cái điểm nút sinh tử của nó là sự đối kháng huỷ diệt của tăng trương kinh tế đối với phát triển văn hoá. Nhìn vấn đề từ yêu cầu hài hoà, toàn cục, bền vững và “ vì con người ”, như người ta thường nói, thì cái mô thức mệnh danh “ đổi mới ” nói trên rõ ràng đã không còn phù hợp nữa : trong khi tạo ra một số của cải vật chất để đẩy lùi tình trạng nghèo khổ khan hiếm do thứ chủ nghĩa xã hội giáo điều, không tưởng cũ gây ra, trong khi buộc phải đổi thay theo thời thế để cứu nguy một định chế chính trị đang rơi vào khủng hoảng, bên cạnh một số mặt thành công không thể phủ nhận, mô thức đó cũng tạo ra quá nhiều hỗn loạn và mất mát trong lĩnh vực tinh thần, phá vỡ lòng tin của con người về những giá trị nhân văn phổ biến, về niềm tự trọng dân tộc chính đáng, xâm hại đến cả lợi ích tối thượng của quốc gia.


Các biện pháp mà Nhà nước sử dụng bấy lâu để đối phó, gọi là tuyên truyền, giáo dục, răn đe, trừng trị… đã tỏ ra vô hiệu, một phần vì không triệt để nhưng do bất lực là chính ; các biểu hiện băng hoại về lối sống, các tệ đoan xã hội, các hình thức tội ác… mà nguyên nhân chủ yếu là cuộc thác loạn vì chủ nghĩa vật chất như đã được nhấn mạnh nhiều lần, ngày một tăng “ đô ”, ngày càng liều lĩnh, ngang nhiên, thách thức. Không chỉ tạo ra cái bầu khí bất an gây kinh hãi thường trực cho người lương thiện, ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động giáo dục, văn hoá, kinh tế, môi trường mà trong tình hình mới hiện nay, thứ triết lý tham lam, chạy theo lợi ích nhất thời và vô trách nhiệm, không màng đến hậu quả lâu dài, cũng đang trở thành một chất xúc tác tâm lý lót đường cho những toan tính xâm nhập của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán phương Bắc, như đang diễn ra gần đây, ai cũng nhận thấy.


Phát khởi một hình thức vận động giống như một cuộc cách mạng tinh thần vào lúc này, có thể sẽ bị xem là quá nhạy cảm. Nhưng dù vậy trước tình hình băng hoại đáng báo động về văn hoá như hiện nay, nếu không dấy lên được một phản ứng thức tỉnh quyết liệt của cộng đồng để cảnh giác và tìm phương cách đối phó, thì nguy cơ rơi vào một hình thức lệ thuộc kiểu thực dân mới nào đó về văn hoá, hoặc một cái gì tương tự tinh vi hơn, không thể loại trừ là không xảy ra. Điều đó khiến chúng ta không khỏi suy nghĩ thêm về tình cảnh của đất nước vào những năm tháng này : phải chăng vấn đề mất nước mà chúng ta tưởng đã không còn đặt ra nữa sau ngày thống nhất, nay lại lấp ló hiện ra, lần này không còn đến từ phương Tây nữa mà giống như cả ngàn năm trước, lại từ phương Bắc. Có thật thế không ? Dù sao thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, trước bất cứ nguy cơ nào, mọi người đều có thể chia sẻ một cách thật bức xúc sự cần thiết phải vun đắp lại một trạng thái tinh thần lành mạnh và cường tráng cho các tầng lớp nhân dân, qua đó tích tụ thành một tiềm năng văn hoá tích cực, để khi cần thiết sẽ hiện thể thành những ứng phó thích hợp với những thử thách mới trong tương lai. Đối với phần việc này, những người lãnh đạo đất nước phải là những người nhận lãnh trách nhiệm trước tiên : cùng với bao nhiêu phần việc khác, công cuộc phát triển kinh tế mà họ đang điều hành phải góp phần tạo ra những điều kiện thuân lợi để củng cố thêm tinh thần đó chứ không thể làm ngược lại.


Từ ý hướng đó mà nhìn lại thì rõ ràng mô thức phát triển mệnh danh “ đổi mới ” cho đến nay đã không làm tròn được chức năng nói trên, do vậy cái chính sách nửa vời đó đã đến lúc cần phải chấm dứt – và mọi người phải có nhiệm vụ tạo áp lực cho nó sớm chấm dứt – để chuyển sang một mô thức phát triển có chất lượng tích cực hơn, phù hợp hơn với hoàn cảnh mới của xã hội và lịch sử. Nội dung của mô thức này ra sao, sẽ được hình thành như thế nào, làm sao để thực hiện, là những vấn đề lớn lao, có lẽ không phải là chỗ để bàn luận ở đây, bản thân tôi cũng không dám lạm bàn. Tuy vậy do đã xuất phát từ một tiền đề nhấn mạnh tính mô thức của một đường lối phát triển tổng thể, tôi trộm nghĩ nếu mình được phép đưa ra mấy nhận xét như sau thì cũng không có gì không thuận chiều về mặt logic : trong nỗ lực đi tìm mô thức mới thay thế, vực dậy đời sống tinh thần cho xã hội, nếu không thanh toán cho được cơ sở lý luận cho phép người ta dựa vào các phạm trù ý thức hệ lỗi thời để thiết lập chính sách quốc gia, coi đó đã là những quyết định tối hậu, từ trên áp xuống, dựa vào những lợi ích nhất thời, cục bộ coi là giá trị để theo đuổi, cứ thế mà thực hiện, bất chấp hậu quả, bất chấp lòng dân thì cái giá phải trả, trong tình hình mới, không phải chỉ diễn ra như cũ, cũng không chỉ trên phương diện văn hoá mà có thể dẫn tới những tác hại quan trọng, không lường trước được, về mọi mặt đối với sự an nguy của đất nước.


*

Với những phần nghiêng lệch về tiêu cực như đã phân tích, chủ trương “ đổi mới ” với tư cách là một mô thức phát triển, rõ ràng đã không còn lý do để tiếp tục nữa. Một cách có ý thức và chủ động, nó phải được chuyển sang một mô thức mới dựa trên những nguyên tắc mới về lý luận và văn hoá, dân chủ hơn, hiện đại hơn.


21.11.2010


Lữ Phương



NGUỒN : Tham luận tại hội thảo
Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay
do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức
ngày 27.11.2010 tại Hà Nội

Đăng ngày: 12:38 28-11-2010
Thư mục: Tổng hợp

Liên đoàn bóng đá Sìgoòng đang bỏ một đống tiền hè nhau tổ chức cuốn sách lịch sử bóng đá Việt nam, mời một nhà văn yêu cuồng nhiệt bóng đá, làm chủ biên. Ngoài yêu cuồng nhiệt và hiểu biết luật FIFA, tịnh không có ai đủ uy tín về khoa học sử nằm trong ban biên tập. Quan sát cách họ đang đi sưu tầm tư liệu mà Beo chết cả cười. Không phương pháp luận, không luôn cả đề cương định hướng, nghe ở đâu nói hoặc tự các cá nhân cảm thấy cái gì hay, tốt là ghi chép biên chụp nhiệt tình. Ví dụ mai mốt vớ phải tấm hình, Tam Lang đứng dưới cờ ba sọc, chả hiểu họ sẽ chọn phương án nào trong ba cách vất đi, tôn trọng nguyên trạng hay, photoshop béng cái cờ.

Suy rộng ra, chính trị Việt nam hiện cũng đang làm y trang cách thế.

Thời ông Phan Văn Khải lập ra ban cố vấn của Thủ tướng, chiểu theo những gì các vị trong ban này phát biểu với báo chí (và nếu báo chí ghi chính xác ý kiến họ), toàn thấy trớt quớt đâu không. Ví như ngừơi ta cần lời đáp nhanh biến động giá vàng thế này thì ứng xử với lãi xuất ngân hàng ra sao thì anh trả lời nên cho ca sĩ hải ngoại về nước biểu diễn vậy. Ông Nguyễn Tấn Dũng giải tán ban này khi lên nắm quyền. Những nhân vật chủ chốt sau đó quy tụ vào Viện IDF. Sau những ý kiến không đồng thuận về quan điểm, là điều dưới cả bình thường trong khoa học, các nguyên khí quốc gia đùng đùng giải tán vì một lý do rất sìcăngđan. Thực tế hiển hiện, bây giờ ngoại trừ bạn Beo, ai buồn nhắc đến IDF nữa. Cú giáng trả không cần động thủ của chính quyền với IDF chính là thời gian và sự bạc bẽo của công luận.

Trong con mắt Beo, các bậc trí thức hàng hiệu này vẫn phải bám chặt vào trạng thái tinh thần một nhúm chính quyền hơn là độc lập Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Nói cách khác, họ đặt cái tôi của mình cao hơn cả vận nước hưng vong.

Chính trị Việt nam đang làm y trang cách thế bởi trí thức Việt nam hiện chỉ có thế.

Có một sự thật không nhiều người biết, là các ý tưởng phải đổi mới về lý thuyết vận hành đất nước, xuất hiện từ thời cụ Trường-Chinh. Đây là nhà lý luận đúng nghĩa, hiếm hoi trong suốt lịch sử 70 năm của Đảng cộng sản Việt nam. Cũng phải đến thời cụ Nguyễn Văn Linh mới chín muồi tất cả những điều kiện để đưa các ý tưởng kia thành hiện thực. Và phe phái bảo thủ hay cấp tiến chỉ xuất hiện và tồn tại một thời gian ngắn trong giai đoạn này.

Mở ngoặc tẹo là bạn Beo rất chia sẻ với những nhân vật bị gắn mác bảo thủ. Họ đã hy sinh quá nhiều lợi ích riêng để đi đến cái đích màu đỏ, tự dưng có kẻ bảo, không, đến cái đích xanh kia. Và không một ai giải thích được cho họ, xanh tốt đẹp hơn đỏ ở điểm nào hay phải trả giá thêm cái gì nữa để tới đích mới.

Gần 20 năm nay, cặp khái niệm đối lập trên không còn tồn tại ngoài đời thật. Những năm 2010 này, nó được thay thế bằng cặp khác: thân Trung hoặc thân Mỹ. Hồ Chí Minh để lại một tư tưởng lớn nhất trong sự nghiệp của ông là Độc lập dân tộc, thâm sâu của cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức HCM dăm năm nay chính là nhằm loại trừ cặp khái niệm mới kia. Dĩ nhiên, cho đến khi bạn Beo ngồi biên blog lăng nhăng này, ông Cụ vẫn chưa thành công.

Trong đợt tổng công kích chưa từng có tiền lệ trên chính trường quốc nội vào đích danh thủ tướng, Beo không hề thấy ai đưa ra nhân vật có thể thay thế ông vào tháng 1 sang năm. Vì không thể đưa ra dẫn chứng chốn công cộng nên Beo đưa ra dự đoán: nếu ông Nghìn cân rớt võ đài thì năm sau không có chuyến thăm Vn của TT Obama và, chuyến xuất ngoại đầu tiên của Hồ Cẩm Lú Ôn Gia Hèn là sang cảm tạ cha chú Hồ Cẩm Đào Ôn Gia Bảo.

Trí thức chỉ có thế nên chính trường không thế, mới lạ.

Đôi khi Beo có ý nghĩ khá tiểu nhân là khoái trá cực kỳ khi đám đông chống Tàu khí thế kia té bật ngửa nếu biết họ đang support cho những nhân vật sẽ quỳ mọp trước Tàu, trong tương lai. Beo là thải khí, không phải nguyên khí, ngu gì bỏ lỡ cơ hội sung sướng, mọi nhẽ.

Friday, 26 November 2010

Bán đấu giá 8 800 Euro ngày 24.11.2010



Đấu giá bức tranh của Hàm Nghi tại Hotel Drouot



CHIỀU TÀ : nhát búa lúc 14g57



Tác phẩm CHIỀU TÀ (Déclin du jour) kí tên Tử Xuân đề năm 1915 đã được bán ở mức 8 800 € (11 700 USD) khi nhát búa gõ xuống bàn đấu giá Phòng 1 Khách sạn Drouot, Paris, vào lúc 14g57 ngày thứ tư 24 tháng 11-2010.

gobua

Đại diện công ti SVV Millon & Associés gõ búa vào lúc 14g57, chấp nhận giá cuối cùng là 8 800 €. Hình bức tranh CHIỀU TÀ được chiếu trên màn ảnh (trên cao, góc trái).

Đây là lần đầu tiên, một tác phẩm hội họa của cựu hoàng Hàm Nghi (Nguyễn Phúc Ưng Lịch, 1871-1944) được đưa ra bán trên thị trường. Như chúng tôi đã đưa tin, tháng 11 năm 1926, người bạn thân của ông, nữ nghệ sĩ Suzanne Meyer-Zundel, đã tổ chức -- lần đầu tiên và có lẽ một lần duy nhất -- một cuộc triển lãm tranh và tượng của ông. Năm 2008, khi chuẩn bị giúp đoàn của đạo diễn Nguyễn Hồ thực hiện bộ phim tư liệu 70 tập Đi tim dấu tích Ba Vua, chúng tôi đã tìm ra danh sách những tác phẩm của "ông hoàng An Nam" đã được trưng bày tại Galerie Mantelet (rue de la Boétie, Paris 8), nhưng rất tiếc, cho đến nay, vẫn chưa có tài liệu lưu trữ nào cho biết những ai đã mua được tác phẩm nào nhân dịp này. Cho đến nay, chỉ biết cháu ngoại của nhà vua (con công chúa Như Lý) vẫn giữ trong vòng gia đình những tranh và tượng mà bà Marcelle Laloë (kết hôn với Hàm Nghi năm 1904) đã mang về Pháp vào đầu thập niên 1960. Được biết, khi rời biệt thự Gia Long (khu El Biar, Alger) một năm trước ngày Algérie giành được độc lập, bà Laloë vẫn để lại ở ngoài vườn những bức tượng lớn. Theo người cháu nội duy nhất của nhà vua (con người con trai ngoại hôn) thì sau năm 1962, chính phủ Algérie đã đưa những tác phẩm này vào một viện bảo tàng ở Alger. Một lần nữa, chúng tôi mong rằng Bộ văn hóa và Bộ ngoại giao Việt Nam nhận thức được ý nghĩa của việc đi tìm dấu tích những di vật ấy và đặt vấn đề với nước bạn.

Trong hoàn cảnh ấy, chúng ta hiểu tại sao hiện nay chưa có một vựng tập các tác phẩm hội họa và điêu khắc của nghệ sĩ Hàm Nghi, chưa thể có những chuyên gia thẩm định nguồn gốc xác thực của mỗi tác phẩm, và tất nhiên, chưa có bảng giá trên thị trường mĩ thuật. Bởi vậy, trong vựng tập của văn phòng M & A (gồm 228 tranh tượng mang ra bán đấu giá ngày 24.11.2010), Chiều tà được ước định giá ở một mức khiêm tốn : từ 800 đến 1 200 €, và mở đầu cuộc đấu, đại diện M & A ra giá là 1000 € (1330 USD).

chieuta

Đó là lô số 41. Nửa giờ trước đó, bức tranh Chiều trên (đảo) San Giorgio (Venise) của Félix Ziem (1911), lô 17, đã được ngã giá 59 000€ (nằm trong giai phổ ước tính 40 000/60000). Một phút trước, lô 40, Dạ vũ hóa trang của Frédéric II Dufaux (1943), được gõ búa ở giá 15 000€ (ước tính từ 10 000 đến 15 000€).

14g52, lô 41. "Tranh của Hoàng đế Hàm Nghi, 1915, 35 cm x 46cm", nữ nhân viên đấu giá nhấn mạnh : "một tác phẩm phi thường (exceptionnelle)". Quả là phi thường, biệt lệ. Người ta có thể tranh cãi về giá trị nghệ thuật, về bút pháp của một họa sĩ nghiệp dư, cầm kỳ thi họa không phải là một nghề,

có thể là đam mê, và chắc chắn là nơi ẩn náu của một con người xuất chúng, bắt đầu tuổi tráng niên là một kiếp đọa đầy. Trong phòng đông nghẹt người (người đứng có lẽ còn đông hơn người ngồi), bỗng im phăng phắc. Góc trái, góc phải, những bàn tay giơ lên : người tham gia đều là người Việt Nam, trung niên có, cao niên có. 1000, 1500,... 2600, ... Người đứng bán trên bục quay lại phía sau : một nhân viên, điện thoại ép tai, ra dấu : 3000. Từ lúc ấy, là cuộc đấu giữa hai phụ nữ một ngồi, một đứng trong phòng, và một lệnh mua qua điện thoại viễn liên : 5000, 5500,... Điện thoại : 8000. trong phòng : 8100... Điện thoại 8500. Trong phòng có ai trả hơn ? Không có ai ? 8600 ! Điện thoại đáp ngay : 8800. Trong phòng không có ai ? Một, hai, ba. Cái búa gỗ gõ nhẹ trên mặt bàn. Máy ảnh của tôi ghi thời điểm 14g57. Chiều tà đã được bán với giá 8 800€, gấp gần 9 lần định mức ban đầu. Nó đã về tay một người chủ vô danh (và theo lệ, văn phòng đấu giá sẽ không công bố tên người mua nếu không được phép, cũng như họ sẽ chỉ thông báo tên người bán cho riêng người mua). Nhưng ở những phút giây quyết định, người ta có cảm tưởng rất rõ : ở đầu kia của đường dây điện thoại, ai đó đã quyết tâm, và có khả năng, đi tới cùng của cuộc đấu, bất luận người trong phòng muốn đưa giá lên tới mức nào. Có lẽ vì cảm thấy điều ấy, mà bàn tay phụ nữ trong phòng đã giơ lên lần cuối cùng ở giá 8 600.

nguoidung

Ai là chủ nhân của tác phẩm mà Tử Xuân Hàm Nghi đã vẽ cách đây gần một thế kỉ ? Có thể chúng ta sẽ không bao giờ biết. Chỉ biết đó không phải là Thành phố Huế, tuy Huế đã ủy quyền cho Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tham gia cuộc đấu giá, và theo tin của chúng tôi, người thay mặt sứ quán đã phải ngừng ở mức mà Ủy ban Nhân dân Huế đã định trước (hay đúng hơn, đã ngừng ở một mức cao hơn hẳn, nhờ sự hưởng ứng "góp phần" của một Việt kiều Mạnh Thường Quân khát khao mong muốn di vật quý báu của nhà vua yêu nước cuối cùng sẽ trở về hoàng thành, nơi nhà vua trẻ tuổi ra đi từ năm 1888). Ra khỏi phòng đấu giá, nhiều Việt kiều còn đứng một lúc lâu, trao đổi cảm tưởng, thông tin, ước đoán. Không ít người nghĩ rằng người mua chắc phải là một "đại gia", nếu không ở Việt Nam thì cũng đang kinh doanh phát đạt ở Nga, ở Tiệp...

Tất cả các giả định đều có thể, nhưng không có gì chắc chắn. Người viết bài này vốn lạc quan, muốn "bỏ phiếu" cho một kịch bản lạc quan nhất : đại gia ấy là một người thiết tha tới những giá trị lịch sử, văn hóa, biết kết hợp đam mê của mình với công đoạn "PR" của một doanh nhân hiện đại. Bởi vì hiến tặng họa phẩm này cho một viện bảo tàng Việt Nam -- tất nhiên phải là một viện bảo tàng xứng đáng và có khả năng, kĩ năng bảo quản, không thể để trong một cái tủ kính bám bụi mà du khách phải chứng kiến ở các lăng tẩm và phòng trưng bày ở Huế những năm qua -- là một hành động văn hóa vô giá, một cách quảng cáo quá rẻ so với kết quả sẽ đạt được.

Nói tới tranh, người viết lại nhớ tới một bức tranh trong câu chuyện ngụ ngôn "ông K" của văn hào Đức Bertolt Brecht. Chuyện rằng : có người hỏi ông K "mến ai thì ông làm gì ?". "Tôi vẽ chân dung anh ta". "Rồi sao nữa ?". "Rồi tôi làm cho anh ta giống bức chân dung".

Tôi không phải là họa sĩ. Nhưng tối nay, tôi muốn vẽ chân dung người chủ bức tranh "Chiều tà".

Nguyễn Ngọc Giao

Paris, 24.11.2010

Thursday, 25 November 2010

Wednesday, 24 November 2010

Thủ tướng nhận trách nhiệm cá nhân về Vinashin
- Trả lời chất vấn trực tiếp của ĐB sáng 24/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiều lần nhận trách nhiệm cá nhân với sự đổ vỡ của Vinashin và hứa nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm cá nhân các thành viên CP, không làm xuê xoa.

Sau một tiếng báo cáo giải trình, từ 9h sáng, Thủ tướng bắt đầu trả lời chất vấn trước Quốc hội.


VietNamNet tường thuật trực tiếp.

>> Thủ tướng báo cáo giải trình trước Quốc hội
>> Toàn văn giải trình của Thủ tướng trước Quốc hội
>> Để chất vấn không trở thành khuôn sáo


Vinashin tự vay tự trả thế nào?

ĐB Phạm Thị Loan (Hà Nội): Những ngày gần đây nhân dân chăm chú theo dõi nỗ lực Chính phủ đang tái cơ cấu Vinashin, Tập đoàn cũng tuyên bố nỗ lực làm ăn tự vay, tự trả, tái cơ cấu. Làm được như vậy dân mừng.

Nhưng với số nợ trên 86 ngàn tỷ đồng, thì Tập đoàn sẽ tự vay tự trả lãi thế nào? Vì mỗi năm sẽ phải trả tiền nợ lãi cho ngân hàng 15 ngàn tỷ Và chỉ sau 5 năm, số tiền nợ 86 ngàn tỷ đồng sẽ tăng gấp đôi 160 ngàn - 170 ngàn tỷ đồng.

Trong khi đó, kinh doanh với doanh thu năm 2010 chỉ là 13, 5ngàn tỷ đồng. Và số lỗ hoạt động kinh doanh là 1.100 tỷ đồng.

Theo tính toán của chúng tôi, kể cả sau tái cơ cấu, Vinashin không thể tự trả được nợ nếu không được bơm vốn từ bên ngoài và bán bất động sản. Xin hỏi Thủ tướng có cách nào để tự vay tự trả món nợ này? Nếu không trả được món nợ trên thì Thủ tướng sẽ làm thế nào?

Nếu Chính phủ khoanh nợ mà không tính lãi thì ai chịu trách nhiệm về việc ngân hàng thua thiệt số tiền 15 ngàn tỷ đồng, số tiền đóng băng ảnh hưởng đến hệ thống tài chính cả nước?

ĐB Phạm Thi Loan mở đầu phiên chất vấn trực tiếp Thủ tướng. Ảnh LAD
Thứ hai, với cương vị đại diện chủ sở hữu quản lý tập đoàn, Thủ tướng sẽ chịu trách nhiệm thế nào trước tình hình Vinashin?

Thứ ba, sau Vinashin có chủ trương tái cơ cấu các tập đoàn khác không, đặc biệt Tập đoàn Dầu khí. Vì hiện nay Tập đoàn dầu khí đang đầu tư dàn trải ngoài ngành cốt lõi như bảo hiểm, bất động sản, tài chính, gas và cả taxi. Bây giờ còn được giao thêm đóng tàu.

Chỉ khác là Vinashin phải đi vay tiền để đầu tư còn dầu khí thì được nhà nước cấp tiền để làm và đang rộng tay sử dụng ở nhiều lĩnh vực. Tôi xin hỏi Thủ tướng vì lý do gì mà 50% đại biểu QH không muốn để lại 3.500 tỷ đồng cho tập đoàn dầu khí nhưng Chính phủ vẫn quyết định cấp số tiền đó cho họ. Thủ tướng kiểm soát việc sử dụng vốn của tập đoàn này thế nào?

Việc dầu khí đầu tư 3,2 tỷ USD sang Venezuela thời điểm đất nước đang thiếu ngoại tệ là như thế nào?

Thủ tướng nghĩ gì về việc thành lập các tập đoàn kinh tế đa sở hữu, đầu tư dàn trải để rồi vỡ nợ là lại tái cơ cấu như Vinashin.

Tôi cũng đề nghị Quốc hội cần có nghị quyết về sử dụng vốn ở Tập đoàn Dầu khí?

ĐB Lê Như Tiến (Quảng Trị): Tôi xin gửi tới 2 câu hỏi xung quanh chủ đề: tầm nhìn và chất lượng quy hoạch.

Giải trình tại phiên thảo luận kinh tế xã hội và 2 ngày chất vấn vừa qua, nhiều Bộ trưởng thừa nhận những bất cập trong quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ, khu công nghiệp, khu dân cư, quy hoạch đô thị...

Với cương vị người đừng đầu Chính phủ, người được pháp luật giao thẩm quyền phê duyệt các quy hoạch, xin Thủ tướng cho biết vai trò trách nhiệm của Thủ tướng và thường trực Chính phủ nói chung trong việc phê chuẩn các quy hoạch, chỉ đạo liên ngành triển khai các quy hoạch, và trong việc rà soát điều chỉnh các quy hoạch thiếu tính dự báo, kém hiệu quả, chậm tiến độ hiện nay?

Cho đến thời điểm này, rất tiếc là đất nước ta chưa có một quy hoạch đặc biệt quan trọng, là quy hoạch cái, quy hoạch rường cột, quyết định chất lượng các quy hoạch khác. Đó là quy hoạch nguồn nhân lực quốc gia, vì con người là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Xin thủ tướng cho biết bao giờ có quy hoạch nguôn nhân lực quốc gia 2011 - 2020, và tầm nhìn xa hơn. Thủ tướng chỉ đạo xây dựng quy hoạch này thế nào?

Đã kiểm điểm nghiêm túc chưa?

ĐB Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn): Về trách nhiệm trong vụ việc Vinashin, trong báo cáo đọc trước Quốc hội sáng 19/10 vừa qua, Thủ tướng có xác định thực trạng này có trách nhiệm của Chính phủ, của các bộ liên quan và Chính phủ đã nghiêm túc kiểm điểm. Tiếp sau, Chính phủ đã gửi hai báo cáo liên tiếp cho Quốc hội.

Các thành viên Chính phủ đã lần lượt giải trình và trả lời chất vấn trước Quốc hội nhưng chúng tôi thấy, thứ nhất là cả hai báo cáo đều không chỉ rõ ngoài lãnh đạo Vinashin, những ai chịu trách nhiệm cụ thể về việc đổ vỡ của Vinashin.

ĐB Nguyễn Minh Thuyết đề nghị làm rõ trách nhiệm cá nhân Thủ tướng với Vinashin, không chỉ với tư cách người đứng đầu Chính phủ.
Thứ hai, tất cả các thành viên Chính phủ trong giải trình và trả lời chất vấn đều không thừa nhận trách nhiệm của mình trong vụ việc này.

Hôm nay, Thủ tướng nói "Là người đứng đầu Chính phủ, tôi xin nhận trách nhiệm về những hạn chế, yếu kém nêu trên của Chính phủ". Tôi thấy, tôi không hiểu là Chính phủ đã nghiêm túc kiểm điểm như thế nào vì cả những dẫn chứng mà chúng tôi đã nêu ra?

Riêng hôm nay tôi không nói về trách nhiệm của các Bộ nữa, tôi chỉ nói trách nhiệm của Thủ tướng. Thủ tướng có nhận trách nhiệm cá nhân nhưng với tư cách người đứng đầu Chính phủ. Nhưng theo tôi hiểu ở đây chủ yếu là trách nhiệm của người được pháp luật giao thực hiện quyền chủ sở hữu ở các Tập đoàn và Tổng công ty 91 của Nhà nước. Trong quá trình thực hiện quyền hành có rất nhiều sai phạm xảy ra.

Những vấn đề về cấp vốn .v.v tôi không bàn nữa. Tôi chỉ nói một sai phạm, vi phạm luật đó là điều 33 Luật Doanh nghiệp Nhà nước quy định: "Chủ tịch HĐQT không kiêm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc công ty". Nhưng Thủ tướng là người ký quyết định để cho ông Phạm Thanh Bình vừa là Chủ tịch HĐQT, vừa là Tổng giám đốc công ty thì giải thích chuyện này như thế nào?

Nghị định 132 năm 2005 quy định cho người đại diện chủ sở hữu thực hiện tới 10 quyền tại các Tập đoàn, Tổng công ty. Nhưng khoản 4, điều 4 Nghị định trên cũng quy định chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi quyết định dự án đầu tư phê duyệt chủ trương mua bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê theo thẩm quyền. Tôi nghĩ Thủ tướng nên dựa vào các quyết định của pháp luật để xác định trách nhiệm cụ thể của mình.

Tôi được biết hiện nay, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các thành viên khác của Chính phủ đang kiểm điểm trước Ủy ban Kiểm tra Trung ương như Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã nói hôm qua. Nhưng đây là Quốc, hội trả lời trực tiếp trước dân, chúng tôi mong đợi sự tự phê bình mạnh mẽ hơn của Chính phủ.

Chúng ta đang học Bác Hồ, tôi xin phép dẫn một câu của Bác Hồ: "Một Đảng mà dấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng, một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm mọi cách sửa chữa khuyết điểm đó, như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính". Tôi chỉ mong các đồng chí trong Chính phủ kiểm điểm nghiêm túc theo đúng tinh thần của Bác Hồ, theo đúng pháp luật của Nhà nước.

Ai chỉ đạo đăng bài công kích đại biểu?

Câu hỏi 2: Xin Thủ tướng cho biết ai đã chỉ đạo đăng tải một số bài công kích, chụp mũ đại biểu Quốc hội ở trên website Chính phủ? Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, việc Chính phủ để đăng tải những ý kiến như vậy ở trên website của mình có phải là hành động khôn ngoan không, có để cho dân thắc mắc về thái độ tự phê bình của Chính phủ? Có để người ngoài lợi dụng không?

Để khỏi hiểu lầm, tôi xin khẳng định như thế này: Tôi cũng như các đại biểu QH khác rất hoan nghênh ý kiến phê bình của cử tri đối với chúng tôi, sự giám sát của cử tri đối với chúng tôi. Nhưng mà những sự phê bình đó phải dựa trên sự hiểu biết pháp luật, hiểu biết chức năng của Quốc hội, chức năng của đại biểu Quốc hội, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và nó phải tranh luận cụ thể vào các vấn đề, chứ không thể phát biểu theo kiểu chụp mũ và tôi cho rằng, việc đăng những bài như thế trên website Chính phủ là không đúng chỗ. Xin cảm ơn Thủ tướng.

Tái cơ cấu đúng luật

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Tôi xin lần lượt trả lời những câu hỏi chất vấn của các đồng chí, các vị đại biểu.

Trước hết là đề án tái cơ cấu của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin. Chúng tôi đã thực hiện thành lập Ban chỉ đạo liên ngành nhiều cơ quan để cùng Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam xây dựng đề án tái cơ cấu. Qua nhiều lần thảo luận Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án đó.

Chúng tôi thấy rằng đề án đó là khả thi nhưng từ đề án đến thực hiện trở thành hiện thực là còn một quá trình đòi hỏi sự tập trung chỉ đạo một cách quyết liệt cụ thể.

Trong quá trình thực hiện đề án này, một nguyên tắc đặt ra là phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, đúng chủ trương của Đảng, chúng tôi sẽ kiên trì thực hiện theo quy trình đó.

Chúng tôi đã nói rõ trên phần trình bày của mình là thực hiện đề án này còn rất khó khăn, rất mong các vị đại biểu Quốc hội chia sẻ, ủng hộ, giám sát, rất mong nhân dân ủng hộ, giám sát.

Dù khó khăn nhưng đề án là khả thi và triển vọng, thực hiện nó là thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Nội dung cụ thể như thế nào để trả được nợ, chúng tôi sẵn sàng trình bày, Ban chỉ đạo, Hội đồng quản trị Tập đoàn sẽ sẵn sàng trình bày để đại biểu Loan góp ý kiến. Ở đây tôi không thể trình bày cụ thể làm chiếc tàu nào, lãi bao nhiêu, trả nợ năm nào bao nhiêu. Tôi không làm được điều đó, xin các đồng chí thông cảm cho.

Tóm lại, chúng tôi xây dựng đề án tái cơ cấu này với các mục tiêu đã trình bày với Quốc hội là thực hiện nghiêm túc theo Kết luận của Bộ Chính trị và chúng tôi thấy là khả thi. Nhưng từ đề án cho tới hiện thực là một quá trình, một sự nỗ lực cố gắng còn rất nhiều khó khăn và chúng tôi sẽ thực hiện theo đúng pháp luật.

Thủ tướng nhận trách nhiệm cá nhân với Vinashin

Câu hỏi thứ hai, xung quanh ý kiến của đại biểu Thuyết và ĐB Loan đã nêu về trách nhiệm như thế nào trong vấn đề này.Như tôi đã trình bày, theo tôi là nghiêm túc trước Quốc hội. Tôi xin được nói lại: Việc cố ý làm trái của những người lãnh đạo tại tập đoàn, cơ quan chức năng xử lý theo đúng pháp luật, còn Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm trong quản lý và quản lý của sở hữu đã nói rõ trong Báo cáo của mình.

Là người đứng đầu, tôi nhận trách nhiệm đó.

Tôi cũng nói rõ hơn, Thủ tướng, Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, các thành viên Chính phủ có liên quan đến việc quản lý Nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với vấn đề này đang kiểm điểm để làm rõ trách nhiệm.

Kết luận kiểm điểm như thế nào, trách nhiệm cụ thể như thế nào chúng tôi sẽ công khai.

Quản lý với DNNN còn kẽ hở

ĐB Thuyết có nói là trách nhiệm của Thủ tướng là người được giao tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu. Đúng là luật có giao như thế, giao Chính phủ và Thủ tướng là người đứng đầu, quy định tổ chức để thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước.

Chính phủ đã ban hành một số nghị định để cụ thể hóa việc tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với các Tập đoàn kinh tế, đối với các Tổng công ty nhà nước. Trong đó, đặc điểm mới của việc tổ chức quyền đại diện chủ sở hữu đối với tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Cái mới đó là tổ chức thực hiện không có bộ chủ quản như trước và đã phân công, đã làm rõ là hội đồng quản trị là cơ quan, là tổ chức đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp.

Các bộ, bộ quản lý ngành và bộ quản lý tổng hợp được phân công, được giao một số nhiệm vụ cụ thể để thực hiện quyền chủ sở hữu, Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm đối với mấy việc.

Một là ra quyết định thành lập doanh nghiệp, ra quyết định thành lập Tập đoàn, thành lập các Tổng công ty theo đề nghị của các cơ quan chức năng với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng.

Thứ hai là phê duyệt chiến lược quy hoạch phát triển.

Thứ ba quyết định Chủ tịch Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị với tư cách là cử cán bộ công chức để thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp trong nhiều năm qua thì Chính phủ đã triển khai thực hiện theo tinh thần đó.

Ngay trong Báo cáo chúng tôi cũng nói là tuy đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện thể chế.

Như vậy từ năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 7 nghị quyết, 69 nghị định, 27 quyết định, 13 chỉ thị và nhiều văn bản điều hành liên quan đến quản lý đối với doanh nghiệp Nhà nước.

Đã có nhiều cố gắng cũng có bước tiến, nhưng cũng nghiêm túc nhìn nhận là thể chế, cơ chế quản lý Nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với đầu tư, đối với sử dụng vốn, đối với thanh tra, đối với giám sát, kiểm tra, thanh tra còn nhiều bất cập, lúng túng, có những kẽ hở.

Chúng tôi cũng nghiêm túc nhìn nhận trách nhiệm đó. Chúng tôi đã thấy vấn đề và sẽ tiếp tục hoàn thiện.

Thể chế mô hình Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình hoàn thiện, một mô hình chưa có sẵn. Dù đã hết sức cố gắng nhưng tới giờ này chúng tôi vẫn còn thấy những bất cập lúng túng.

Ví dụ ở đây có một số đại biểu nói với tôi rằng tại sao Thủ tướng không lập bộ quản lý đi, một bộ quản lý chuyên doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn này. Tôi có thảo luận trong thường trực Chính phủ, trong Chính phủ và nhiều ý kiến thấy rằng lập một bộ như thế này không biết quản lý như thế nào.

Đương nhiên chúng tôi cũng đang tìm tòi thảo luận tiếp để ngày càng hoàn thiện thể chế, cơ chế quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty nhà nước.

Sẽ kiểm điểm trách nhiệm việc bổ nhiệm ông Phạm Thanh Bình

Về việc bổ nhiệm Chủ tịch hội đồng quản trị. Đúng là với chức năng của mình tôi có quyết định Chủ tịch hội đồng quản trị, nhưng sự việc là từ năm 1996 khi lập Tổng công ty tàu thủy Việt Nam thì Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã quyết định anh Phạm Thanh Bình làm Tổng giám đốc Tổng công ty tàu thủy Việt Nam, Tổng công ty 91.

Từ năm 1996 đến năm 1999, Thủ tướng Phan Văn Khải đã quyết định lấy anh Bình làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty tàu thủy Vinashin từ năm 1999.

Đến khi hình thành tập đoàn Vinashin trên cơ sở Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam này, lúc đó chính tôi cũng nhắc bằng công văn và có chỉ thị yêu cầu các cơ quan chức năng và tập đoàn phải tìm Tổng giám đốc để thực hiện theo đúng quy định. Nhưng đến khi thành lập Tập đoàn rồi thì phải bổ nhiệm Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc mà chưa tìm được người.

Chúng ta đã dự định thí điểm thuê Tổng GĐ nên xin với Thủ tướng là nên tiếp tục bổ nhiệm anh này làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc đến khi có thực hiện được Tổng giám đốc mới.

Việc này chính tôi và Ban cán sự Đảng, Chính phủ đồng ý (lúc đó tôi còn làm Phó Thủ tướng).

Đó là một việc, một thí điểm kéo dài, bắt đầu từ năm 1999. Chúng tôi sẽ kiểm điểm rõ việc này, trách nhiệm như thế nào, tôi xin trình bày rõ với các đồng chí như vậy.

Làm đúng chủ trương, pháp luật

Về việc có tái cơ cấu các tập đoàn khác hay không, tôi không dùng từ là tái cơ cấu tất cả các tập đoàn. Tôi có nêu là quyết tâm của Chính phủ là thực hiện thành công đề án tái cơ cấu Tập đoàn Vinashin, đồng thời Chính phủ quyết tâm không để xảy ra tình trạng tương tự như Vinashin. Chúng tôi sẽ có những việc làm của mình để không còn những việc đó.

Đối với Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, theo Báo cáo của Bộ Tài chính và các bộ chức năng là đang hoạt động có hiệu quả, hoạt động tốt.

Đương nhiên chúng tôi cũng yêu cầu các cơ quan chức năng, hội đồng quản trị rà soát lại, điều chỉnh lại sau khi có sự việc của Vinashin, sau khi có đánh giá chung về những mặt được, chưa được của các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty nhà nước và có kết luận chỉ đạo chung của Bộ Chính trị.

Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam cũng đang rà soát để chấn chỉnh, làm sao tiếp tục phát huy tốt, hiệu quả ngăn ngừa những yếu kém có thể xảy ra.

Việc 50% để lại cho dầu khí, tôi xin nói ngắn gọn, việc này Chính phủ làm đúng theo chủ trương của Đảng và pháp luật Nhà nước


Vấn đề Tập đoàn dầu khí có liên doanh với một Tập đoàn dầu khí của quốc gia Venezuala, đây có chủ trương của Chính phủ và đồng chí Tổng Bí thư, đồng chí Chủ tịch nước cũng đã có thảo luận với Tổng thống Venezuela về chủ trương này.

Chúng ta thiếu năng lực, chúng ta phải tìm kiếm các nguồn năng lượng, để cùng với năng lượng của chúng ta để đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước. Ta chủ trương để Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam tìm kiếm ra nước ngoài đầu tư để có thêm nguồn dầu, có thêm nguồn năng lượng. Đó là một chủ trương đúng.

Gếng dầu đầu tiên mà chúng ta liên doanh đã có dầu đó là ở Liên bang Nga, khi có dòng dầu thì đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng đến đó, đến tận bên giếng dầu để chúc mừng và Tổng thống Medvedev sang thăm gặp tôi khi trao đổi ý kiến cũng đánh giá cao việc này.

Chính phủ sẽ làm hết sức để cho có hiệu quả. Chúng tôi sẽ làm đúng chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Có lẽ tôi nói như thế là tôi nghiêm túc không có cách nào khác phải làm nhưng mà làm đúng pháp luật, đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thí điểm có thể không thành công

Còn việc đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 về đổi mới phát triển doanh nghiệp Nhà nước thì trong đó Trung ương 3 và Đại hội X cũng có nêu là thí điểm một số tập đoàn kinh tế thực hiện kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trong đó có ngành kinh doanh chính thì Chính phủ cũng triển khai thực hiện mô hình này.

Thí điểm thì cũng có thể thành công, cũng có thể không thành công. Khi nói thí điểm là chúng tôi đã nghĩ ra, đã thấy điều đó. Như vậy 8 tập đoàn kinh tế và nhiều tổng công ty đã thực hiện theo mô hình này hầu hết là thành công.

Đương nhiên trong mô hình này có cái cần phải điều chỉnh, chúng tôi đã sơ kết, báo cáo Bộ Chính trị. Bộ Chính trị đã có kết luận chỉ đạo phát huy cái tốt, cái hiệu quả, chấn chỉnh, khắc phục những cái bộc lộ sơ hở, yếu kém để chúng ta làm tốt hơn. Chúng tôi đã có sơ kết và đã có báo cáo và đang triển khai, hoàn thiện.

Tôi xin nói rõ là đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng có ngành chính. Ngoài cái ngành đó, đa lĩnh vực đó cũng chính là những ngành gắn kết, phục vụ cho ngành chính thì đang chấn chỉnh theo hướng này.

"Không chỉ đạo, quản lý trực tiếp tờ báo nào"

Về câu hỏi của ĐB Thuyết liên quan đến bài viết trên website Chính phủ, là Thủ tướng Chính phủ, tôi thường xuyên quan tâm chỉ đạo báo chí, chỉ đạo qua các cơ quan chủ quản, qua các cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về báo chí với tinh thần báo chí VN thực hiện đúng chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước, làm tốt vai trò của báo chí cách mạng. Mỗi tờ báo phải là một ngọn cờ chiến đấu để xây dựng đất nước VN XHCN dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình. Phải làm đúng tôn chỉ mục đích, làm đúng pháp luật. Tôi thường xuyên chỉ đạo tinh thần đó.

Tôi không có chỉ đạo trực tiếp hay quản lý trực tiếp một tờ báo nào.

Website Chính phủ có chức năng là một tờ báo điện tử, thuộc văn phòng Chính phủ, do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chỉ đạo. Website là tờ báo điện tử Chính phủ phải thực hiện đúng quy định của pháp luật Nhà nước, đúng chủ trương của Đảng. Cũng như mọi tờ báo khác, nếu đăng tải sai pháp pháp luật, sai chủ trương của Đảng thì phải chịu trách nhiệm về việc đăng tải của mình.

Việc nói khôn ngoan hay không khôn ngoan tôi không biết nên nói thế nào. Từ tiêu chí yêu cầu, làm đúng pháp luật, tôi cũng đề nghị ĐB Thuyết xem xét theo đúng pháp luật hay không, đúng chủ trương của Đảng hay không.

Quy hoạch yếu kém có trách nhiệm của Thủ tướng

Về câu hỏi của ĐB Tiến, công tác quy hoạch kinh tế - xã hội và quy hoạch chuyên ngành của ta đều đã có bước tiến dài, nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Đúng là chất lượng, hiệu quả, tính pháp lý của quy hoạch còn nhiều điểm phải nâng lên. Chính phủ hết sức quan tâm và cố gắng làm tốt hơn công tác quy hoạch.

Còn về quy hoạch nguồn nhân lực, tôi có chỉ đạo việc này. Nhưng để quy hoạch nguồn nhân lực cho đất nước trong giai đoạn xây dựng nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì chưa làm được.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân có đề xuất với tôi là sẽ chỉ đạo xây dựng quy hoạch nguồn nhân lực theo từng ngành, từng lĩnh vực rồi tổng hợp lại. Hiện cũng đang thực hiện theo hướng đó, và đã làm quy hoạch một số ngành.

ĐB Tiến có hỏi trách nhiệm quy hoạch yếu kém thuộc về ai, thì tôi xin trả lời là theo phân công chức năng nhiệm vụ, có trách nhiệm người đứng đầu chính phủ.

9h30 Quốc hội nghỉ giải lao. Đến 10h, Quốc hội tiếp tục làm việc.

Blog Beo

MÓN SANG TRỌNG

Đăng ngày: 13:03 24-11-2010
Thư mục: Tổng hợp

Khó có thể trách báo chí khi nguyên kỳ họp quốc hội chỉ chăm chăm vào vinashin bauxite hay tàu cao tốc, vì như có lần Beo đã nói, báo chí tuyệt đại đa số chỉ phục vụ cho người đọc thành phố, các thượng đế muốn được hầu những món sang trọng đó, thì phải chiều. Riêng Beo, nhăm nhăm vào coi chỗ nào người ta héo lánh đoái hoài đến người nông dân.

Phiên chất vấn hôm qua có một câu hỏi rất hay hok nhớ tên người hỏi vì tàng hình lướt nhanh quá. Ông đặt vấn đề các chính sách đường hướng của chính phủ với tình trạng tái diễn nhiều năm nay được mùa mất giá được giá mất mùa của ngừơi nông dân. Cách trả lời qua quýt của BT tài chính mà dính vào mấy món sang trọng trên kia, hôm nay hẳn no đòn với báo chí rồi chứ chẳng rơi vào thinh không như thế.

Nhiệm kỳ đầu, bác Khỏe đi tỉnh nào cũng đặt vấn đề chúng ta phải trồng cây gì nuôi con gì, rồi lửng câu trả lời. Và nông dân, hết bán tháo basa nuôi lóc rồi lại bán đổ lóc nuôi basa, chặt bằng sạch tiêu trồng càphê rồi lại đốn hết càphê trồng tiêu, y như con kiến leo cành đa… Một rừng cục vụ viện khoa học nông nghiệp nhưng loại bưởi hạng nhất thuần chủng Việt do ăn may mà có, được chiết ra từ một cây tổ vườn nhà tự dưng ra trái ngon đột xuất. Những năm 90, người Thái đã ý thức rất cao và thành công trong khoa học nông nghiệp khi lai tạo ra nhiều loại giống cây trồng với sản lượng và chất lượng mà, cho đến thời điểm hiện nay, 20 năm sau nông nghiệp Việt vẫn chưa đuổi kịp. Sau hai nhiệm kỳ, nông dân Việt vẫn chỉ trông mong trồng cây tài mà nuôi con ca ve, để đổi đời.

Phiên chất vấn thủ tướng sáng nay, Beo cứ chờ hoài xem có ai đặt câu hỏi, non hai tháng nữa hết nhiệm kỳ chính phủ, ông và bầu đoàn của ông đã làm được những gì cho người nông dân bớt khổ. Lại vẫn lặp đi lặp lại (như vẹt) những câu đã chất vấn nát ra ngày hôm qua về dăm món sang trọng. Chỉ thêm ông Lạng sơn hỏi ông Nghìn cân có khôn ngoan không về một bài đăng trên web chính phủ. Rồi ông kia bốp phát giữa mồm, đúng hay sai luật chứ déll có loại đánh giá khôn hay ngu nơi chính trừơng.

Nông dân thấp cổ bé họng thế, chắc khó có nổi âm lượng đang xoe xoé, vang vang bàn tính về những món sang trọng. Beo thấy nó giống cảnh tấp nập dọn cỗ chuẩn bị cho mùa cúng giỗ mới, hơn là lưu tâm để mắt tới đám đông bập bênh sống giữa chuẩn đói hay đủ ăn, bên rìa mâm cỗ.

Tuesday, 23 November 2010

Vụ Vinashin: những con số sai biệt quá lớnvi


Đăng bởi bvnpost on 23/11/2010

Nguyễn Vạn Phú

Một trừ một bằng hai

clip_image001

Một ngày sau khi Thủ tướng ký quyết định phê duyệt đề án tái cơ cấu Vinashin, tui đọc báo Tuổi trẻ thấy Vinashin họp báo đưa kế hoạch phục hồi trong hai năm. Nói thiệt tui thấy lo lo, nó có vẻ viển vông thế nào. Nhưng thôi, cái ni để các nhà kinh tế người ta phân tích, nói ra rồi có người lại bảo tui hay đâm bị thóc chọc bị gạo, khổ lắm.

Đến cái đoạn ông Sự (Nguyễn Ngọc Sự, Chủ tịch HĐTV Vinashin) tính toán việc trừ nợ thì tui hơi bị giật mình. Ông nói “Theo lộ trình nợ sẽ giảm từ hơn 83.000 tỉ đồng xuống hơn 63.000 tỉ đồng. Chúng tôi sẽ sắp xếp 216 doanh nghiệp nữa, giá các dự án của các doanh nghiệp này như đất đai, khu công nghiệp… là hơn 23.000 tỉ đồng, trong đó nhiều dự án hiện rất có tiềm năng. Nếu thị trường tốt thì tôi nghĩ rằng Vinashin sẽ bán được các dự án này ít nhất bằng giá đầu tư ban đầu.

Cứ cho rằng chỉ bán được bằng giá đầu tư thì chúng tôi sẽ thu được 23.000 tỉ đồng, như vậy tổng số nợ xuống còn hơn 40.000 tỉ đồng”.

Tui không biết bằng cách nào ông Sự giảm đựơc 20 chục nghìn tỉ, từ 83 nghìn xuống 63 nghìn, nhưng tui biết chắc bài toán trừ của ông Sự về việc giảm 23 nghìn tỉ, từ 63 nghìn xuống 40 nghìn, là sai bét.

Tui nói nôm na như ri: Tui có 216 đứa con. Tui vay ngân hàng 23 nghìn tỉ để làm cho chúng nó 216 cái nhà (gọi là tiền đầu tư). Đến khi chúng nó làm ăn thua lỗ, bèn bán nhà để trả nợ. Thế thì chúng nó chỉ trả được nợ của chúng nó thôi, còn tiền tui nợ ngân hàng để mua nhà cho chúng nó (tức tiền đầu tư) thì vẫn còn nguyên đó. Nghĩa là 23 nghìn tỉ nợ ngân hàng vẫn còn nguyên đó chứ lấy đâu ra mà ông Sự tính khấu trừ? Phép trừ của ông Sự gọi là phép một trừ một bằng một.

Là nói cho vui thôi chứ tui nghĩ 216 công ty kia bán được 23 nghìn tỉ thì trời sập cái đoàng. Khéo không lại bốc gạo trong nồi trả lại cho bồ, lấy tiền Nhà nước mua doanh nghiệp nhà nước, lấy tiền mình mua lại nhà mình vậy. Nếu bán kiểu đó thì mau bù được nợ lắm nhưng chỉ bù nợ trên giấy tờ sổ sách thôi, còn trong ngân hàng mình lại cộng thêm một cục nợ nữa. Phép trừ ni gọi là phép một trừ một bằng hai. Lo lắm lo lắm, hu hu.

Thôi thôi, tui không dám nói nữa, mời bà con đọc bài của Nguyễn Vạn Phú, ông ni về kinh tế bảo đảm cực giỏi.

Nguyễn Quang Lập, Blog Quê Choa


clip_image002

Sai biệt quá lớn

Nguyễn Vạn Phú

Đọc bản tin “Vinashin cần 2 năm để phục hồi” trên báo Tuổi Trẻ, thấy các con số sao không khớp nhau mà không thấy ai giải thích.

Ví dụ, trong ô “Tình hình tài chính của Vinashin”, báo viết theo nguồn báo cáo của Bộ Giao thông – Vận tải như thế này:

* Đến 30-6-2010:

- Tập đoàn có 289 công ty.
- Tổng tài sản: 104.649 tỉ đồng.
- Tổng nợ phải trả: 86.565 tỉ đồng.
- Vốn chủ sở hữu: 8.034 tỉ đồng.

* Sau tái cấu trúc đợt 1 (đến 30-8-2010):

- Tập đoàn còn lại 259 công ty.
- Tổng tài sản: 95.672 tỉ đồng.
- Tổng nợ phải trả: 76.241 tỉ đồng.
- Vốn chủ sở hữu: 9.615 tỉ đồng (trong đó tính cả phần cấp bổ sung tháng 10-2010 là 2.500 tỉ đồng).

* Sau tái cấu trúc tổng thể (bước 2):

- Tổng số doanh nghiệp còn lại là 43 công ty.
- Tổng tài sản: 68.234 tỉ đồng.
- Tổng nợ phải trả: 53.054 tỉ đồng.
- Vốn chủ sở hữu thực có: 9.615 tỉ đồng (theo đăng ký kinh doanh hiện tại là 14.655 tỉ đồng).

Theo nguyên tắc, tài sản bằng nợ cộng với vốn. Nhưng ở phần đầu (đoạn đến 30-6-2010), nợ cộng với vốn mới bằng 94.599 tỷ đồng, trong khi tổng tài sản là 104.649 tỷ đồng, không biết còn 10.050 tỷ đồng biến đâu mất?

Sau tái cấu trúc đợt 1 (đoạn đến 30-8-2010), một lần nữa, nợ cộng với vốn, kể cả phần cấp vốn bổ sung, là 85.856 tỷ đồng, cũng còn gần 10.000 tỷ đồng không thấy liệt kê ra vào khoản mục nào.

Lại nữa, Chủ tịch HĐTV Vinashin Nguyễn Ngọc Sự nói: “Sau khi chúng tôi bàn giao một số đơn vị cho bên dầu khí và hàng hải thì tổng số nợ chúng tôi giảm xuống. Theo lộ trình nợ sẽ giảm từ hơn 83.000 tỉ đồng xuống hơn 63.000 tỉ đồng”. Ở trên chúng ta đều thấy sau tái cấu trúc đợt 1, tổng nợ phải trả là 76.241 tỷ đồng, ở đây ông Sự nói còn 63.000 tỷ đồng. Vì sao có sự chênh lệch này?

Chính Tuổi Trẻ cũng đặt câu hỏi: “Theo báo cáo của Vinashin, sau khi chuyển giao tài sản cho Tập đoàn Dầu khí VN (PVN) và Vinalines, tổng tài sản và tổng nợ Vinashin đều giảm cỡ 10.000 tỉ đồng. Chẳng lẽ toàn bộ các dự án bàn giao, cộng tàu Hoa Sen chỉ đáng 10.000 tỉ đồng?” Ông Sự khi trả lời câu hỏi này cũng không đính chính con số 10.000 tỷ đồng. Vậy sao trước đó ông nói việc chuyển giao như thế giảm 20.000 tỷ đồng nợ?

Tổng số nợ sau khi tái cấu trúc đợt 2 là 53.054 tỷ đồng, sao ông Sự nói “tổng số nợ xuống còn hơn 40 .000 tỉ đồng” và cũng không thấy các báo hỏi cho rõ.

Tôi dò lại trên trang web của Chính phủ, cũng thấy ghi: “Ông Nguyễn Ngọc Sự cho biết thêm, dự kiến mô hình tổ chức của Tập đoàn sau tái cơ cấu được sắp xếp như sau: Số DN còn lại là 43 công ty; tổng số lao động theo mô hình tổ chức mới là 29.660 người; tổng tài sản: 68.234 tỷ đồng; tổng số nợ phải trả là: 53.054 tỷ đồng.” Xuống dưới cũng ông Sự cho biết: “Đồng thời, sau khi sắp xếp 216 DN hiệu quả thì tổng số nợ tiếp tục giảm xuống còn trên 40.000 tỷ đồng”. Lạ quá, không hiểu nổi.

Còn thêm điều này nữa. Ông Sự nói: “Chúng tôi sẽ sắp xếp 216 doanh nghiệp nữa, giá các dự án của các doanh nghiệp này như đất đai, khu công nghiệp… là hơn 23.000 tỉ đồng, trong đó nhiều dự án hiện rất có tiềm năng. Nếu thị trường tốt thì tôi nghĩ rằng Vinashin sẽ bán được các dự án này ít nhất bằng giá đầu tư ban đầu.

Cứ cho rằng chỉ bán được bằng giá đầu tư thì chúng tôi sẽ thu được 23.000 tỉ đồng, như vậy tổng số nợ xuống còn hơn 40.000 tỉ đồng”.

Lập luận này quá lạ. Bởi vì khi chuyển đi 216 doanh nghiệp ở đợt 2 thì Vinashin đã giảm được 23.000 tỷ đồng tiền nợ, tức là số nợ này do 216 doanh nghiệp này gánh. Giả thử bán được 216 doanh nghiệp này thu về đúng 23.000 tỷ đồng thì vừa đủ để trả nợ của 216 doanh nghiệp mà Vinashin đã dứt gánh sau đợt 2. Lấy đâu ra 23.000 tỷ đồng để trừ nợ chung cho Vinashin thêm một lần nữa xuống còn 40.000 tỷ đồng?

N. V. P.

Nguồn: Blog Nguyễn Vạn Phú

Thư của Luật sư Trần Vũ Hải gửi Giáo sư đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết

Đăng bởi bvnpost on 23/11/2010

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TRẦN VŨ HẢI

Trụ sở: 81 Phố Chùa Láng, P. Láng Thượng, Q. Đống Đa, TP. Hà Nội

Tel: 04.37754788 – 37754789

Fax: 04.38352455

Email: hanoilaw@fpt.vn

Chi nhánh: 227 Hùng Vương, Phường 9, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh

Tel: 08.22103179 – 08.22103180

Fax: 08.38354926

Email: hanoilaw@vnn.vn

TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2010

Kính gửi: Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – Đại biểu Quốc hội.


Chúng tôi hoan nghênh Giáo sư đã chất vấn Chính phủ về vụ việc Vinashin. Với tư cách cử tri, chúng tôi đề nghị Giáo sư yêu cầu Chính phủ và các cơ quan liên quan trả lời rõ các vấn đề sau:

  1. Công bố chi tiết về công nợ của Vinashin:

Việc công bố chi tiết, chính xác, có trách nhiệm của Chính phủ là cần thiết vì hiện có nhiều thông tin khác nhau về nợ của Vinashin:

a) Theo báo cáo kiểm toán của Công ty kiểm toán KPMG, Vinashin nợ khoảng 96.000 tỷ đồng (chưa tính hết, vì chưa cập nhật hết thông tin).

b) Theo Bộ Tài chính, Vinashin nợ khoảng 86.000 tỷ đồng.

c) Theo ông Lê Quang Bình, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dư nợ của Vinashin lên tới 120.000 tỷ đồng.

d) Theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, có nhiều ngân hàng đề nghị Vinashin xác nhận dư nợ nhưng Vinashin không xác nhận. Như vậy có khả năng nhiều khoản nợ đã không được cập nhật đầy đủ.

e) Tháng 7/2010, khi kiểm tra đảng bộ Vinashin, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng công bố nợ khoảng 80.000 tỷ đồng.

Chúng tôi đề nghị Quốc hội yêu cầu Chính phủ công bố chi tiết nợ của Vinashin vào thời điểm 30/6/2010, trong đó cần xác định rõ những dữ liệu sau:

i) Tổng số nợ của Vinashin là bao nhiêu đồng Việt Nam (đối với khoản nợ nội tệ), và bao nhiêu USD (đối với khoản nợ ngoại tệ), quy đổi ra tiền Việt tại thời điểm công bố là bao nhiêu tiền Việt Nam.

ii) Tổng số nợ của Vinashin đối với ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng và nợ trái phiếu là bao nhiêu (sau đây gọi là Nợ Vay).

iii) Trong tổng số Nợ Vay, Chính phủ bảo lãnh hoặc có trách nhiệm trực tiếp bao nhiêu?

iv) Trong tổng số Nợ Vay, có bao nhiêu là nợ nước ngoài?

v) Trong tổng số Nợ Vay, có bao nhiêu đã quá hạn tại thời điểm 30/6/2010, có bao nhiêu đến hạn trước 31/12/2010?

vi) Ngoài khoản Nợ Vay, các khoản nợ khác có giá trị bao nhiêu. Nêu chi tiết các khoản nợ đối với đối tác, khách hàng, người lao động, bảo hiểm xã hội, thuế và các nợ khác?

vii) Ngoài ra, dự kiến nợ phát sinh thêm đến 31/12/2010 là bao nhiêu do phải tính lãi Nợ Vay? (trong điều kiện không khoanh nợ, không làm thủ tục phá sản)

  1. Xác định trách nhiệm quản lý, giám sát khoản Chính phủ cho Vinashin vay 750 triệu USD từ khoản thu được do phát hành trái phiếu Quốc tế năm 2005.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia tài chính, pháp lý, sự sụp đổ của Vinashin bắt đầu từ việc Chính phủ ưu ái cho Vinashin sử dụng khoản tiền này mà không có quy chế quản lý, giám sát thích hợp. Chúng tôi đề nghị Bộ Tài chính công bố các thông tin sau:

a) Khi cho Vinashin vay khoản tiền này, có Hợp đồng ủy thác không? Có ban hành quy chế sử dụng, quản lý, giám sát khoản vay này không? Trong trường hợp có, công bố cho cử tri được biết nội dung những tài liệu này.

b) Bộ Tài chính có trách nhiệm giám sát việc quản lý và sử dụng khoản vay trên không? Bộ Tài chính phát hiện khoản vay này được sử dụng không đúng phương án ban đầu từ khi nào? Khi phát hiện Vinashin sử dụng sai, Bộ Tài chính có tham mưu tiếp cho Chính phủ bảo lãnh cho Vinashin phát hành trái phiếu hoặc cho phép Vinashin tiếp tục vay thêm hàng chục ngàn tỷ đồng không?

c) Theo Điều 1 Khoản 7c Quyết định 104/2006/QĐ-TTg ngày 15/5/2006, Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn (kể cả vốn trái phiếu Chính phủ) của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam; đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam;

Phê duyệt quy chế tài chính Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam theo đề nghị của Hội đồng quản trị tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam.

Rõ ràng, Bộ Tài chính đã không hoàn thành trách nhiệm này. Vậy ai trong số Bộ trưởng và các Thứ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trực tiếp?

Theo chúng tôi, người chịu trách nhiệm trực tiếp nếu thiếu trách nhiệm (không thực hiện những công việc trên hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn) cần phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 285 Bộ luật Hình sự (tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng). Trước mắt đề nghị người này từ chức ngay lập tức. Yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tài chính xin lỗi nhân dân cả nước vì Bộ Tài chính đã không hoàn thành trách nhiệm này.

  1. Trách nhiệm của cá nhân Thủ tướng Chính phủ đương nhiệm trong việc quản lý Tập đoàn Vinashin.

Theo Điều 1 Khoản 7a, Quyết định 104/2006/QĐ-TTg Thủ Tướng Chính phủ quyết định:

- Phê duyệt mục tiêu, chiến lược, kế hoạch dài hạn và ngành, nghề kinh doanh của Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam trên cơ sở đề nghị của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam và ý kiến của các Bộ Giao thông vận tải và Kế hoạch và Đầu tư;

- Phê duyệt điều lệ, phê duyệt sửa đổi và bổ sung điều lệ Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam theo đề nghị của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam và ý kiến của các Bộ Giao thông vận tải, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư;

- Tổ chức lại, giải thể, đa dạng hoá sở hữu Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam theo đề nghị của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam và ý kiến của các Bộ Giao thông vận tải, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư;

- Bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị là Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam theo đề nghị của Hội đồng quản trị Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, ý kiến của Bộ Giao thông vận tải và thẩm định của Bộ Nội vụ;

- Phê chuẩn bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng với Tổng giám đốc điều hành Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam theo đề nghị của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, ý kiến của Bộ Giao thông vận tải và thẩm định của Bộ Nội vụ;

- Thông qua đề án thành lập mới doanh nghiệp do Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam đầu tư 100% vốn điều lệ; việc tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể, phá sản, doanh nghiệp thành viên Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam; việc Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam tiếp nhận thành viên mới;

- Phê duyệt các dự án đầu tư của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, các dự án đầu tư ra ngoài Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật về đầu tư;

- Quyết định việc đầu tư vốn để hình thành vốn điều lệ và điều chỉnh vốn điều lệ trong quá trình hoạt động đối với Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam theo đề nghị của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam và ý kiến của các Bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông vận tải.

a) Điều lệ hoạt động của một doanh nghiệp như một Hiến Pháp đối với doanh nghiệp đó, không có Hiến Pháp loại này, tất yếu doanh nghiệp hoạt động vô Chính phủ. Việc tập đoàn Vinashin không có Điều lệ hoạt động nhưng vẫn hoạt động trong suốt 5 năm thuộc trách nhiệm của Thủ tướng không?

b) Theo Nghị định 199/2004/NĐ-Chính phủ ngày 3/12/2004 của Chính phủ Điều 13 Khoản 2, tiết a Hội đồng quản trị Công ty Nhà nước quyết định dự án đầu tư có giá trị không quá mức cao nhất của dự án nhóm B (600 tỷ đồng). Quá mức này, đại diện chủ sở hữu công ty quyết định.

Đối với trường hợp của Vinashin Thủ tướng là đại diện chủ sở hữu. Chúng tôi nhận thấy hầu hết các dự án lớn của Vinashin đều trên 600 tỷ. Như vậy, Thủ tướng cần phải phê duyệt rất nhiều dự án của Vinashin. Đề nghị Thủ tướng cho biết những dự án nào của Vinashin thuộc thẩm quyền của Thủ tướng, nhưng chưa phê duyệt vẫn được Vinashin thực hiện (ngoài dự án tàu Hoa Sen đã được dư luận biết rõ).

Dự án đầu tư tài chính của Vinashin vào Bảo Việt có trị giá gần 1.500 tỷ đồng có được Thủ tướng phê duyệt không?

Những dự án khác được Thủ tướng phê duyệt là những dự án nào? Phần lớn những dự án này được đầu tư dàn trải và không hiệu quả (do không đủ nguồn vốn, do năng lực hạn chế của Vinashin), có thuộc trách nhiệm trực tiếp của Thủ tướng không?

Những thông tin về việc Vinashin sử dụng vốn từ trái phiếu Quốc tế sai mục đích, đầu tư quá thẩm quyền (ví dụ như tàu Hoa Sen) Thủ tướng có kịp thời biết không? Khi biết rõ Vinashin làm sai, Thủ tướng có tiếp tục cho phép Vinashin huy động thêm hàng chục ngàn tỷ đồng, kể cả Chính phủ bảo lãnh trực tiếp? Thủ tướng có nhận trực tiếp trách nhiệm này không? Nếu không Phó Thủ tướng nào phải chịu trách nhiệm trực tiếp? Ngay từ tháng 4/2006, ông Hoàng Nghĩa Thức có thư cảnh báo Vinashin sẽ đầu tư trần lan sử dụng lãng phí 750 triệu USD, do các vị trí đóng tàu mới theo dự định không thuận lợi và kinh nghiệm từ những dự án đánh bắt xa bờ thất bại. Những cảnh báo này Thủ tướng có biết không (được biết ông Thức đã gửi đích danh lãnh đạo Chính phủ trong đó có Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).

  1. Có thật Vinashin vay, Vinashin trả, không ai trả thay cả? (tức Nhà Nước sẽ không phải trả thay cho Vinashin)

Ông Chủ tịch mới của Tập đoàn Vinashin đã tuyên bố như vậy trong buổi họp báo ngày 19/11/2010.

Nếu quan điểm này của ông Chủ tịch mới của Vinashin đúng, chúng tôi rất hoan nghênh. Như vậy, Nhà nước và nhân dân không cần lo lắng thêm về vì Vinashin, không cần rót vốn thêm cho Vinashin, đơn vị này sẽ tự giải quyết các khó khăn của chính mình.

Đáng tiếc, chúng tôi chưa thấy bất kỳ sự thật nào phù hợp với quan điểm này. Chúng tôi hiểu sự sụp đổ của Vinashin là do lỗi của lãnh đạo cũ của Vinashin và thiếu sót từ nhiều cơ quan chức năng, việc cứu Vinashin là tất yếu tuy chưa thể khẳng định chúng ta có cứu thành công Vinashin không và giá của cuộc giải cứu này là bao nhiêu. Lẽ ra lãnh đạo mới của Vinashin cần nhận thức rõ điều đó, tránh đưa ra những quan điểm bốc đồng, không phù hợp với thực tế hiện nay. Chúng tôi xin trao đổi một số điểm như sau:

a) Nếu Vinashin vay, Vinashin trả, không cần ai trả thay, tại sao Chính phủ phải rút 6.000 tỷ đồng từ Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển để cấp vốn thêm cho Vinashin. Nguồn vốn từ quỹ này là của các nhà đầu tư mua cổ phần từ doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa và với giá rất cao, phần lớn nhà đầu tư đã lỗ (ví dụ: tôi mua 100 cổ phần của Vietcombank đầu năm 2008 với giá 10.200.000 đồng, chênh lệch 9.200.000 đồng, Nhà nước thu về cho Qũy này. Nay 100 cổ phần này chỉ còn giá 3.100.000 đồng, tôi lỗ 7.100.000 đồng)

b) Nếu Vinashin vay, Vinashin trả, không cần ai trả thay, tại sao Tập đoàn dầu khí (PVN) và Tổng công ty Hàng hải (Vinalines) phải gánh chịu một phần nợ?

Ngày 4/8/2010, ông Tổng giám đốc Vinalines cho báo chí biết, Vinalines nhận nợ thay 14.200 tỷ đồng (cùng với việc nhận 36 tàu của Vinashin, trong đó 2/3 là quá cũ, trục trặc kỹ thuật, trong đó có con tàu Hoa Sen nổi tiếng). Vì sự tiếp nhận này một năm Vinalines có thể giảm 700 tỷ đồng lợi nhuận (tức giảm 60% lợi nhuận). Vậy Vinashin có trả cho Vinalines khoản lợi nhuận bị giảm? (kèm theo đó thuế thu nhập doanh nghiệp bị giảm).

PVN nhận nợ thay cho Vinashin khoảng 6.000 tỷ đồng (theo thông báo mới đây, khoản nợ thay này có thể lên tới 10.000 tỷ đồng). Nếu PVN không nhận thay cho Vinashin, PVN không đến nỗi phải khó khăn xin Quốc hội 3.500 tỷ đồng cấp vốn. Ai trả 3.500 tỷ đồng này để PVN nhận nợ thay cho Vinashin.

c) Nếu Vinashin vay, Vinashin trả, không cần ai trả thay, vậy Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải không cần yêu cầu Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan gia hạn thuế đến hết 2012. Nếu Vinashin không nộp thuế, Ngân sách thiếu hụt ai bù đắp? Vinashin không bị phạt thuế nộp chậm, Ngân sách mất đi một khoản phải thu theo luật ai bù đắp?

d) Nếu Vinashin vay, Vinashin trả, không cần ai trả thay, tại sao Chính phủ yêu cầu các ngân hàng trong nước khoanh nợ đối với Vinashin? Khoản vốn thiếu hụt ai bù đắp? Phải chăng để bù đắp, các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động, và các doanh nghiệp khác phải tăng chi trả vì lãi suất vay cao? Vinashin được khoanh nợ, có nghĩa không phải trả lãi, trong khi các doanh nghiệp để bù đắp cho ngân hàng phải tăng chi phí tài chính.

e) Nếu Vinashin vay, Vinashin trả, không cần ai trả thay, vậy tại sao Chính phủ phải chỉ đạo Vinalines nhận tàu của Vinashin do khách hàng không mua, trong khi ngành hàng hải Quốc tế đang khó khăn và lãi vay ngân hàng ngày càng tăng cao.

Việc Vinashin trên vực phá sản (và thực chất đã phá sản) là đã rõ, Nhà nước và nhân dân phải gánh chịu là đã rõ. Mức độ thiệt hại này thực ra chưa tính hết, ảnh hưởng của sự đổ vỡ Vinashin đến hệ thống tài chính ngân hàng chưa được đánh giá thấu đáo, gánh nặng của các doanh nghiệp nhỏ bị ảnh hưởng do nguồn vốn hạn hẹp ưu tiên giải quyết vấn đề của Vinashin, uy tín của Việt Nam bị đánh tụt khiến lãi suất huy động Quốc tế trong thời gian tới sẽ tăng, nguồn lực của nhà nước và nhân dân bỏ ra để giải cứu Vinashin dẫn đến coi nhẹ những vấn đề thiết yếu khác.

Chúng tôi không loại trừ, nếu không có giám sát chặt chẽ, sẽ có hình thức bán đất của Vinashin để giảm bớt nợ nần, một hình thức chiếm dụng giá trị tài sản công để trả giá cho những yếu kém của một số cá nhân, cơ quan chức năng.

Chúng tôi lo lắng nếu trách nhiệm của những nhà lãnh đạo không được truy cứu nghiêm túc, tất yếu sẽ dẫn đến nhiều Vinashin hơn.

Chúng tôi hy vọng Giáo sư cùng nhiều đại biểu Quốc hội khác lên tiếng, chất vấn quyết liệt để làm rõ trách nhiệm của họ, để cảnh báo nghiêm túc họ, và những cơ quan chức năng không được phép thiếu trách nhiệm, né tránh trách nhiệm trong những vấn đề quan trọng của đất nước.

Xin cảm ơn Giáo sư.

Luật sư Trần Vũ Hải

Lưu ý: Giáo sư tham khảo trường hợp cơ cấu lại của General Motor (GM). Đây là trường hợp hồi sinh từ phá sản, với các bước chính như sau:

a) Chính phủ Mỹ cho GM vay khẩn cấp.

b) Chính phủ Mỹ cho hạn 90 ngày để GM thương thuyết các chủ nợ, nếu không sẽ để phá sản.

c) Các chủ nợ không chấp nhận điều kiện của GM.

d) GM đệ đơn phá sản ngày 1/6/2009.

e) Những lĩnh vực cốt lõi của GM được giữ lại thành GM mới, với Cổ đông chính là Chính phủ Mỹ.

g) Các bộ phận khác của GM được bán.

h) Khi phá sản, GM không phải trả nợ (đặc biệt lãi suất nợ vay), chủ nợ chỉ được chia phần từ doanh thu bán các bộ phận được bán và một phần tiền của Chính phủ.

i) GM mới có Ban lãnh đạo mới, từng bước phát triển lại, trả nợ dần cho Chính phủ.

k) GM phát hành Cổ phần GM mới ra công chúng. Đích thân Tổng Thống Obama quảng bá sản phẩm mới của GM tại thị trường Châu Âu.

Lẽ ra, Chính phủ Việt Nam có thể học được một phần từ bài học cơ cấu lại GM. Tuy nhiên Chính phủ Việt Nam đã cơ cấu Vinashin bằng cách chuyển nợ cho PVN và Vinalines (tháng 7/2010, tuyên bố chuyển nợ 20.000 tỷ, nay thông báo chuyển nợ 24.000 tỷ), làm PVN và Vinalines suy yếu đi, và buộc phải chấp nhận những đòi hỏi của hai đơn vị này (như cấp vốn thêm, ưu đãi về vay thương mại, khoanh nợ,…) và bơm vốn cho Vinashin còn lại. Vinashin còn lại được bặt đèn xanh bán cơ sở sản xuất, thực chất là bán đất. Để đánh giá phương thức cơ cấu này, cần có nhóm chuyên gia, tôi sẵn sàng tham gia.

Bài được tác giả gửi trực tiếp cho BVN