Tuesday, 27 July 2010

Tin lề trái và lề phải vụ Bắc Giang

Tin lề trái và lề phải vụ Bắc Giang

Nguyễn Hùng

bbcvietnamese.com

Ảnh anh Nguyễn Văn Khương trên bàn thờ tại gia đình - ảnh do trang nuvuongcongly cung cấp

Hiện Pháp y Trung ương vẫn chưa đưa ra kết luận về cái chết của anh Khương

Vụ thanh niên 21 tuổi Nguyễn Văn Khương đột tử sau khi bị công an ở Bắc Giang bắt về đồn và cuộc tụ họp phản đối lớn 'chưa từng có' ở đây một ngày sau đó đã gây xôn xao dư luận mạng trong và ngoài nước.

Có những blog, chẳng hạn blog mang tên freelecongdinh, đã liên tục cập nhật tin bài và có những bài nhận được gần 600 bình luận trong vòng chưa đầy 24 giờ.

Trang mạng ngoài luồng nuvuongcongly.net cũng có các tin bài ở dạng tường thuật viết, hình ảnh và video.

Và không chỉ dư luận 'lề trái' mới quan tâm tới vụ này.

Tờ báo 'lề phải' VnExpress đăng lại tin chính thống của Thông tấn xã Việt Nam với tít "Sáu người bị tạm giữ trong vụ đưa quan tài lên ủy ban nhân dân tỉnh" trong ngày 27/7 và bài này cũng nằm thứ ba trong danh sách 10 bài được đọc nhiều nhất.

Trang tin Dân Trí cũng đăng lại bài của Thông tấn xã Việt Nam "Tỉnh Bắc Giang thông tin về vụ gây rối ở Ủy ban tỉnh".

Bản gốc trên trang của Thông tấn xã Việt Nam với tít "Bắc Giang sẽ sớm làm rõ cái chết của anh Khương" dẫn lời của Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Bùi Văn Hải và đưa ra quan điểm của chính quyền về những gì xảy ra.

Rất nhiều chi tiết mà "thân nhân" của anh Khương nói với báo lề trái đã không xuất hiện trong bài của hãng tin chính thức.

Tuy nhiên bài viết kết luận: "Quan điểm của tỉnh là giải quyết vụ việc đảm bảo khách quan, trung thực, nếu có vi phạm thì xử lý nghiêm trước pháp luật".

Lý giải chính thức

Bài của Thông tấn xã nói công an huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã đưa xe máy và anh Nguyễn Văn Khương vào trụ sở "để lập biên bản xử lý" sau khi anh vi phạm luật giao thông.

Vẫn theo Thông tấn xã:

"Khi ngồi trên ghế, anh Khương có biểu hiện sức khỏe không bình thường và công an đã đưa anh đi cấp cứu ở Bệnh viện huyện Tân Yên. Đến bệnh viện thì anh Khương chết."

Bản tin chính thức về cái chết của anh Khương cũng nói cơ quan Pháp y Trung ương hiện hiện chưa đưa ra kết quả khám nghiệm tử thi mặc dù bản tin nói Pháp y Trung ương đã tiến hành khám nghiệm ngay hôm 24/7.

Trong đám đông có những trường hợp quá khích kéo đổ tường rào khu cổng phụ Ủy ban Nhân dân tỉnh và ném đá vào lực lượng công an bảo vệ tại đây, gây mất trật tự khu vực này.

Thông tấn xã Việt Nam

Lý giải về cuộc tụ họp trước cửa ủy ban nhân dân tỉnh hôm 25/7 mà theo một số nguồn tin có hàng vạn người tham gia, Thông tấn xã nói:

"Đến 13 giờ ngày 25/7, gia đình tổ chức đưa anh Khương đi an táng tại nghĩa trang địa phương. Khi đưa tang, một số người quá khích đã kích động đưa xe tang lên thẳng Ủy ban Nhân dân tỉnh.

"Chính quyền và các ngành chức năng địa phương đã vận động, tuyên truyền nhưng nhiều người hiếu kỳ cùng tham gia kéo lên Ủy ban Nhân dân tỉnh.

"...Trong đám đông có những trường hợp quá khích kéo đổ tường rào khu cổng phụ Ủy ban Nhân dân tỉnh và ném đá vào lực lượng công an bảo vệ tại đây, gây mất trật tự khu vực này.

"Lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh cùng các ngành có liên quan đã trực tiếp giải thích, tuyên truyền, thuyết phục những người tham gia đám đông giải tán; đồng thời có biện pháp ngăn chặn, bắt tạm giữ sáu đối tượng quá kích có hành vi kích động gây mất trật tự trị an để điều tra làm rõ."

Thông tin lề trái

Trong lúc không một tờ báo chính thức nào, ngoại trừ Thông tấn xã, có phóng viên viết bài về vụ việc gây náo động Bắc Giang và dư luận, các trang mạng và blog bằng tiếng Việt đã liên tục cập nhật tin tức.

Trang nuvuongcongly.net xác nhận với BBC họ có phóng viên tới chụp ảnh và đưa tin.

Một video mà trang này đưa lên youtube cũng được hơn 30.000 lượt người xem.

Giải thích không chính thức là thanh niên Nguyễn Văn Khương đã bị tấn công với các vết bầm ở cổ và bàng quang bị vỡ.

Những hình ảnh và video trên mạng cũng cho thấy cuộc tụ họp trước cửa ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang hôm Chủ Nhật có một số lượng người rất lớn tham gia.

Bài viết của Song Hà trên nuvuongcongly.net trích lời một thân nhân anh Nguyễn Văn Khương nói:

"Đến 12 giờ trưa chủ nhật, quá bức xúc vì em tôi đã chết đầy bí ẩn, oan khuất và nằm đó qua hai lần mổ tử thi mà những thông tin đơn giản nhất về cái chết cũng không được trả lời.

"Mặt khác, cơ quan công an là nơi giữ em tôi và bị chết nhưng không có bất cứ một lời thăm hỏi nào nên chúng tôi quyết định đẩy em tôi lên cơ quan Tỉnh để đòi công lý cho em đỡ tủi vì oan khuất quá lớn."

Bạo lực cảnh sát

Vụ anh Nguyễn Văn Khương thiệt mạng chỉ là vụ mới nhất trong một loạt các vụ người dân đột tử sau khi bị cảnh sát tạm giam.

Nỗi bức xúc của người dân với cảnh sát, nhất là cảnh sát giao thông có thể thấy rõ qua những tin tức về lái xe taxi hất cảnh sát lên mui xe và phóng đi vài cây số.
Jean Charles de Menezes

Jean Charles de Menezes, người Brazil đã bị bắn chết vì bị nghi là khủng bố

Nhưng chuyện cảnh sát lạm quyền và có hành vi bạo lực là chuyện xảy ra cả ở những nước phát triển như Anh và Mỹ.

Tại Anh hiện người ta cũng đang cáo buộc cảnh sát và các cơ quan tố tụng ém nhẹm một số vụ người dân chết oan vì cảnh sát.

Tuy nhiên những phản đối của công chúng và nhà báo đều có kênh chính thức chứ không bị đẩy ra ngoài rìa.

Một trong những scandal của cảnh sát Anh được cả thế giới biết tới là vụ thanh niên người Brazil, Jean Charles de Menezes, bị bắn chết dưới tàu điện ngầm ở London hồi 2005 vì 'trông giống kẻ khủng bố'.

Các cuộc điều tra vụ de Menezes đã lên tới cấp chính phủ, gây ra cuộc khủng hoảng cho Bộ Nội vụ.

Còn hôm thứ Bảy vừa rồi một cây viết của Anh đã kêu gọi độc giả báo The Guardian hiến kế nhằm quyên góp tiền kiện cảnh sát trong vụ cảnh sát viên Simon Harwood vô cớ đánh người bán báo Ian Tomlinson.

Nạn nhân, theo các bài báo, bị đánh từ đằng sau trong một đợt biểu tình ở London trong năm ngoái.

Ông Tomlinson đã chết sau đó do ông có chứng bệnh về tim mạch.

Nhà báo George Monbiot cũng đặt câu hỏi về bác sỹ được chọn để tiến hành khám nghiệm tử thi, người đã có nhiều lỗi lầm trong quá khứ và từng bị khiển trách.

Ông kêu gọi người dân thực hiện nghĩa vụ của mình - đó là không chấp nhận "sự bất công trắng trợn" trước pháp luật.

Như thế, các báo chính thống tại Anh đứng hẳn về phía dư luận và gây sức ép lên nhà chức trách.

Với Việt Nam, có vẻ như việc vẫn có 'lề trái' và 'lề phải' trong truyền thông khiến câu chuyện trở nên mù mờ và khiến việc tìm câu trả lời xác đáng cho gia đình nạn nhân vụ Bắc Giang trở nên khó khăn.

Tô chủ tịch - blog Beo

Câu pw tý chơi chứ thực ra tớ chẳng biết quái gì về Tô chủ tịch trừ việc có được dăm vài cái ảnh trông dơ dơ. Nhưng vụ cái thư của chú nuật sư dọa kiện bác Huy Thơm thì phải ghi lại, mai mốt có viết kịch bản hài rút ra làm chất liệu trong hài có bi trong bi có hài.

Chú đùng đùng bỏ công bỏ sức biên một cái thư, lên án và đe nẹt lôi bác Thơm ra vành móng ngựa về tội, dám cấm các báo đưa tin vụ Tô chủ tịch, ngăn chặn con đường bảo vệ công lý, bảo vệ nàng tú bà kiêm Tô người tình của chú. Thế rồi, bằng một công văn ngắn chủn, ban tuyên giáo zả nhời chả ngăn cấm ai. Thế rồi, chú nuật sư trở nên lố bịch, cái thư rõ dài trở nên bóng nhẫy mầu PR rẻ tiền (vì bao nhiêu là các bạn lề chái đăng cho miễn phí).

Nuật sư, khi chưa có bằng chứng gì đã vội lu loa lên thế, có ngày chết bỏ mịa nó thân chủ chú.

Là người chuyên dự các cuộc họp mà chú nuật sư đề cập, tớ bẩu thật, Tuyên giáo bi giờ người ta tế nhị lắm. Cái gì cần cấm, bao giờ cũng nèo thêm câu, chiểu theo điều mấy điều mấy của bộ luật nào đó hay giải thích lý do rất rõ ràng và thuyết phục, chứ người ta không bô bô cấm cái này cấm cái kia. Cấm khơi khơi, dễ gì bọn tớ đã chịu chấp hành.

Si nghĩ tý xem bốt mấy cái hình lên có phiền phức gì không đây?

Sunday, 25 July 2010

Bài phát biểu của bà Hillary Clinton

Bài phát biểu của bà Hillary Clinton tại
Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội, Việt Nam

Hillary Rodham Clinton, Ngoại trưởng

Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Việt hNam

Ngày 23-07-2010


Ngoại trưởng Clinton : Chào tất cả mọi người . Hôm nay tôi hoàn tất chuyến đi thứ năm của tôi đến châu Á kể từ khi trở thành ngoại trưởng. Hôm qua, tôi đến Việt Nam và tôi được vinh dự có mặt ở đây để kỷ niệm 15 năm ngày bình thường hóa quan hệ ngoại giao của chúng ta. Ngày hôm trước, tôi đã ở Seoul, chuyến thăm thứ ba của tôi đến Nam Hàn với tư cách ngoại trưởng. Bộ trưởng Gates và tôi đã gửi thông điệp mạnh mẽ rằng 60 năm sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, liên minh Mỹ – Nam Hàn mạnh mẽ, giúp bảo đảm hòa bình, an ninh và tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế trong khu vực.

Và bây giờ tôi vừa hoàn thành hai ngày thảo luận chuyên sâu với các đồng sự ASEAN của tôi và với các đối tác khác, những người đã đến đây theo đuổi nỗ lực chung: tăng cường an ninh, thịnh vượng, và [tìm kiếm] cơ hội trên khắp châu Á.

Hôm qua, tôi tham dự cuộc họp hàng năm cấp bộ trưởng Hoa Kỳ – ASEAN, nơi chúng ta đã thảo luận sự tham gia sâu rộng của đất nước tôi ở Đông Nam Á và các cơ hội chúng ta nhìn về phía trước trên nhiều mặt trận – từ đầu tư thương mại mở rộng, cho tới hợp tác nhiều hơn đối với hòa bình và an ninh, kết hợp các nỗ lực để đương đầu với những thử thách xuyên quốc gia, như biến đổi khí hậu, nạn buôn người, phổ biến vũ khí hạt nhân, và nhiều vấn đề khác.

Và hôm nay tôi đã tham dự cuộc họp hàng năm diễn đàn khu vực ASEAN lớn hơn để tiếp tục và mở rộng các cuộc thảo luận của chúng ta. Như tôi đã nói khi tôi tham dự diễn đàn này mùa Hè năm ngoái ở Thái Lan, chính phủ Obama cam kết sự tham gia rộng, sâu, và bền bỉ ở châu Á . Và như tôi đã thảo luận trong bài phát biểu tại Hawaii hồi mùa Thu năm ngoái, chúng tôi tập trung vào việc giúp tăng cường cấu trúc thể chế ở Châu Á Thái Bình Dương .

Trong 18 tháng qua chúng tôi đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, thông báo ý định của chúng tôi để mở một toà đại sứ và chỉ định một đại sứ ASEAN tại Jakarta, và đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ – ASEAN đầu tiên. Và chúng tôi đã theo đuổi những nỗ lực tiểu khu vực (sub-regional) mới như quan hệ đối tác mới ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Dựa vào sự tiến triển đó, tôi chuyển đến các đồng sự của tôi sự quan tâm của chúng tôi trong việc tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) vì nó đóng vai trò ngày càng tăng các thách thức trong thời đại chúng ta. Và tôi đã thông báo rằng Tổng thống Obama đã yêu cầu tôi đại diện cho Hoa Kỳ trong một khả năng thích hợp tại EAS năm nay ở Hà Nội để tiếp tục quá trình tham vấn với quan điểm về sự tham gia của người Mỹ hoàn toàn ở cấp tổng thống vào năm 2011. Thông qua các cuộc tham khảo, chúng tôi sẽ làm việc với các thành viên EAS để khuyến khích phát triển thành một nền tảng an ninh và thể chế chính trị cho châu Á trong thế kỷ này. Tổng thống cũng hướng tới việc chủ trì cuộc họp thứ hai của lãnh đạo Hoa Kỳ – ASEAN tại Hoa Kỳ vào mùa Thu tới.

Hôm nay chúng tôi thảo luận một số thách thức cấp bách trong đó có Bắc Hàn và Miến Điện. Tôi khuyến khích các đối tác và đồng minh tiếp tục thi hành đầy đủ và minh bạch Nghị quyết Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 1874, và gây sức ép với Bắc Hàn thi hành nghĩa vụ quốc tế. Tôi cũng kêu gọi Miến Điện đưa ra các điều kiện cần thiết cho cuộc bầu cử đáng tin cậy, gồm cả việc phóng thích tất cả các tù nhân chính trị, đặc biệt là bà Aung San Suu Kyi, tôn trọng các quyền cơ bản của con người, và ngừng các cuộc tấn công chống lại các dân tộc thiểu số của họ. Và như tôi đã nói trong các cuộc họp ngày hôm nay, rất quan trọng để Miến Điện lắng nghe từ các nước láng giềng về sự cần thiết phải tuân theo các cam kết của mình, theo hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân, để thực hiện các nghĩa vụ an toàn của IAEA và tuân theo Nghị quyết 1874 và 1718.

Chúng tôi cũng thảo luận một số chủ đề quan trọng khác như: biến đổi khí hậu, thương mại và hội nhập kinh tế, dân chủ và nhân quyền. Và tôi nắm lấy cơ hội cùng với một số đồng sự ASEAN và các đồng sự Diễn đàn Khu vực ASEAN để bắt đầu lập trường của chính phủ tôi về vấn đề quan tâm đến an ninh và thịnh vượng trong khu vực Biển Đông [nguyên văn: Biển Nam Trung Hoa].

Tôi muốn nói ngắn gọn quan điểm của chúng tôi về vấn đề này. Hoa Kỳ, như mọi quốc gia, có lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển chung của châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Chúng tôi chia sẻ những lợi ích không chỉ với các thành viên ASEAN hoặc những người tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN, mà còn với các quốc gia gần biển khác và cộng đồng quốc tế rộng hơn.

Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế. Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ nước tranh chấp nào. Trong khi Hoa Kỳ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ về các vùng đất, đảo, đá…(land features) trên Biển Đông, chúng tôi tin rằng các bên tranh chấp nên theo đuổi việc tranh chấp lãnh thổ của mình và các quyền đối với không gian biển theo quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển. Phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, việc đòi chủ quyền chính đáng đối với không gian biển trên Biển Đông nên chỉ bắt nguồn từ việc đòi chủ quyền hợp pháp với các đảo, đất, đá…trên biển (*).

Hoa Kỳ ủng hộ Tuyên bố Ứng xử của các bên trên Biển Đông của ASEAN – Trung Quốc năm 2002. Chúng tôi khuyến khích các bên đạt được sự thoả thuận quy tắc ứng xử hoàn toàn. Hoa Kỳ chuẩn bị tạo điều kiện cho các sáng kiến và các biện pháp xây dựng lòng tin phù hợp với tuyên bố. Bởi vì tất cả các bên tranh chấp và cộng đồng quốc tế rộng hơn đều quan tâm về việc thương mại không bị ngăn cản để tiến hành trong điều kiện hợp pháp. Tôn trọng lợi ích của cộng đồng quốc tế và những nỗ lực có trách nhiệm để giải quyết những khiếu nại chưa được giải quyết và giúp tạo ra các điều kiện để giải quyết các tranh chấp và giảm căng thẳng trong khu vực. Để tôi nói thêm một điểm về Công ước [Liên Hiệp Quốc] về Luật biển. Nó được sự ủng hộ mạnh mẽ từ hai đảng tại Hoa Kỳ và là một trong những ưu tiên ngoại giao của chúng tôi trong năm kế tiếp là bảo đảm việc phê chuẩn ở Thượng viện.

Vì vậy, đây là một chương trình nghị sự rất đầy đủ với các cuộc thảo luận các vấn đề quan trọng thẳng thắn và hiệu quả. Chủ đề trong năm nay của Bộ là: chuyển suy nghĩ sang hành động. Và tôi nghĩ đó là bản tóm tắt hoàn hảo về những gì chúng tôi đang cố gắng để làm thông qua các thể chế này. Chúng ta có cùng suy nghĩ và các mục tiêu đầy tham vọng. Nhưng như mọi khi, thước đo sự thành công chính xác nhất của chúng tôi sẽ là, chúng ta chuyển từ suy nghĩ sang hành động tốt như thế nào bằng sự tiến triển vững chắc về các mục tiêu của chúng ta cho một tương lai tốt hơn. Và do đó, đã đến lúc chúng ta hành động và cho tôi nhận một số câu hỏi của quý vị.

(Phần kế tiếp là các phóng viên đặt câu hỏi cho bà Hillary Clinton)

Monday, 19 July 2010

Đôi điều tôi đã học từ nước Anh

Xin chào các bạn,

Tôi rất vui và vinh dự khi được mời tham gia trang blog của ngài Đại sứ.

Khi tôi viết những dòng này, thì London đang ở trong mùa hè oi nóng. Tháng Sáu vừa rồi, được xem là tháng Sáu nóng nhất nước Anh kể từ 1976. Cái nóng ấy với những người như tôi, cũng có điều tích cực là ta dậy sớm mà không cần…đồng hồ báo thức. Mà điều này thật quan trọng trong những ngày tôi làm chủ biên chương trình. Đến sớm để tiếp nhận tin tức đưa về từ văn phòng Đông Nam Á. Chắt lọc lại một số tin để làm điều chúng tôi hay gọi đùa là “bán” cho các ban ngôn ngữ và chương trình khác trong BBC World Service trong cuộc họp vùng lúc 9h30 sáng, giờ London. Cuộc họp nửa tiếng là dịp để các bên trao đổi, thuyết phục bộ phận khác lưu tâm câu chuyện mà mình thấy thú vị, và nhìn tới nghị trình tin tức trong ngày.

Sự thay đổi của BBC Tiếng Việt những năm gần đây nằm trong mạch thay đổi chung của World Service. Một điều dễ nhận thấy là người làm truyền thông phải bước cho kịp với đổi thay công nghệ. Chuyến đi Bắc Kinh của tôi tường thuật Olympics 2008 còn là sự cân bằng giữa bài cho radio và online. Ở chuyến đi Washington đầu năm 2009 để dự lễ nhậm chức của Tổng thống Obama, hầu hết bài tôi làm đã là cho trang mạng. Và gần đây nhất, một số đồng nghiệp đi công tác còn biên tập chương trình video – mà một số đã phát cả trên BBC World. Việc khai trương trang BBC Tiếng Việt chính thức trên YouTube là chỉ dấu rằng kỹ năng truyền thông giờ đây phải thực sự mang tính đa phương tiện.

Công việc thú vị hơn, nhưng cũng bận rộn hơn. Dù vậy, tôi vẫn giữ cho mình “nghề tay trái” là viết ca khúc. Thêm một điều nữa tôi rút ra từ người Anh là quan niệm rằng điều quan trọng trong cuộc sống là những gì cuốn hút ta làm trong giờ thư rỗi. Đã có người nói không ở quốc gia nào có nhiều nhạc công nghiệp dư diễn tốt nhạc giao hưởng như ở Anh. Có lẽ nó gắn với khuynh hướng của người dân xứ đảo này, rằng công việc dừng lại trước cửa nhà mình. Và ‘hobby’ (thú tiêu khiển) nhiều khi lại là cách tốt nhất để anh bộc lộ bản thân mình.

Dự kiến trong hè này, album nhạc quan trọng nhất trong quá trình sáng tác của tôi sẽ ra mắt ở Việt Nam. Ca sĩ Đức Tuấn, người giành hai giải Cống hiến 2009, lựa chọn 10 ca khúc của tôi cho đĩa nhạc mang tựa đề Trẻ mãi. Đây là hợp tuyển những ca khúc từng phát hành trước đây cùng một số bài mới, với phần hòa âm của nhạc sĩ Hồng Kiên. Quá trình chuẩn bị đã từ một năm qua, và chúng tôi hy vọng các bạn sẽ đón nhận như một đĩa nhạc đẹp, được làm chỉnh chu của nhạc Việt.

Trong thời gian bàn bạc, chuẩn bị với Đức Tuấn, chúng tôi liên hệ với nhạc trưởng, nhạc sĩ hòa âm người Anh Paul Bateman, từng làm việc với các danh ca, từ Bryn Terfel cho đến Sarah Brightman và Paul McCartney. Là người nổi tiếng và bận rộn, nhưng ông Paul rất lịch thiệp và nhiệt tình trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Kết quả sau đó, như nhiều bạn đã biết, nhạc trưởng Paul Bateman đã đến Việt Nam chỉ huy đêm nhạc Music of the Night của Đức Tuấn, được nhiều tờ báo xem là một trong những sự kiện âm nhạc trong nước năm 2009. Tôi biết cũng còn có những nhạc sĩ người Anh thân thiện và muốn hợp tác với những người làm nhạc trong nước như thế.

Sự thân thiện của người Anh là đặc điểm đáng yêu không quá khó để nhận ra. Người ta đã nói nhiều về việc đời sống người Anh nhấn mạnh sự riêng tư, với phương châm “nhà tôi là pháo đài của tôi”. Theo cách hiểu này, người Anh niềm nở mà không suồng sã, để không ai có thể can thiệp đời sống riêng của nhau.

Nhưng mặt khác, người Anh không hề hờ hững lạnh nhạt, mà sẵn sàng nhiệt tình giúp bạn. Láng giềng nơi tôi ở là ví dụ. Ông cụ nhà bên, đã hơn 70, bỏ cả ngày giúp vợ tôi thông đường ống nước bị nghẹt, trong khi tôi đang ở xa tường thuật Olympics Bắc Kinh. Hay có một tối, đang ăn cơm, chúng tôi nghe tiếng gõ cửa. Cô bé nhà đối diện đang đứng ở ngoài, bảo: “Bố cháu nói chạy sang để nhắc chú là đèn trong xe ô tô của chú vẫn mở.” Đúng như ông cụ láng giềng thường vỗ vai tôi căn dặn: “Chúng ta không xen vào việc của nhau, nhưng ta biết có thể tìm thấy nhau khi cần.”

Sự hảo tâm của cá nhân nêu bật lên một đặc điểm khác của người Anh, sự khoan dung. Trong cuốn sách về sông Thames, tác giả Peter Ackroyd nhận xét dòng sông cũng là ẩn dụ về Anh quốc. Sông Thames “khiêm tốn và ôn hòa, êm đềm và có ích; mạnh mẽ mà không hung tợn. Nó không ấn tượng đến nỗi khoa trương. Lớn mà không đến mức khổng lồ.” Ở góc độ nào đấy, người Anh là như vậy. Họ từ chối sự cực đoan. Sự điềm đạm, thực tiễn của người Anh bao hàm cả thái độ ủng hộ những thay đổi mới và đồng thời bảo vệ di sản của quá khứ.

Sự khoan dung ấy là tiền đề cho xã hội đa văn hóa, đa sắc tộc tại Anh ngày hôm nay. Có hơn 300 ngôn ngữ được nói ở thủ đô London, dĩ nhiên trong đó có tiếng Việt. Công việc làm báo cho phép tôi tiếp xúc với nhiều người Anh gốc Việt và công dân từ Việt Nam đóng góp cho kinh tế và văn hóa của thành phố toàn cầu này. Mà không chỉ tại London, có những người Việt Nam đang làm ở những lĩnh vực khác nhau trên toàn Vương quốc Anh. Dù chưa có thống kê đầy đủ, nhưng có thể tin rằng những đóng góp của người Việt theo thời gian sẽ tăng không chỉ về số lượng mà còn sâu sắc hơn.

Sunday, 18 July 2010

Sự giới hạn về hoạt động chính trị tại Việt Nam

14.07.2010

Người từng được học bổng Fulbright và luật sư nổi tiếng - Lê Công Định vẫn còn nằm trong nhà tù ở Việt Nam. Vừa qua, Toà Phúc thẩm Thành phố Hồ Chí Minh đã giữ nguyên bản án 5 năm tù của ông vì tội "tìm cách lật đổ chính quyền", trả ông và hai người cùng bị buộc tội trở về phòng giam của mình. Số phận của người đàn ông này - đã từng nổi tiếng khi bảo vệ những nhà nuôi trồng cá basa trong nước chống lại những giới hạn thương mại của Hoa Kỳ; từng là phó chủ tịch của Hội Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; từng cố vấn cho các phái đoàn quốc tế; có vợ là cựu Hoa hậu Việt Nam - giờ đây rõ ràng đang là thước đo về mức độ hoạt động chính trị mà Đảng Cộng sản đang cầm quyền có thể chấp nhận.

Đảng đã sẵn sàng tảng lờ Định một thời gian dài để ông trở thành một tiếng nói mạnh mẽ kêu gọi thay đổi luật pháp. Việc ông vượt qua giới hạn chính là những hợp tác của ông với các tổ chức chống cộng tại Hoa Kỳ cũng như việc ông là thành viên của một đảng đối lập. Không cần biết những yêu sách của Định vẫn không được thay đổi kể từ khi ông còn là một nhà chỉ trích trung thành - công thức thường thấy của những người ủng hộ dân chủ là: tự do ngôn luận và chính trị đa nguyên - việc ông hợp tác với những người mà Hà Nội vẫn thường qui chụp là "lực lượng thù địch" đã niêm phong số phận của ông.

Câu chuyện về Định và 15 người khác đã bị bắt giam vì những tội danh tương tự trong những tháng vừa qua đã củng cố một khuôn khổ được thiết lập từ năm 2007 khi lực lượng an ninh Việt Nam phá huỷ mạng lưới chống đối mang tên Khối 8406 (đặt tên theo ngày tổ chức này thành lập: 8.04.2006). Từ đó cho đến nay, Bộ Công an đã lựa chọn mục tiêu của mình rất chính xác. Trong khi khoảng vài trăm người đã ký tên hưởng ứng lời kêu gọi của Khối 8406, cơ quan này chỉ đưa ra toà những người lãnh đạo có quan hệ chặt chẽ với những tổ chức hải ngoại. Họ có thể chấp nhận lời nói suông về dân chủ, nhưng cấm tổ chức hoạt động chống lại sự cầm quyền độc đảng.

Đây chính là trọng điểm không gì lay chuyển được của hệ thống chính trị Việt Nam, như đã được trân trọng ghi trong Điều 4 của Hiến pháp: "Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội."

Rất dễ để nghĩ rằng trong một quốc gia đang thụ hưởng những lợi lộc từ nguồn đầu tư khổng lồ từ nước ngoài cũng như việc giải phóng kinh tế, rằng những ngôn ngữ trên chỉ đơn giản là di sản của quá khứ. Không phải như vậy. Trong tâm điểm, hệ thống chính trị Việt Nam vẫn giữ nguyên đặc tính Leninist. Tranh luận trong nội bộ Đảng là một chuyện; tranh luận chống lại Đảng thì rõ ràng là một chuyện khác.

Đúng là mọi việc cũng đã thay đổi trong những năm vừa qua. Phạm vi về những đề nghị mà Đảng sẵn sàng lắng nghe rõ ràng đã được nới rộng. Quốc hội đã trở thành nơi để tranh luận, một hình thức xã hội dân sự đã xuất hiện và ngành kỹ nghệ truyền thông đang bùng nổ. Hàng triệu Mỹ kim và Euro đã được các nhà tài trợ quốc tế sử dụng để phát huy việc cải cách luật pháp, chính trị đa nguyên và một nền báo chí tốt hơn. Nhưng xuyên suốt quá trình cải cách, Đảng Cộng sản vẫn đi vài bước trước các nhà tài trợ.

Đảng đã cảm kích đón nhận những đồng tiền tài trợ - và ra vẻ thực thi những mục tiêu được đề ra về "chính quyền tốt" - nhưng rồi sửa đổi chúng theo những hướng nhằm củng cố sự thống trị độc đảng. Vài ví dụ:

Trong khi việc "xây dựng pháp lý" đã chú trọng vào việc thay đổi bộ máy lập pháp để phù hợp với những yêu cầu của một nền kinh tế hoà nhập với quốc tế, việc "đổi mới ngành toà án" vẫn chịu sự kiểm soát của các cơ cấu nội bộ của đảng và không có những góp ý quan trọng nào từ nước ngoài. Đảng rất công khai về thực tế là "các cơ quan dân bầu" - được hiểu là "các cơ quan do Đảng kiểm soát" - vẫn sẽ tiếp tục quản lý hệ thống toà án. Các chánh án vẫn phải được chi bộ Đảng địa phương thông qua và phải có "Trình độ Lý luận Chính trị" - một khái niệm được ghi trong giấy chứng nhận cấp bởi trường đào tạo của Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Trong suốt hơn một thập niên, các nhà tài trợ quốc tế đã thúc đẩy một phương hướng mới nhằm quản lý hàng nghìn tổ chức ra đời để cung cấp các cơ sở thể thao, giải trí, dịch vụ xã hội và phụ trợ những cộng đồng địa phương cũng như những nhóm lợi ích cấp quốc gia. Nhưng "Qui định Thành lập Hội đoàn" đã không bao giờ được đưa vào bộ luật. Tất cả các tổ chức "xã hội dân sự" vẫn phải đăng ký với các cơ quan do Đảng kiểm soát.

Chính quyền Việt Nam vừa qua đã thông báo rằng họ sẽ từ bỏ việc sửa đổi Luật Báo chí, bất chấp những nỗ lực trong nhiều năm cũng như hàng chục khoá huấn luyện và các chuyến tham quan nghiên cứu bằng tiền tài trợ. Ngành truyền thông vẫn bị quản lý theo những đường lối Leninist. Mỗi thứ Ba hàng tuần, khoảng 100 tổng biên tập trong cả nước phải tham gia một buổi họp tại Bộ Thông tin và Truyền thông để biết được những gì họ có thể hoặc không thể viết. Không có một bộ phận truyền thông độc lập và hợp pháp nào tại Việt Nam. Mọi cơ quan truyền thông đều trực thuộc vào một bộ phận của chính quyền hoặc Đảng Cộng sản.

Nhưng đây không phải là toàn bộ câu chuyện - vì nếu thế, tính năng động sẽ không có tại Việt Nam, và như chúng ta đã biết, quốc gia này là một trong những xã hội năng động và khát vọng nhất trên hành tinh. Việc này có được là nhờ mối cân bằng kỳ lạ giữa sự kiểm soát và thiếu kiểm soát của Đảng, được thể hiện qua hiện tượng "phá rào". Hãy lấy vài ví dụ trong những phạm vi mà tôi đã nói ở trên:

Trong khi hệ thống pháp lý vẫn năm dưới sự kiểm soát của Đảng, vẫn có đủ những uyển chuyển và kẻ hở bên trong để cho phép làm bất kỳ điều gì. Ngay cả với những điều luật "khó khăn", việc thực hiện chúng có thể được đình lại hoặc điều chỉnh qua sự giúp đỡ của những mối quan hệ quen biết và đặc ân. Kết quả: một nền kinh tế năng động và sự tham nhũng có hệ thống.

Từ "lobby" tiếng Anh giờ đây đã xuất hiện trong tiếng Việt. Chìa khoá dùng để "lobby" là tìm ra khu vực nào của chính phủ chịu ủng hộ kế hoạch của bạn và tìm cách vượt qua nó. Bằng cách này, mọi hoạt động "chính trị" đều có vẻ hoàn toàn mang tính trung thành và không đe doạ chính quyền. Một loạt các tổ chức, chính thức lẫn không chính thức, hiện đang vận động ở nhiều cấp khác nhau của chính quyền để thúc đẩy sự thay đổi.

Kỹ nghệ truyền thông Việt Nam hiện đang làm ra rất nhiều tiền và từ đó, kèm theo ảnh hưởng. Có vô số những hoạt động lậu hoặc bán hợp pháp tại đỉnh cao của lĩnh vực này - một số cơ quan truyền thông hầu như hoàn toàn do tư nhân sở hữu bất chấp những chỉ thị của chính phủ; những cơ quan khác chỉ đơn giản hành xử như tư nhân. Miễn là họ không đối đầu với Đảng hoặc đào quá sâu vào những vụ tham nhũng của giới cao cấp thì các tổng biên tập và giới phóng viên có thể chung sống hoà bình.

Trong tất cả những trường hợp này, tính năng động đã được giải thoát qua hiện tượng bán-bất hợp pháp hiếm hoi được biết đến là phá rào. Như kinh tế gia người Anh Adam Fforde đã cho thấy, hiện tượng này đã cho phép đất nước thoát khỏi sự sụp đổ kinh tế trong những năm cuối 1980s và tạo nền tảng cho nhịp độ tăng trưởng nhanh chóng của ngày nay. Phá rào đã trở nên quan trọng trong chính trị và xã hội.

Cuối những năm 1990s, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị giới trẻ thiếu tin tưởng trầm trọng: chỉ có 7 nghìn sinh viên gia nhập. Để đáp lại, đảng đã chấn chỉnh lại những gì họ đã cung cấp cho giới trẻ, từ bỏ việc tuyên bố rằng nó sẽ đáp ứng đầy đủ mọi hy vọng cách mạng của thanh niên và thay vì thế, cung cấp cho họ con đường tiến thân. Các đảng viên trẻ thường được kết nạp với hứa hẹn rằng "nếu muốn thăng tiến thì phải gia nhập đảng." Thay vì chôn chặt những động cơ ích kỷ dưới lớp vỏ vị tha và tinh thần cao cả của việc tham gia xây dựng đất nước, giờ đây một đảng viên mới có thể khoe với bạn bè rằng họ tham gia là vì lợi ích cá nhân. Đúng thế, thật xấu hổ khi thừa nhận rằng mình muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa hoặc bảo vệ thành quả cách mạng. Điều này dường như đã thành công. Đảng cho biết rằng 60 phần trăm của tổng số 170 nghìn người gia nhập trong năm 2005 có độ tuổi từ 18 đến 30.

Tuy nhiên, việc số lượng đảng viên tăng cao cũng đã không thay đổi cái nhìn của Đảng về mình. Nó vẫn kiên quyết giữ nguyên "vai trò lãnh đạo" tự phong với xã hội. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức thông minh. Nó luôn nghĩ đến tương là và bằng cách nào để giữ nguyên vị trí của mình tại đỉnh cao của xã hội trong khi mọi vật ở dưới đều đang thay đổi. Vị thế của nó đủ mạnh để có thể chịu đựng được nhiều thứ - ngay cả việc xuất hiện của tạp chí Cosmopolitan bằng tiếng Việt trong tháng trước - miễn là chúng không được thách thức vai trò lãnh đạo của nó. Lê Công Định và những đồng sự của mình đã nhận ra được điều này qua một bài học đắt giá. Viện trợ và đầu tư quốc tế đã không mang lại nền dân chủ đa đảng cho Việt Nam; thay vì thế nó đã làm cho chế độ độc đảng thêm hiệu quả và đầy ảnh hưởng. Đó là con đường mà Đảng ưa chuộng. Cuộc sống đã trở nên khá hơn nhiều đối với đại đa số người dân Việt Nam và nếu điều này còn tiếp diễn, thì mọi việc đều sẽ giữ nguyên như thế.

Bill Hayton là tác giả cuốn Việt Nam: Con Rồng Đang Lên, vừa do Yale University Press xuất bản. Ông từng là phóng viên của đài BBC tại Hà Nội từ 2006 - 2007.

Tình cảm và chỗ đứng nào cho cờ vàng?

Trong một chuyến đi Mỹ, tôi có hỏi cô con gái một người bạn tôi về các lớp học Việt Ngữ mà cô khởi xướng cùng với một số bạn trẻ. Cô này đáp: “Không phát triển được chú ạ, vì mấy ông cộng đồng mắc dịch cứ tới kiếm chuyện bắt phải treo cờ vàng làm nhiều người ngại không muốn đem con tới”. Thế là một cố gắng duy trì căn cước Việt Nam tại hải ngoại bị thiệt hại. Cần lưu ý một tình trạng báo động là cộng đồng người Việt hải ngoại đang mất căn cước dân tộc một cách rất nhanh chóng. Cứ đà này thì chỉ trong vòng một thế hệ nữa người Việt hải ngoại sẽ không còn biết gì về Việt Nam nữa và cũng sẽ không còn nói chuyện được với nhau bằng tiếng Việt. Lúc đó sẽ khó còn có thể nói tới một cộng đồng người Việt hải ngoại. Lý do căn bản là chúng ta thiếu những tổ chức cộng đồng đúng nghĩa. Nhiều tổ chức tự xưng là cộng đồng không làm công tác cộng đồng, nghĩa là giữ gìn căn cước Việt Nam và tạo liên lạc thân hữu giữa mọi người Việt Nam mà lại làm chính trị, và với nhiều tổ chức tự xưng là “cộng đồng” hoạt động chính trị được coi là đồng nghĩa với áp đặt cờ vàng trong mọi trường hợp. Áp lực cờ vàng mạnh đến nỗi nhiều tổ chức chính trị dù không muốn vẫn phải treo cờ vàng trong các buổi họp.

Vấn đề cờ vàng cần được thảo luận một cách bình tĩnh và trang trọng.

Dù chúng ta nghĩ gì về chế độ Việt Nam Cộng Hòa (danh xưng Việt Nam Cộng Hòa được hiểu là chỉ chung các chế độ Quốc Gia Việt Nam, rồi Việt Nam Cộng Hòa từ 1948 đến 1975) chúng ta vẫn không được quên là đã có hàng trăm nghìn người lương thiện, yêu nước và dũng cảm đã hy sinh dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ trong niềm tin rằng mình đang chiến đấu cho một tương lai Việt Nam tự do và dân chủ. Cờ vàng vì vậy phải được tôn trọng, không phải vì những người đã tạo ra nó, hay vì chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mà vì những người đã hy sinh cho đất nước. (Một lý luận tương tự cũng phải được áp dụng cho lá cờ đỏ sao vàng của chế độ cộng sản Việt Nam). Gọi nó là lá cờ ba que như chính quyền cộng sản thường làm là một thái độ vô văn hóa ô nhục cho chính những người sử dụng ngôn ngữ hạ cấp đó. Không ai có thể cho là lạ nếu cờ vàng được trưng lên trong những cuộc họp mặt của các hội thân hữu cựu quân nhân và công chức Việt Nam Cộng Hòa, kể cả sau này trên đất nước Việt Nam dân chủ, và trong những buổi lễ tưởng niệm các tử sĩ. Vấn đề không phải là bỏ hay không bỏ cờ vàng. Cờ vàng là một kỷ niệm và người ta không thể thay đổi một kỷ niệm. Vấn đề chỉ là có nên lấy cờ vàng làm biểu tượng cho cuộc đấu tranh cho dân chủ hay không, và nếu không có nên lấy nó làm biểu tượng cho cộng đồng người Việt hải ngoại hay không?

Về câu hỏi thứ nhất – có nên lấy cờ vàng làm biểu tượng cho cuộc vận động dân chủ hay không? – câu trả lời thân thiện nhưng dứt khoát là không. Lá cờ biểu tượng phải tượng trưng cho một di sản đáng tự hào, phải nói lên một mục tiêu chung cao đẹp, một ý chí, một hy vọng, và nhất là phải có khả năng đoàn kết và động viên thật nhiều người. Cờ vàng không đáp ứng một tiêu chuẩn nào trong những tiêu chuẩn này.

Cờ vàng, cũng như cờ đỏ sao vàng, không phải là cờ truyền thống của dân tộc. Trước năm 1945, chúng ta không có quốc kỳ. Vua Thành Thái có lúc đã dùng một lá cờ nền vàng có ba sọc đỏ làm kỳ hiệu của mình, nhưng đó không phải là quốc kỳ mà chỉ là một kỳ hiệu của nhà vua; các vua chúa chọn lựa và thay đổi kỳ hiệu của họ một cách tùy hứng. Cờ vàng như một quốc kỳ đã chỉ được chọn vào năm 1948 bởi một số tay chân cũ của người Pháp hoàn toàn không có một sự chính đáng nào để thay mặt nhân dân Việt Nam quyết định quốc kỳ, với sự chứng kiến của Bảo Đại, ông vua bê bối, bất xứng và vô tích sự đã đầu hàng cộng sản và nhìn nhận cờ đỏ sao vàng là quốc kỳ năm 1945. Vả lại, trên thực tế, cờ vàng cũng chưa bao giờ là một quốc kỳ Việt Nam mà chỉ là cờ của một trong hai phe trong một cuộc nội chiến, cũng tương tự như cờ đỏ sao vàng trước năm 1975, nhưng với một sự chính đáng kém hẳn (cờ đỏ sao vàng vào lúc ra đời đã được hầu hết mọi thành phần dân tộc nhìn nhận).

Các chính quyền lấy cờ vàng làm biểu tượng cũng không phải là những chính quyền dân chủ. Trái lại những người kế tiếp nhau cầm quyền, từ 1948 đến 1975, từ Nguyễn Văn Xuân đến Nguyễn Văn Thiệu, đều chống dân chủ. Do áp lực của Hoa Kỳ, từ 1954 về sau họ bị bắt buộc phải chấp nhận một hình thức dân chủ bề ngoài nhưng họ dùng đủ trò gian trá để biến dân chủ thành một trò hề. Các chính quyền quốc gia đều hoặc tham nhũng hoặc quan liêu, đa số vừa tham nhũng vừa quan liêu. Cũng không có chính quyền nào lấy xây dựng dân chủ làm mục tiêu cả, chỉ có những người chấp nhận chế độ Việt Nam Cộng Hòa với hy vọng thay đổi được nó để xây dựng một nước Việt Nam dân chủ nhưng họ chưa bao giờ nắm được vai trò chủ động. Như vậy cờ vàng từ lúc được kéo lên năm 1948 đến lúc bị hạ xuống năm 1975 chưa bao giờ là biểu tượng của dân chủ cả. Đây chỉ là một ý nghĩa mà một số người gán ghép cho nó từ sau 1975. Chúng ta có thể, và phải, tôn trọng cờ vàng vì những người đã hy sinh dưới lá cờ này, nhưng không phải vì thế mà gán cho nó một ý nghĩa mà trong suốt thời gian tồn tại nó chưa bao giờ có, nghĩa là dùng nó làm biểu tượng cho cuộc đấu tranh vì dân chủ. Nếu coi cờ vàng là tiêu biểu cho dân chủ thì phải hài lòng với một thứ dân chủ giả dối và bệnh hoạn. Cờ vàng càng không thể dùng làm biểu tượng cho cuộc đấu tranh cho dân chủ vì một lý do khác: cuộc đấu tranh nào cũng đòi hỏi ý chí, quyết tâm, lòng tự hào và lòng tin vào thắng lợi, do đó không thể lấy lại lá cờ của một chế độ bạc nhược đã thất bại và đầu hàng.

Việc một số người nằng nặc đòi áp đặt cờ vàng có tác dụng tai hại làm yếu đi phong trào dân chủ tại hải ngoại. Nó là một đòi hỏi quá nghịch lý để có thể chấp nhận được nhưng sự hung hăng của phe cờ vàng – và thái độ sẵn sàng phá đám của một số người trong họ – khiến nhiều người không dám nói ra lập trường của mình. Kết quả là bế tắc và bất lực.

Tác dụng chắc chắn của việc dùng cờ vàng làm biểu tượng cho cuộc vận động dân chủ là ngăn cản sự hưởng ứng của những người đã từng đứng trong hàng ngũ cộng sản, những người xuất phát từ miền Bắc và những người sinh ra sau ngày 30-4-1975, nghĩa là tuyệt đại đa số người Việt Nam. Những người này dù mong muốn dân chủ tới đâu cũng không có lý do để tranh đấu dưới cờ vàng, mà không động viên được họ thì không thể giành được thắng lợi. Họ hoặc không biết đến lá cờ vàng, hoặc chỉ biết đến nó như là lá cờ của một chế độ đã đầu hàng. Vô tình hay cố ý các nhóm cờ vàng tiếp tay cho chính quyền cộng sản, họ ngăn cản sự hình thành của một tập hợp dân chủ mạnh. Trước mắt và tại hải ngoại cờ vàng là một trở ngại cho sự tham gia vào cuộc vận động dân chủ của khối người ngày càng đông đảo mới ra nước ngoài, những công nhân đi theo diện xuất khẩu lao động, những du học sinh, những người xuất ngoại vì công việc v.v. Cuối cùng, đòi lấy cờ vàng làm biểu tượng cho cuộc đấu tranh vì dân chủ tương đương với chấp nhận để cuộc đấu tranh này tàn lụi dần với sự ra đi của những người đã trưởng thành trước ngày 30-4-1975. Tuổi trẻ lớn lên sau 1975 dù là con cháu của những người tỵ nạn cũng có rất ít lý do để chấp nhận lá cờ này.

Sự vô lý của đòi hỏi lấy cờ vàng làm biểu tượng tranh đấu thể hiện ngay trong lập luận của những người chủ xướng. Trong đa số họ đều nói là họ không có ý định lập lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người còn đi xa hơn, khẳng định cờ vàng sẽ không phải là quốc kỳ trong tương lai, nước Việt Nam dân chủ sau này sẽ có một lá cờ mới. Nhưng vai trò của một biểu tượng của cuộc tranh đấu là gì nếu không phải là để nói lên trước dân tộc và thế giới một mục tiêu và một lập trường? Và làm sao có thể đứng dưới cờ Việt Nam Cộng Hòa và hát quốc ca Việt Nam Cộng Hòa đồng thời nói với một người Mỹ – hay người Pháp hay người Ai Cập hay bất cứ một người nước nào – rằng mình không có ý định tái lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà không gây ngạc nhiên?

Một số người và tổ chức đưa ra một lập luận khác: đồng ý là sẽ phải có một quốc kỳ mới không phải là cờ vàng nhưng quốc kỳ mới này sẽ phải do một quốc hội được toàn dân bầu ra trong một cuộc bầu cử tự do, điều mà chúng ta chưa làm được; do đó trong nhất thời cuộc đấu tranh cho dân chủ phải tạm dùng cờ vàng. Nhưng cuộc đấu tranh có bắt buộc phải có một quốc kỳ không? Không ai cấm mỗi tổ chức đấu tranh chọn một đảng kỳ, nhưng quốc kỳ là một việc rất khác. Trong lịch sử thế giới tuyệt đại đa số các tổ chức đấu tranh để thay đổi chế độ đều không chọn trước một quốc kỳ trong lúc còn đang tranh đấu.

Phải dứt khoát: nếu muốn giành thắng lợi cho dân chủ thì không thể lấy cờ vàng làm biểu tượng cho cuộc đấu tranh. Chính những người đòi áp đặt cờ vàng cũng biết như vậy, nhưng có lẽ họ không quan tâm tới tương lai đất nước, hoặc không nghĩ là tự người Việt Nam có thể thay đổi được chế độ cho nên không cảm thấy phải có một lập trường hợp lý. Lấy một lập trường mà mình biết trước là không đem lại thắng lợi chỉ là mặt trái của chọn lựa bỏ cuộc. Đối với những người này, những người tranh đấu cho dân chủ chỉ có thể bày tỏ tình đồng bào chứ không thể nhân nhượng.

Thực ra không còn ai tin rằng cờ vàng sẽ là quốc kỳ Việt Nam trong tương lai. Vấn đề thực sự là cờ đỏ sao vàng. Lá cờ này đã ra đời cách đây 75 năm đánh dấu ngày đất nước trút bỏ ách ngoại thuộc, từ 35 năm nay nó cũng là quốc kỳ chính thức của Việt Nam được mọi quốc gia trên thế giới nhìn nhận. Tuy vậy nó cũng được chính những người lãnh đạo chế độ cộng sản xác nhận như là biểu tượng của chủ nghĩa Mác-Lênin trên đất nước Việt Nam, một chủ nghĩa đã được nhận diện như là một chủ nghĩa tội ác. Một đặc tính cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là nó không nhắm xây dựng quốc gia mà trái lại còn chủ trương tiến tới sự giải thể các quốc gia. Việc du nhập chủ nghĩa này vào Việt Nam đã là một sai lầm đẫm máu. Và quả thực lá cờ này đã đẫm quá nhiều máu Việt Nam, máu của những người yêu nước không cộng sản, máu của hàng trăm nghìn nạn nhân của đợt Cải Cách Ruộng Đất, máu của gần năm triệu người trong cuộc nội chiến thảm khốc v.v. Quá nhiều máu ! Từ hơn 35 năm qua nó là lá cờ của một chế độ độc tài bạo ngược, chống dân chủ và nhân quyền tới cùng, dành độc quyền cho một thiểu số, loại bỏ đại bộ phận dân tộc khỏi vận mệnh đất nước. Cờ đỏ sao vàng không thể là quốc kỳ của một nước Việt Nam dân chủ và hòa giải. Nhưng thay đổi nó không phải là dễ và cũng chỉ có thể thực hiện sau khi đất nước đã có dân chủ.

Sự ngoan cố của phe cờ vàng làm cản trở cuộc đấu tranh cho dân chủ và vì thế góp phần củng cố cờ đỏ. Sở dĩ lập trường áp đặt cờ vàng còn tồn tại chỉ vì một vấn đề phải giải quyết vẫn chưa được giải quyết: hoà giải và hòa hợp dân tộc. Một thế hệ đã qua rồi kể từ khi cuộc nội chiến tệ hại chấm dứt nhưng chính quyền cộng sản vẫn còn quá kiêu căng, xấc xược, thô bạo, miệt thị. Cờ vàng vì vậy vẫn còn được một số người dùng để biểu lộ sự phẫn nộ. Nếu có một chính quyền dân chủ thực hiện hoà giải và hòa hợp dân tộc một cách thành tâm thì vấn đề cờ vàng đã không đặt ra. Oái oăm là ở chỗ chính việc đòi áp đặt cờ vàng lại cản trở sự hình thành của một tập hợp dân tộc mới để đẩy lùi bạo quyền, thiết lập dân chủ, thực hiện hòa giải dân tộc và phục hồi danh dự cho những người đã hy sinh dưới cờ vàng. Phải bẻ gẫy cái vòng luẩn quẩn này.

Về câu hỏi thứ hai, có nên lấy cờ vàng làm cờ của cộng đồng người Việt hải ngoại không, tôi cũng nghĩ là không nên. Cờ vàng không có chức năng này. Nó là biểu tượng của một của một dự án quốc gia trên đất nước Việt Nam đã thất bại sau nhiều cố gắng và hy sinh của nhiều người vì sự bất xứng của những người lãnh đạo. Tùy cảm nhận của mỗi người, nó có thể là một cơ hội đã lỡ, một sự ân hận hay một tiếng thở dài, nhưng nó vẫn là lá cờ của một cuộc nội chiến. Nếu cộng đồng người Việt hải ngoại cần một biểu tượng thì không nhất thiết phải là một lá cờ, và biểu tượng đó phải chấp nhận được cho mọi người, phải nói lên tình yêu quê hương và sự liên đới giữa những người Việt Nam sống ở nước ngoài, trên mẫu số chung duy nhất là chúng ta cùng là người Việt. Vả lại, xuống cấp cờ vàng từ một quốc kỳ thành lá cờ của một cộng đồng lưu vong cũng không phải là một cách để tôn vinh nó, trái lại.

Nước ta chắc chắn sẽ còn mở ra nhiều hơn nữa với thế giới. Sẽ còn nhiều người ra nước ngoài, cộng đồng Việt Nam hải ngoại sẽ còn được tăng cường bởi những người không hề biết đến lá cờ vàng ba sọc đỏ. Các thế hệ sinh ra và lớn lên tại hải ngoại cũng không hề biết đến lá cờ này, cùng lắm họ chỉ biết tới nó như là lá cờ của một trong hai phe trong một cuộc nội chiến đẫm máu. Sử dụng một biểu tượng như vậy chỉ có tác dụng khiến họ quay lưng lại với Việt Nam.

Cần phản bác thẳng thắn lập luận lưỡng cực gò ép của những người quá khích. Họ buộc tội những người và tổ chức không lấy cờ vàng làm biểu tượng là chống cờ vàng, là khinh thường cờ vàng. Nhưng tôn trọng và lấy làm biểu tượng là hai điều rất khác nhau, cũng như không phải hễ ta quí trọng người nào thì phải lấy người đó làm vợ hay làm chồng. Người trí thức phải có can đảm trí thức, người đấu tranh chính trị phải có can đảm chính trị. Phải dám phản bác sự vô lý và dám lấy những quyết định và thái độ cần có.

Hãy trả lại cho lá cờ vàng ba sọc đỏ chỗ đứng đúng đắn của nó. Nó có thể có chỗ đứng trong gia đình để ghi nhớ một quãng đời. Đối với nhiều người, trong đó có kẻ viết bài này, nó là kỷ vật của một ước vọng ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản và xây dựng một nước Việt Nam có tự do và dân chủ, có chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người và được quản trị một cách hợp lý. Giấc mơ dù không thành nhưng vẫn đáng tự hào. Chỗ đứng của cờ vàng là chỗ đứng của một kỷ niệm của một giai đoạn lịch sử đau buồn vừa phải quên vừa phải nhớ. Nhớ đến những người đã hy sinh vì đất nước, nhớ đến những nạn nhân của cuộc chiến, nhớ để lịch sử đừng lặp lại. Và quên đi những thù hận đã tàn phá đất nước và còn có thể giam hãm chúng ta trong chia rẽ và bất lực.

Nguyễn Gia Kiểng
Thông Luận số 249, tháng 7-2010

Friday, 9 July 2010

Dustin Roasa – Các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam không hiện diện trong tâm tưởng phương Tây

Trần Quốc Việt dịch

Vào ngày 8 tháng Mười năm 2009, một phụ nữ người Hà Nội tên Trần Khải Thanh Thuỷ đi xuống Hải Phòng, thành phố biển ở Việt Nam, để dự phiên toà xử sáu nhà hoạt động đấu tranh dân chủ. Nhưng chị không đến được toà án. Ngược lại, chị bị công an chặn đường bắt phải quay về nhà chờ có thông báo mới. Tối hôm ấy, hai người đột nhập vào nhà dùng gạch đánh chị trước mặt chồng và con gái, trong khi đó các công an bên ngoài thản nhiên đứng nhìn. Rồi công an bắt chị và cáo buộc chị tội hành hung.

Phiên toà xử Trần Khải Thanh Thuỷ diễn ra vào tháng Hai năm nay và kéo dài một ngày. Chứng cớ buộc tội chính là tấm ảnh được xem là của nạn nhân, người bị băng bó ở đầu, về sau những người viết blog Việt Nam chứng minh rằng ảnh đó đã bị nguỵ tạo thô thiển. “Đây là sự thêu dệt và hoàn toàn vu cáo,” Trần Khải Thanh Thuỷ nói về những về những cáo trạng. “Tôi phản đối phiên toà này, và tôi không đến đây để chấp nhận điều này.” Toà án kết tội chị ba năm rưỡi tù, nhưng chị đã không nghe được bản án vì chánh án đã đuổi chị ra khỏi toà do tội tự tiện nói trước toà. Thông cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) tuyên bố là vụ xử “cố tình bóp méo sự thật.”

Đây không phải là sự bất đồng đầu tiên giữa Trần Khải Thanh Thuỷ với nhà cầm quyền. Chị đã bị ở tù vào năm 2007 vì viết những bài báo chỉ trích chính quyền và kêu gọi dân chủ đa đảng. Các tổ chức nhân quyền và chính phủ nước ngoài xem chị là tù nhân lương tâm và đang kêu gọi trả tự do cho chị. Chị ít nhất là nhà hoạt động đấu tranh dân chủ thứ mười sáu bị cầm tù ở Việt Nam kể từ tháng Mười năm 2009, nằm trong điều mà đại sứ Mỹ tại Việt Nam mô tả là sự “tăng vọt” các vi phạm nhân quyền.

Quả thực đã có sự tăng vọt, nhưng đấy chỉ là phần nào của câu chuyện lớn hơn rất nhiều, và có tính lịch sử hơn. Lần đầu tiên kể từ khi thống nhất vào năm 1975, Đảng Cộng sản cầm quyền đang đối mặt với sự thách thức bền bỉ hơn và có tổ chức hơn về tính chính danh của Đảng. Những người bất đồng chính kiến thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội đã cùng nhau kêu gọi tổ chức các cuộc bầu cử và đa nguyên chính trị. Phong trào này tuy nhỏ, nhưng đang lớn dần, và, xét theo mức độ trấn áp khốc liệt, nhà cầm quyền xem đây là vấn đề nghiêm trọng.

Song thế giới bên ngoài hầu như chẳng lưu ý đến. Là nhà báo đã từng làm việc ở Đông Nam Á trong năm năm vừa qua và hay tiếp xúc với các nhà hoạt động đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, tôi thường tự hỏi tại sao phong trào đã không thu hút đuợc sự quan tâm sâu rộng của thế giới như những phong trào tương tự ở Trung Quốc, Miến Điện, và Zimbabwe. Cho dù lý do thế nào chăng nữa, bạn có lẽ đang đọc ở đây lần đầu tiên một bài viết về phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam.

Câu chuyện ấy mở đầu vào ngày 8 tháng Tư năm 2006, khi một nhóm các nhà hoạt động dân chủ công bố trên mạng bản tuyên bố tên “Tuyên ngôn Tự do Dân chủ Năm 2006″. Hơn hai ngàn người bao gồm các luật sư, cựu đảng viên Đảng Cộng sản, nhà sư Phật giáo, linh mục Công giáo, nhà văn, trí thức từ mọi miền đất nước, liều bị bắt để ký tên vào văn kiện này. Họ được biết đến qua tên Khối 8406, được đặt tên theo ngày công bố bản tuyên ngôn. Tuyên ngôn kêu gọi tổ chức các cuộc bầu cử và kêu gọi xác lập một thể chế chính trị tôn trọng các quyền cơ bản, lời lẽ trong bản tuyên ngôn đánh thẳng vào phần cốt lõi nhất trong tính chính danh của Đảng. Các cuộc chiến tranh giành độc lập chống người Pháp và người Mỹ của Việt Nam, theo lời các tác giả của bản tuyên ngôn, về cơ bản thực chất là mang tính dân tộc. Song qua bạo lực và khủng bố trấn áp, những người theo đuổi ý thức hệ cộng sản đã cướp và tiếm đoạt công lao đấu tranh ấy để phục vụ cho các mục đích riêng của mình. Điều này đúng hay sai nói chung không quan trọng. Điều quan trọng là qua việc truy đuổi chính quyền ngay chính trên lãnh địa mà chính quyền xem là thiêng liêng, tức vai trò lãnh đạo của Đảng trong các cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất của Việt Nam, các nhà bất đồng chính kiến đang phát đi một thông điệp rằng họ không nói suông.

Nhà cầm quyền trả đũa bằng nhiều vụ bắt giam. Những ai thoát khỏi cảnh tù tội thì đối mặt với cảnh bị đánh đập, sách nhiễu, và hăm dọa. Báo chí nhà nước đăng những bài báo lên án những thành viên Khối 8406 là “lạm dụng tự do dân chủ” và mưu toan lật đổ chính quyền. Cuộc trấn áp này đã gây ra hậu quả đáng sợ. Đa số các nhà bất đồng chính kiến ngừng phát biểu công khai, nhưng một thiểu số rút lui vào hoạt động bí mật, họ vẫn âm thầm tiếp tục tổ chức và cho ra những nội san và tuyên bố.

Tôi có dịp thăm vài thành viên Khối 8406 ở Việt Nam vào mùa đông năm 2007, và tâm trạng của họ là bi quan. Mặc dù họ tin là, theo thời gian cùng với lòng kiên nhẫn, toàn thể nhân dân sẽ tìm thấy đủ can đảm để chung sức với họ, nhưng phong trào luôn luôn bị trấn áp và các thành viên đang bị mất hút dần vào chốn lao tù. Các nhà bất đồng chính kiến bị cô lập nên cần một vấn đề để kích hoạt sự ủng hộ. Người thì hy vọng các quyền lao động sẽ là câu trả lời – các cuộc đình công là hiện tượng ngày càng gia tăng tại các xí nghiềp trong nước – ngược lại kẻ thì hy vọng các quyền về đất đai và tự do tôn giáo sẽ tạo ra sự ủng hộ hợp lòng dân. Các nhà bất đồng chính kiến cũng hy vọng các nhà báo sẽ bắt đầu đổ xô vào trong nước để tường thuật câu chuyện của họ, và các nhà hoạt động dân chủ người nước ngoài sẽ quan tâm đến phong trào của họ. Trừ một vài ngoại lệ, bao niềm hy vọng này đã không thành. Tại sao?

Phải chăng Việt Nam thiếu một nhà lãnh đạo có tầm thu hút lớn để lay động luơng tâm thế giới, như Aung San Suu Kyi của Miến Điện hay Morgan Tsvangirai của Zimbabwe? Các nhà lãnh đạo phong trào Việt Nam không có nhân vật nổi tiếng tương tự, nhưng họ cũng đã chứng tỏ rất can đảm và từng trải qua nhiều gian khổ không kém. Chẳng hạn, bác sĩ Nguyễn Đan Quế ở thành phố Hồ Chí Minh, trong ba mươi năm vừa qua đã ở tù đến hai mươi năm, tuy nhiên không ai biết đến ông ngoại trừ các độc giả chăm chỉ nhất của trang mạng của tổ chức Human Rights Watch. Ông tranh đấu không ngừng nghỉ với tư cách tác giả, nhà tư tưởng, và nhà chiến lược của phong trào. Ông hiện thực sự sống trong cảnh bị quản chế tại gia, nơi ông bị công an theo dõi và sách nhiễu thường xuyên. Dù bản thân và gia đình đã phải trả một giá quá lớn, ông vẫn từ chối những lời mời sang sống lưu vong ở Hoa Kỳ. Không có tiếng nói nào tốt hơn cho phong trào bất đồng chính kiến Việt Nam bằng tiếng nói của Nguyễn Đan Quế. Nhưng thế giới chẳng đáp lại lời họ.

Phải chăng phong trào không có đủ sự ủng hộ ngay trong nước để được xem là một hiện tượng quần chúng thực sự? Mặc dù chính các nhà bất đồng chính kiến thừa nhận rằng phong trào còn nhỏ, có lẽ với chỉ độ vài ngàn thành viên tích cực, nhưng họ tuyên bố có nhiều người Việt Nam ủng hộ họ nhưng không thể bộc lộ do sợ nhà cầm quyền. Ta không có cách thật sự nào để kiểm chứng lời tuyên bố này, nhưng phong trào tranh đấu dân chủ tại Trung Quốc, vẫn số lượng nhỏ như vậy và vẫn sự ủng hộ không thể xác định được trong quần chúng như vậy, đã được truyền thông quốc tế bênh vực ủng hộ. Các nhà báo như Howard French trong suốt nhiều năm đã tích cực đưa những nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc lên trang nhất tờ New York Times, ngược lại tờ báo ấy quyết định nhắc đến các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam chỉ một vài lần. Còn các tờ báo khác hầu như hành xử cũng chẳng gì tốt hơn.

Phải chăng chính quyền Việt Nam thật ra chẳng tồi tệ đến như thế? Theo các tổ chức như Human Rights Watch, Freedom House, Phóng Viên Không Biên Giới, và nhiều tổ chức khác, Việt Nam là một trong những nước hà khắc nhất thế giới. Chính quyền Việt Nam không cho phép đối lập chính trị; chính quyền kiểm soát toàn bộ truyền thông trong nước; chính quyền không cho phép công nhân tập hợp tổ chức; chính quyền thường xuyên tịch thu đất đai của nông dân để làm giàu cho nhà cầm quyền và cho những kẻ có những mối quen biết về chính trị. Tuy nhiên không hiểu sao chính quyền đã tìm được cách giới hạn các cuộc thảo luận quốc tế về Việt Nam chỉ riêng vào lĩnh vực du lịch và kinh tế đang bùng nổ ở trong nước. Những người Phương Tây tái khám phá đất nước này sau nhiều năm cô lập đã kinh ngạc khi thấy Việt Nam không còn giống như vùng chiến sự ngày xưa và khi thấy Việt Nam mời gọi đầu tư nước ngoài. Các cuộc thảo luận hay trò chuyện đều không đi xa quá điều ấy.

Phải chăng thế giới đối xử Việt Nam khác vì Việt Nam chiếm một vị trí độc đáo trong tâm tưởng Tây Phương? Trước tiên, dĩ nhiên, “Việt Nam” gợi tưởng đến chiến tranh. Trong tâm tưởng Tây Phương, tất cả những ý nghĩa khác của từ này đều bắt nguồn từ sự gợi tưởng ấy. “Việt Nam” là ẩn dụ đầy bất trắc của niềm tự tin thái quá Tây Phương và, ngược lại, là sự cao quý của các phong trào cách mạng thế giới thứ ba. “Việt Nam” gắn liền với thập niên sáu mươi và với sự thay đổi căn bản trong các giá trị Mỹ cùng sự xuất hiện nền văn hoá đại chúng mới. Trong những năm gần đây, “Việt Nam” đã bắt đầu được dùng đến để biện minh cho nhiều lập trường trái ngược nhau về các cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Nếu ta ủng hộ sự tham chiến tiếp tục của Mỹ trong các cuộc chiến này, “Việt Nam” là câu chuyện cảnh báo về cái giá bỏ rơi đồng minh, là chuyện kể về các trại cải tạo và thuyền nhân. Còn nếu ta phản đối các cuộc chiến này, “Việt Nam” là câu chuyện cảnh báo không kém về những làng mạc bị ném bom tan tành và những người lãnh đạo không trung thực. Cho nên, ta không lấy làm ngạc nhiên rằng trong tâm tưởng Tây Phương, “Việt Nam” không còn giống nhiều Việt Nam ngày nay, một nước của tám mươi lăm triệu người dưới ách cai trị của một trong những chế độ độc tài cộng sản cuối cùng trên trái đất.

Dù vậy, có lẽ “Việt Nam” khắc sâu trong lòng nhất là Việt Nam của mặc cảm có tội. Chuyện Hoa Kỳ đã làm những điều kinh hoàng – từ chất độc da cam, ném bom rải thảm, đến những vùng oanh kích tự do – là hiển nhiên, và nhiều hậu quả từ những hành động này ngày nay ta vẫn còn nhìn thấy ở cảnh và người ở đấy.

Tôi sống ở Phnom Penh, Cambodia, một đất nước chỉ mới vừa đây thoát ra được cơn chấn thương từ cuộc chiến tranh Việt Nam mà họ đã bị lôi kéo vào. Trong những di sản thấy rõ nhất của thời chiến này là hình ảnh vô số người tàn phế ở trong nước, nhiều người trong số họ bị mất tay chân do hàng ngàn quả bom chưa nổ do máy bay Mỹ thả xuống trong những phi vụ bí mật ở miền đông Cambodia đã san bằng toàn bộ những ngôi làng và sát hại hàng chục ngàn người. Những vùng rộng lớn ở miền đông Cambodia hiện vẫn còn đầy rẫy những quả bom còn sót lại chưa nổ này, để rồi từ đấy tiếp tục giết và gây tàn phế cho nhiều người Cambodia nghèo ở nông thôn. Việt Nam cũng có những tàn tích riêng của cuộc chiến, trong đó có đạn pháo chưa nổ còn sót lại và những trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh do chất độc da cam gây ra. Tôi sống và làm việc ở Việt Nam từ năm 2004 đến 2005, và bản thân thường cảm thấy it nhiều ray rứt hay xấu hổ. Nhưng tôi ngạc nhiên rằng tôi không bao giờ gặp phải sự thù hận từ phía những người Việt Nam. Thay vào đấy, tôi chủ yếu cảm nhận sự cởi mở và quan tâm. Có nhiều dịp khi chủ đề chiến tranh được nhắc đến, phản ứng thường phụ thuộc tuổi tác người đối diện. Người trẻ nói chung thờ ơ về cuộc xung đột đã diễn ra trước khi họ chào đời và chẳng ảnh hưởng gì mấy đến cuộc đời họ. Còn những người Việt Nam đủ lớn tuổi để trải qua chiến tranh nói chung là rất lịch sự, tôi nghĩ điều này có lẽ do người Việt Nam phân biệt rạch ròi giữa nhân dân Mỹ và các hành động của chính quyền Hoa Kỳ. Tôi thậm chí thỉnh thoảng đã gặp phải điều mà tôi hiểu là sự thương hại, mà tôi tin là có liên quan đến kết quả của cuộc chiến: họ thắng ta thua. Tuy thế tôi vẫn không bao giờ cảm thấy vơi hết sự ray rứt và xấu hổ trong lòng.

Khi ở Việt Nam phần lớn thời gian tôi làm việc cho các báo nhà nước ở Hà Nội. Vào đầu đợt làm việc ở một trong những tờ báo này, tôi có lần biên tập một bài báo về các phi công Mỹ trong thời gian chiến tranh bị giam tại “Khách sạn Hilton”, một nhà tù miền Bắc khét tiếng về việc đối xử tàn tệ và tra tấn các người tù. Bài báo khẳng định rằng miền Bắc Việt Nam đã đối xử tốt với các người tù. Để chứng minh điều ấy, báo đưa ra một loạt các tấm hình trắng đen đã bị nổi hột chụp cảnh người Mỹ đang chơi bóng chuyền và đánh cờ và ngồi thành vòng tròn trò chuyện với nhau ở trong sân nhà tù. Qua các dáng bộ cứng ngắc và những nụ cười gượng gạo, những tấm hình này rõ ràng đã được dàn dựng trước. Tôi nghĩ đến chuyện nên than phiền với người biên tập về điều này. Không phải vì lời góp ý sẽ thay đổi số báo ra ngày hôm sau – những người phụ trách kiểm duyệt của báo đều có quyết định cuối cùng về tất cả nội dung của báo sẽ được in ra – mà vì, ít ra, cũng phải có người lên tiếng phản đối. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ lại, tôi đã từ bỏ ý định ấy. Là người Mỹ, tôi lập luận, tôi không có quyền phàn nàn, khi xét đến tất cả những chuyện ghê sợ mà nước tôi đã gây ra ở Việt Nam trong thời chiến tranh. Chẳng quan trọng là những chuyện này xảy ra trước khi tôi sinh ra, và tôi sẽ lên án những chuyện này ngay nếu có bất kỳ ai hỏi đến. Tôi sẵn sàng chấp nhận phiên bản lịch sử mà tôi biết là giả dối để tránh đối diện với cảm giác xấu hổ mà tôi đã không tìm được những lời giải hợp lý.

Từ nơi ấy tôi nhảy ngay qua nơi khác với những công việc mới còn đáng lo hơn nhiều. Những tù binh cuối cùng đã trở về Hoa Kỳ cách đây hơn ba mươi năm; thế còn ở đây ngay bây giờ thì sao? Ngoài các nhà bất đồng chính kiến, trong dân chúng nói chung ở Việt Nam có sự bất mãn thật sự về chế độ chính trị hiện nay. Sau nhiều tháng gầy dựng lòng tin, một số người Việt Nam tôi quen biết đã thổ lộ tâm tư của mình. Một người bạn làm báo đã chợt vỡ lẽ ra khi đọc cuốn Mộ Lenin của tác giả David Remnick tại một đại học ở nước ngoài. “Cũng giống như ở đây thôi,” chị thì thầm với tôi vào một buổi tối khá khuya ở một nhà hàng, “Tôi chẳng biết làm gì về hơn về chuyện này. Tôi còn phải lo cho gia đình.” Một tay ghi-ta chơi cho một trong vài ban nhạc rock trong nước phàn nàn rằng các nghệ sĩ trình diễn phải cẩn thận những gì họ nói trên sân khấu vì sợ rắc rối với công an. Một nha sĩ thất nghiệp cho biết ông không mở phòng mạch được vì thiếu tiền lo lót.

Là ngoại kiều, tôi sống thoải mái và chẳng phải lo sợ gì nhà cầm quyền. Nhưng hễ lúc nào tôi bắt đầu quên đi hiện thực trước mặt, thì một sự việc đã xảy ra thoáng qua trên đường phố lại hiện về nhắc nhở tôi đến thực tại thực sự như thế nào. Tôi sẽ không bao giờ quên cái cảnh tượng một người phụ nữ bán trứng rong bị một tốp công an đánh đập vào một buổi sáng trên đường tôi lái xe đi làm. Chị là phụ nữ nghèo ở nông thôn dạt lên thành phố kiếm sống, và tôi chẳng biết chị bị tội gì, hay có lẽ tội vặt vãnh không đáng. Khi lòng đỏ trứng ứa ra từ những vỏ trứng bị bể chảy xuống lòng đường, những người đang trên đường đi làm thấy vậy khiếp sợ giả vờ không chú ý đến, còn người phụ nữ bán hàng rong ấy nhẫn nhục chịu đòn mà không một lời cầu cứu. Tôi cố gắng không chú ý đến cảnh tượng đau lòng đang xảy ra ấy, nhưng khác với những người đi đường khác, tôi không sợ công an. Các lý do của tôi thì khác, và đến thời điểm ấy đã trở thành một phản xạ: tôi lấy quyền gì mà lên án vụ đánh người ấy, xét đến những gì nước của tôi đã gây ra tại Việt Nam trong thời chiến?

Niềm ray rứt và nỗi xấu hổ đằng sau quyết định của tôi đã không phản đối vụ đánh đập chị bán trứng rong ấy, tôi tin, cũng chính là các thôi thúc giải thích quyết định của cộng đồng quốc tế làm ngơ trước phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Một người Tây Phương ủng hộ dân chủ ở Việt Nam đương thời có thể gượng gạo nêu ra nhiều lý lẽ tương tự như những lý lẽ biện minh cho chiến tranh của người Mỹ – phải chăng chúng ta đã không rút ra được bài học gì? Hãy quên đi rằng đưa ra sự ủng hộ công khai, và, nếu cần thiết, cả về vật chất cho phong trào bất đồng chính kiến sở tại là tuyệt đối khác hẳn với sự ủng hộ can thiệp bằng quân sự. Theo nếp nghĩ này, những người Tây Phương đã từ lâu mất đi “thẩm quyền đạo đức” của mình để can dự vào Việt Nam đương thời ngoại trừ với tư cách du khách hay nhà đầu tư.

Một vấn đề gắn liền với sự giả định này là thực ra nó chỉ là sự ích kỷ vì nó cho phép những người Tây Phương tránh đưọc những cảm xúc phức tạp và khó chịu. Vấn đề khác là chẳng ai bận tâm nói chuyện với những người Việt ấy. Ta có thể hỏi những nhà bất đồng chính kiến ấy sự ủng hộ nào họ muốn, dù rằng các câu trả lời của họ cho câu hỏi này sẽ gây ra những nguy hiểm rất lớn cho bản thân họ.

Các nhà bất đồng chính kiến mà tôi biết hy vọng sự tham gia nước ngoài vào sự nghiệp đấu tranh của họ. Họ cần đến sự ủng hộ của các nhà báo và các nhà hoạt động dân chủ để thuật lại câu chuyện của họ và qua đó áp lực Đảng Cộng sản phải thay đổi. Thêm vào đấy, họ nói, cộng đồng quốc tế có nghĩa vụ buộc Việt Nam phải tôn trọng những tiêu chuẩn nhân quyền thông qua những tổ chức quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập hay hy vọng gia nhập. Cuối cùng nhiều người chọn ra Hoa Kỳ: người Mỹ phải tác động hơn nữa, vừa với tư cách cá nhân và vừa thông qua chính phủ, để đòi hỏi có sự thay đổi ở Việt Nam.

Điểm cuối cùng này dễ dẫn đến tranh cãi, nhưng nó không dựa vào niềm tin hơi ngây thơ về các ý định của Mỹ; mà đấy là sự thừa nhận hiện thực có tính địa-chính trị. Hoa Kỳ là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam; Hoa Kỳ cũng là nơi có cộng đồng người Việt lưu vong đông nhất thế giới; người Mỹ là một trong những nhóm khách du lịch lớn nhất đến Việt Nam hàng năm; và, tuy Trung Quốc mới trỗi lên gần đây, nhưng Hoa Kỳ vẫn là người dự phần có ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á. Những hoang tưởng do tội lỗi gây ra về những người Mỹ đang sám hối tội lỗi của họ trong quá khứ bằng cách đứng bên lề vẫn chỉ đơn thuần là những hoang tưởng. Chúng không giải thích sự ảnh hưởng ngày càng tăng của Mỹ ở tại nước này. Khi mối ảnh hưởng này còn duy trì, thì người Mỹ phải bảo đảm rằng nó có yếu tố nhân quyền mà không nhất thiết phải hợp với quyền lợi Mỹ về thương mại hay về chiến lược.

Trong các nhà bất đồng chính kiến tôi có dịp nói chuyện, Nguyễn Thanh Giang, nhà địa vật lý bảy mươi bốn tuổi ở miền Bắc, có những quan điểm khá tiêu biểu về những chủ đề này. Tuy ông chưa bao giờ là đảng viên Đảng Cộng sản, nhưng ông vẫn được giữ chức vụ lãnh đạo ở Cục Địa chất Hà Nội trong một thời gian dài. Chính quyền cho phép ông sang Hoa Kỳ để dự một số hội nghị vào những năm tám mươi và chín mươi – ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên được phép đến Mỹ – nhờ vậy ông đã mở mắt thấy được những vấn đề ở Việt Nam. Từ đấy ông bắt đầu viết những bài góp ý và thư ngỏ gởi tới Đảng nhằm kêu gọi cải cách. Năm 1999 ông bị bắt giam về tội bất đồng chính kiến và bị biệt giam hơn một tháng, nhưng ông được thả ra do áp lực từ chính phủ Hoa Kỳ và từ các tổ chức nhân quyền và khoa học. Hiện giờ ông về hưu và sống trong cảnh bị quản chế tại gia ở Hà Nội.

Tuy Nguyễn Thanh Giang kêu gọi Mỹ ủng hộ sự nghiệp đấu tranh dân chủ, nhưng ông không phải là kẻ biện minh cho những hành vi của Mỹ trong thời chiến. Người Mỹ đúng khi cảm thấy đau buồn và xấu hổ, ông viết trong một điện thư gởi cho tôi. “Nhưng nhà cầm quyền Việt Nam cũng phải nên bày tỏ sự đau buồn và xấu hổ tương tự,” ông viết. Chế độ ở Việt Nam đã làm những chuyện “trái với đạo lý và xuẩn ngốc không kém” trong và sau chiến tranh, bao gồm chiến dịch Cải cách Ruộng đất giữa thập niên 1950 đã khiến hàng trăm ngàn người chết, và vụ trấn áp tàn bạo phong trào Nhân Văn, một nhóm cải cách của Đảng Cộng sản. Ông nêu những chuyện này ra không phải để xí xoá cho hành vi của Mỹ, mà để chứng minh điều ông tin là bản chất thật sự của chiến tranh, tức một “trò chơi bẩn thỉu” mà khi tàn cuộc không ai lại không vấy bùn. Nhưng tội lỗi không có nghĩa là sự ân hận nên khiến cho người Mỹ bị tê liệt; trái lại, họ nên coi đó là một trách nhiệm đặc biệt để “đền bù sự tàn phá do bom Mỹ gây ra ở Việt Nam ” bằng cách ủng hộ phong trào đấu tranh dân chủ.

Một số người Mỹ đã lên án tình cảnh tại Việt Nam. Song rất ít người trong số họ thuộc về cánh Tả. Một số nhỏ các tờ báo Mỹ đăng những bài ủng hộ phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam thường có khuynh hướng bảo thủ: các tờ Wall Street Journal, New York Post, New York Sun. George W. Bush đã mời bốn nhà hoạt động dân chủ người Mỹ gốc Việt, trong đó có một người từng bị ở tù, đến toà Bạch Ốc vào năm 2007 và giúp đạt được sự phóng thích cho nhà bất đồng chính kiến trên mạng Nguyễn Vũ Bình trước khi Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết thăm toà Bạch Ốc trong cùng năm. Barack Obama, ngược lại, đã không biểu lộ sự quan tâm như thế về chủ đề này, mà ta có lẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên vì ông cũng chẳng mở miệng nói gì về nhân quyền ở Châu Á. Như vậy chỉ còn lại hai nhóm cử tri chính người Mỹ hoạt động tại Việt Nam, và cả hai đều bảo thủ: mạng lưới những người quan tâm đến tự do tôn giáo và các nhà đầu tư quan tâm đến tự do kinh tế.

Tự do tôn giáo và tự do kinh tế thật sự là những vấn đề quan trọng đối với phong trào đấu tranh dân chủ, nhưng chương trình hành động của phong trào bao quát hơn nhiều và bao gồm những vấn đề tha thiết đối với những ai cấp tiến, chẳng hạn các vấn đề người thiểu số và các quyền lao động. Những nhà bất đồng chính kiến xem mình là đồng minh tự nhiên của hàng triệu công nhân Việt Nam đang làm việc tại các nhà máy sản xuất hàng hoá cho Phương Tây. Các cuộc đình công, tuy bất hợp pháp, nhưng đã gia tăng trong những năm vừa qua, nên các nhà bất đồng chính kiến đang cố gắng đi sâu vào công nhân, bất chấp chính quyền ra sức ngăn chặn họ. Chừng nào chính quyền Việt Nam và giới chủ Tây Phương là những tiếng nói duy nhất ở các nhà máy, các công nhân nhất định còn chịu bao điều kiện khắc nghiệt, tiền công thấp, và sự cô lập về chính trị.

Tuy nhiên, vẫn có con đường tiến đến tương lai cho những người Mỹ nào quan tâm đến dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Khi hồi tưởng lại quá khứ của mình ở Việt Nam, Hoa Kỳ hầu như chẳng có gì để cảm thấy tốt, nhưng nước Anh cũng đâu có vui gì khi hồi tưởng lại lịch sử của họ ở Zimbabwe hay ở Miến Điện. Thế mà người Anh và chính quyền họ đã và đang là những người chỉ trích chính cả hai chế độ, cho dù biết làm thế là chịu đựng những lời tố cáo có thể đoán trước được như thói xưa đánh chết cũng không chừa. Người Mỹ cất tiếng phản đối chế độ hiện nay tại Việt Nam có thể lường trước lời tố cáo như vậy từ chính quyền Việt Nam và cũng từ bên ngoài nước này. Điều ấy sẽ gợi lên những ký ức không vui, nhất là đang có chiến tranh diễn ra tại Iraq và Afghanistan.

Nhưng cái giá đứng bên lề lại quá cao, đặc biệt khi xét đến những biến chuyển gần đây ở Việt Nam mà gợi ý rằng phong trào đang ở vào một giai đoạn rất quan trọng. Vào mùa hè năm 2008, các nhà bất đồng chính kiến nhận một món quà không ngờ từ nhà cầm quyền. Chính quyền Việt Nam đã âm thầm nhượng đất trị giá hàng tỷ đô la cho một công ty Trung Quốc ở cao nguyên trung phần Việt Nam. Theo điều khoản của việc mua bán này, công ty Trung Quốc đã đưa vào hàng ngàn công nhân nước ngoài, vào lúc thất nghiệp lên cao tại Việt Nam, và họ đồng thời xây dựng những khu nhà ở và những nhà hàng mang bảng hiệu tiếng Trung Quốc.

Ít có vấn đề nào đoàn kết người Việt Nam cho bằng sự nghi ngờ về người hàng xóm to lớn của họ ở phương Bắc. Hai nước có chung lịch sử đầy sóng gió được đánh dấu qua những thời kỳ dài Bắc thuộc và chiến tranh, gần đây nhất là cuộc chiến tranh tuy ngắn nhưng đẫm máu vào năm 1979. Phản ứng mạnh mẽ chống lại vụ khai thác mỏ đã bùng lên. Tướng Võ Nguyên Giáp chín mươi tám tuổi, vị anh hùng quân đội của Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, đã công khai chỉ trích sự nhượng bộ đất đai này. Những người viết blog ở Việt Nam viết về hiểm hoạ thâm nhập từ các nhân viên tình báo và quân đội bí mật Trung Quốc. Phong trào đấu tranh dân chủ đã chụp lấy vấn đề này này để phát ra những lời hiệu triệu cháy bỏng kêu gọi lòng yêu nước của người Việt được lồng trong những nguyên tắc dân chủ: tầng lớp cai trị cao nhất trong chính quyền tham lam, vô trách nhiệm, đang bán đứng linh hồn Việt Nam cho Trung Quốc, và chỉ có thể chế chính trị thật sự dân chủ mới có thể ngăn chặn họ lại.

Một người chỉ trích đã kết nối vấn đề Trung Quốc với dân chủ là Lê Công Định, luật sư bốn mươi mốt tuổi từng theo học tại Đại học Tulane nhờ học bổng Fulbright. Lê Công Định nổi tiếng ở Việt Nam sau khi đại diện cho chính phủ trong một số vụ kiện nổi bật, trong đó có việc tranh chấp thương mại với Hoa Kỳ về vụ bán phá giá cá ba sa, mà Việt Nam đã thắng. Anh cũng đảm nhận công việc đầy bất trắc là biện hộ cho các nhà bất đồng chính kiến tại toà, nhưng danh tiếng cùng với địa vị cao trong chính quyền đã bảo vệ anh khỏi bị trả thù. Cuối cùng anh bị rắc rối với nhà cầm quyền khi anh bắt đầu viết các bài về vụ khai thác bauxite và cũng về vụ tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc liên quan đến các đảo có tiềm năng chứa nhiều dầu lửa trên biển Đông. Vào ngày 20 tháng Giêng năm nay, anh bị kết án năm năm tù vể tội tuyên truyền chống nhà nước. Án tù áp đặt lên Lê Công Định phát đi một tín hiệu rõ ràng: phát biểu công khai về Trung Quốc và dân chủ sẽ không dược dung thứ, dù với những ai có mối quan hệ với chính quyền hay xuất thân trong các gia đình tốt về chính trị.
Khi qua vấn đề Trung Quốc, ngày càng có nhiều người Việt trở nên ý thức về phong trào đấu tranh dân chủ, và khi sự trấn áp các nhà bất đồng chính kiến càng tiếp tục khốc liệt như hiện nay, sự ủng hộ quốc tế dành cho sự nghiệp đấu tranh dân chủ ở Việt Nam càng cực kỳ quan trọng hơn bao giờ hết. Trường hợp Lê Công Định nhắc nhở rằng trong các xã hội chuyên chế, bất đồng chính kiến là một chuyện đầy nguy hiểm mà chẳng đảm bảo thắng lợi. Dù vậy, ta hãy tưởng tượng nếu những lời kể của Solzhenitsyn về các quần đảo ngục tù bị bỏ rơi ngoài tai. Hay nếu Hiến chương 77 không bao giờ được ai ngoài biên giới Tiệp Khắc đọc đến. Ngay giờ đây có những Solzhenitsyn và những Havel ở Việt Nam. Liệu có ai sẽ lắng nghe họ?

Dustin Roasa là nhà báo tự do tại Cambodia viết về các vấn đề nhân quyền và phát triển ở Đông Nam Á. Ông đã sống ở Việt Nam từ năm 2004 đến 2005 và thường quay trở lại Việt Nam.

Nguồn: “Vietnamese Dissidents: Absent from the Western Mind”, Tạp chí Dissent, số mùa Hè năm 2010.

Thursday, 8 July 2010

TS luật Cù Huy Hà Vũ nói về 2 sai phạm của cấp lãnh đạo

Theo RFA

Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương vừa đưa ra quyết định kết luận hơn 45 vụ việc sai phạm của các cấp lãnh đạo nhiều tỉnh thành.

Trong đó 2 vụ nổi bật nhất là Nguyễn Trường Tô, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự Đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang đã mua dâm hai trẻ vị thành niên với sự bao che của Bí thư tỉnh ủy và Giám đốc công an tỉnh Hà Giang.

Vụ thứ hai là kỷ luật đảng đối với ông Phạm Thanh Bình, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam còn được biết dưới tên Vinashin do ông này thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Liệu các vụ kỷ luật, cách chức hay đề nghị này có phù hợp với pháp luật Việt Nam hay không? Mặc Lâm phỏng vấn TS luật Cù Huy Hà Vũ để tìm câu trả lời sau đây.
Không khởi tố, chỉ "nhắc nhở"

Mặc Lâm: Thưa Tiến Sĩ, trong văn bản thông báo về biện pháp kỷ luật đối với ông Nguyễn Trường Tô của Ban Kiểm Tra Trung Ương có ghi nhận rằng việc làm sai trái của ông Tô đã được hai ông Bí thư tỉnh ủy và Giám đốc công an tỉnh Hà Giang biết rõ và có bằng chứng cụ thể nhưng hai ông này không báo cáo hay có biện pháp nào xử lý cả. Xin Tiến Sĩ cho biết có thể khởi tố hai ông này về tội bao che hay là cố tình cản trở pháp luật hay không?

TS Cù Huy Hà Vũ: Như chúng ta đã biết việc Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang - Nguyễn Trường Tô đã có hành vi mua dâm, hơn cả mua dâm nữa, tức là hành vi giao cấu với các trẻ em gái vị thành niên, và việc các cơ quan đảng - chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật ở tỉnh Hà Giang, mà cụ thể là Giám đốc Công an, đã không khởi tố vụ án để đưa ông Nguyễn Trường Tô ra vành móng ngựa về các hành vi giao cấu với trẻ vị thành niên, thì tôi cho rằng đại diện những cơ quan đó, và bản thân Giám đốc công an phạm tội đồng lõa che giấu tội ác.

Nếu không đuổi Nguyễn Trường Tô ra khỏi đảng này thì Đảng CSVN vốn đã mất rất nhiều uy tín, lại còn cõng thêm trong hàng ngũ của mình một tội phạm ở cương vị cao nhất của một tỉnh đã lợi dụng quyền hạn và chức vụ của mình để làm những việc đồi bại như thế thì uy tín đảng sẽ hầu như sụp đổ.

Dư luận đã lên tiếng quá mạnh thì không lẽ không động chân động tay, nhưng cái động chân động tay này nó không mang tính pháp luật, mà nó hoàn toàn mang tính trong nhà nhắc nhở lẫn nhau.
» LS. Cù Huy Hà Vũ

Mặc Lâm: Cũng trong văn bản của Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương có nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần cụm từ “nhắc nhở” của Ủy ban này đối với các người vi phạm. Liệu chữ “nhắc nhở” phải được hiểu như thế nào khi Ủy ban này biết kẻ ấy có tội nhưng không khởi tố trước một tòa án hình sự mà chỉ xét xử nội bộ? Liệu hành động này có vi phạm pháp luật hay không ạ?

TS Cù Huy Hà Vũ: Hoàn toàn chính xác! Cái từ "nhắc nhở " đã thể hiện là Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương đã biết những hành vi phạm tội nhưng vì cái đảng này nó bọc lót cho nhau để mà bảo vệ các quyền lợi cho nhau thì có những nhân vật, có những băng nhóm nào đó sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ Nguyễn Trường Tô trên cơ sở khai thác nguồn tài sản ở tỉnh Hà Giang.

Bởi vì dư luận đã lên tiếng quá mạnh thì không lẽ không động chân động tay, nhưng cái động chân động tay này nó không mang tính pháp luật, mà nó hoàn toàn mang tính trong nhà nhắc nhở lẫn nhau. Điều này càng cho thấy rằng Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương không phải là cơ quan bảo vệ pháp luật, và nó càng cho chúng ta thấy ban lãnh đạo đảng không trừng trị tội phạm theo đúng pháp luật - bởi vì đây là tổ chức đảng - và chính vì thế tôi cho rằng việc Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương chỉ "nhắc nhở" thì Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương cũng là đồng lõa với hành vi phạm tội của Nguyễn Trường Tô.

Mặc Lâm: Những vi phạm của ông Nguyễn Trường Tô nếu có thì phải được chứng minh trước một tòa án hình sự và không ai có quyền tuyên bố ông này có tội khi chưa được xét xử. Việc Ủy Ban Kiểm Tra trung Ương kỷ luật và tuyên bố ông Tô có tội thì liệu có vi phạm luật pháp Việt Nam hay không?

TS Cù Huy Hà Vũ: Ở trong mọi tổ chức chính trị, hay cụ thể trong nội bộ của một đảng, mà cụ thể trong trường hợp này là trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam, thì trong nội bộ có Ủy Ban Kiểm Tra, thế thì người ta hoàn toàn có quyền nhận định một thành viên của đảng là có những hành vi vi phạm pháp luật hay không, hoặc là những vấn đề khác như vấn đề đạo đức, vân vân và vân vân.

Trong nội bộ người ta hoàn toàn có quyền kỷ luật thành viên của mình, đấy là thông lệ rất chung trên toàn thế giới, thế nhưng cái điều quái gở ở Việt Nam là cái kỷ luật của đảng (cộng sản) thì nó lại hình như thay cho việc xử lý theo luật pháp.

Ví dụ như ở trong đảng chỉ nói là "nhắc nhở" thôi thì gần như chắc chắn là vụ việc sẽ không bị khởi tố, Nguyễn Trường Tô sẽ không bị các cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố theo đúng bộ luật hình sự về hành vi giao cấu với trẻ vị thành niên. Bởi vì ở trong đảng là "nhắc nhở", rồi đảng tự cho mình là "lãnh đạo", thành ra một khi người lãnh đạo bảo "không, cái tay này chỉ nhắc nhở thôi chứ không thể xử lý hành chính" và như vậy thì các cơ quan bảo vệ pháp luật khác đều dưới tay đảng, đều dưới ban lãnh đạo cao cấp của đảng thì chắc chắn không thể đưa Nguyễn Trường Tô ra trước pháp luật.

Tuy nhiên, hiện nay tình hình Việt Nam có khác, đảng là một chuyện, đối với chúng tôi thì pháp luật ở trên tất cả, trên cả đảng, đương nhiên là như thế! Cho nên cái chuyện ban lãnh đạo đảng, mà ở đây là Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, có kỷ luật Nguyễn Trường Tô dưới hình thức nào đó, nhắc nhở hay gì gì đó, thì đối với người dân mà cụ thể đối với các công dân thì hoàn toàn vô nghĩa. Chúng tôi không phải thuộc diện đảng lãnh đạo, đảng chỉ thị, cho nên chúng tôi yêu cầu xử lý Nguyễn Trường Tô theo pháp luật.
"Tập đoàn của Nguyễn Tấn Dũng"

Mặc Lâm: Riêng trường hợp ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội Đồng quản trị của VINASHIN, đã sai phạm quá rõ từ nhiều năm qua chứ không phải mới đây vì dư luận đã kêu nài về những thất bại của Vinashin rất nhiều, thế nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bảo lãnh cho tập đoàn này vay trái phiếu 750 triệu Mỹ kim để họ tiếp tục dùng số tiền này vào những việc làm không hiệu quả. Như vậy thì liệu Thủ tướng có phải trả lời trước quốc hội về hành động này hay không và nếu dư luận yêu cầu ông từ chức thì liệu có hợp với Hiến Pháp Việt Nam hay không?

TS Cù Huy Hà Vũ: Từ lâu mọi người đã biết Vinashin là một tập đoàn không làm nên trò trống gì mà chỉ là cái nơi để trút tiền của nhà nước, tức là của dân, vào Vinashin để rồi thất thoát dẫn đến việc tập đoàn Vinashin trên bờ vực phá sản, vậy thì ai chịu trách nhiệm cái sự thua lỗ, hay nói đúng ra cái sự thất thoát tiền bạc vô cùng lớn của người dân Việt Nam?

Ở đây chúng ta phải phân tách ra có hai loại trách nhiệm. Trách nhiệm thứ nhất, trực tiếp, là những người quản lý tài sản đó, đó chính là Hội đồng quản trị, trong đó có Chủ tịch Hội đồng quản trị mà ở đây là ông Phạm Thanh Bình. Và trách nhiệm thứ hai là Ban giám đốc gồm Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc và những người có chức vụ cao trong tập đoàn Vinashin đấy.

Theo tôi, tất cả những người này phải bị khởi tố ít nhất về cái tội gọi là "thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" đã được quy định trong Bộ luật hình sự. Thế còn về trách nhiệm của Thủ tướng chính phủ thì ở trong dân gian từ lâu tôi đã nghe nói "đây là tập đoàn của Nguyễn Tấn Dũng". Nguyễn Tấn Dũng hội cho cái tập đoàn này, xây dựng cho nó bằng cách trút tiền của nhà nước không biết bao nhiêu mà kể, bất chấp những kết quả là không rõ ràng, thậm chí có khi là thua lỗ nặng mà vẫn tiếp tục nhồi cho Vinashin, vì nó đơn giản là để lại "lại quả" bao nhiêu phần trăm đấy thôi, bởi đó là nguyên tắc rồi.

Bởi vì ở trong đảng là "nhắc nhở", rồi đảng tự cho mình là "lãnh đạo", các cơ quan bảo vệ pháp luật khác đều dưới tay đảng, đều dưới ban lãnh đạo cao cấp của đảng thì chắc chắn không thể đưa Nguyễn Trường Tô ra trước pháp luật.
» LS. Cù Huy Hà Vũ

Không một người quản lý ở đất nước nào khi thấy một tập đoàn bị lỗ nặng mà vẫn tiếp tục nhồi tiền cho nó cả! Trong những trường hợp đó, theo thông lệ về mặt kinh tế, khi một công ty phá sản, nếu như nó là một tập đoàn lớn thuộc nhà nước thì nhà nước ra hẳn cả một cái ban tạm thời xử lý vấn đề thua lỗ của Vinashin. Nhưng ở đây Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vác tiền bạc của nhà nước nhồi vào Vinashin rồi để nó sụp đổ thì chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại tẩu tán những hành vi tội phạm của Vinashin bằng cách nhập rất nhiều công ty của Vinashin vào các tập đoàn quốc doanh khác thì có khác gì là xóa dấu vết, tôi nhắc lại rằng đây là xóa dấu vết tội phạm tham nhũng, xóa dấu vết tội phạm "cố ý làm trái những quy định của nhà nước gây những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế" được quy định trong bộ luật hình sự.

Trong trường hợp này Quốc hội cần lập ra một ủy ban đặc biệt để điều tra về hành vi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục cấp những khoản tiền vô cùng lớn cho một tập đoàn đã biết rõ là nó đang trên bờ phá sản. Sau khi có kết luận của ủy ban đặc biệt của Quốc hội và ủy ban đặc biệt ấy sau khi điều tra xong sẽ báo cáo trước Quốc hội thực trạng của vấn đề như thế nào thì trên cơ sở đó Quốc hội sẽ quyết định về cái tương lai của Nguyễn Tấn Dũng với tư cách là thủ tướng.

Nguyễn Trường Tô: Ông Tô giải trình những gì?

Theo Đại Đoàn Kết

Ông Nguyễn Trường Tô có nguyện vọng muốn được... hạ cánh an toàn bằng cách “điều động đi khỏi Hà Giang”.

Tại “Báo cáo giải trình” (dài 5 trang) của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô mà báo Đại Đoàn Kết có được, 2 trang đầu là phần lý lịch và thành tích.

Theo đó, ông Tô sinh năm 1953 tại Thái Bình, vào Đảng năm 1983. Trình độ văn hóa 10/10, chuyên môn: đại học kinh tế quốc dân, chính trị: cao cấp... Tháng 12/2005, được cử giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy và tháng 3-2006 được HĐND bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang cho tới nay.

Mục kỷ luật, ông Tô khai năm 2008 bị Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách vì có vi phạm trong thực hiện qui chế hoạt động của Ban cán sự Đảng UBND tỉnh và trách nhiệm giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH Sông Lô.

Về khen thưởng, ông Tô khai được Huân chương lao động hạng 3, nhiều bằng khen của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, nhiều kỷ niệm chương của các Bộ ngành trung ương. Đặc biệt, phân loại đảng viên trong 5 năm liền từ 2005-2009, ông Tô đều đạt danh hiệu đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chỉ có một năm 2008 đạt mức “hoàn thành nhiệm vụ” nhưng không có chữ xuất sắc.

Tự nhận xét về ưu điểm, phẩm chất đạo đức chính trị bản thân, ông Tô đánh giá mình là người “dám làm dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, luôn sâu sát cơ sở, xử lý kịp thời những nảy sinh và những vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Bản thân và gia đình luôn gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, không có bất cứ việc làm vụ lợi, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vun vén lợi ích cá nhân, không tham nhũng tiêu cực..., luôn được nhân dân, cán bộ, đảng viên nơi cư trú và làm việc tin cậy, quí mến”.

Giải trình về vụ những bức ảnh khỏa thân của mình được chụp trong máy điện thoại di động của một cô gái mại dâm, ông Tô khẳng định “sự việc trên là không có căn cứ...” và việc đó là nhằm để “hạ uy tín” của ông.

- Việc vợ con ông Tô đánh ghen ở Hà Giang, ông Tô giải trình: “Đó là vụ một số kẻ có môi giới mại dâm ở thị xã dụ các cháu học sinh Trường Trung học Y tế đến khách sạn Việt Trung bán dâm, trong đó có cháu B.T.N. Cháu N không nghe, bỏ về và sau đó nói lại với những người kia nặng lời. Những người kia đã thuê taxi Trường Xuân, đẩy cháu lên xe hành hung và xỉ nhục cháu... và nói là “vợ ông Tô xử lý mày”... Cháu N có báo cho ông C. và tôi. Tôi đã giao cho công an thị xã làm rõ (có báo cáo của công an thị xã kèm theo). Đó là một hành động vi phạm pháp luật nhưng công an thị xã báo cáo lên công an tỉnh không thấy xử lý gì? Và cho rằng chưa cấu thành tội phạm và để dư luận đồn thổi vợ con tôi đánh ghen!”

Vụ án mua bán dâm người vị thành niên liên quan đến Hiệu trưởng Sầm Đức Xương và những nghi án từ lời khai của các bị can cho rằng ông Tô đã mua dâm người vị thành niên, ông Tô đề nghị làm rõ những khuất tất vì sao hoãn phiên tòa phúc thẩm, vì sao Trại giam cho luật sư tự do gặp bị cáo? Và ông Tô đặt dấu hỏi phải chăng đó là việc “bới lông tìm vết, dậu đổ bìm leo...”

Trong phần cuối của báo cáo giải trình, ông Nguyễn Trường Tô nêu nguyện vọng muốn được.... hạ cánh an toàn bằng cách “điều động đi khỏi Hà Giang”. Ông viết “Tôi trọn cả tâm sức, trí tuệ cho đồng bào Hà Giang, dù trí mọn, tài hèn nhưng tôi không hổ thẹn về tư cách, năng lực và trách nhiệm mà tôi đã cống hiến cho Hà Giang. Thời gian công tác của tôi không còn nhiều, tôi không tham quyền cố vị, tôi không tham vọng được giao trách nhiệm lớn hơn; còn việc tiếp tục công tác tại Hà Giang với cương vị được giao như hiện nay hoặc Trung ương điều động tôi đi khỏi Hà Giang là do Đảng, nhà nước phân công, giao bất cứ việc gì tôi cũng luôn hoàn thành nhiệm vu...”

TỔ PHÓNG VIÊN ĐIỀU TRA
Trích kết luận của Uỷ ban kiểm tra Trung ương:

Vụ ảnh khỏa thân: “Viện khoa học hình sự đã có văn bản số 474/C54-P5 kết luận giám định: không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép thể hiện trên 13 ảnh gửi giám định; 13 ảnh cần giám định so với 2 ảnh mẫu có những đặc điểm giống nhau. Từ những nội dung nêu trên, có đủ cơ sở kết luận ông Nguyễn Trường Tô đã có quan hệ bất chính với chị Dung; trong mối quan hệ đó đã để lại những hình ảnh “có tính chất đồi trụy” thể hiện lối sống buông thả, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ đảng viên, vi phạm tiêu chuẩn cấp ủy viên, gây dư luận xấu trong phạm vi rộng, làm giảm uy tín của tổ chức đảng và cá nhân”.

Vụ nghi án liên quan mua dâm người vị thành niên trong vụ án Sầm Đức Xương: “Đặc biệt dư luận trong nhân dân hiện nay đang rất bất bình trước những thông tin về vụ án “môi giới, mua dâm người chưa thành niên” tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, theo báo cáo của cơ quan chức năng và tài liệu thu thập được thì tại phiên tòa phúc thẩm từ ngày 27-1 đến 31-1-2010 có 2 bị cáo là Nguyễn Thị Thanh Thúy và Nguyễn Thúy Hằng khai thêm một số đảng viên, cán bộ, công chức có quan hệ tình dục với 2 bị cáo, trong đó có ông Nguyễn Trường Tô… Mặc dù hiện nay vụ án đang được cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, song đã có ảnh hưởng rất xấu, gây sự bất bình làm giảm lòng tin của quần chúng, nhân dân và cán bộ đảng viên; làm mất uy tín trong Đảng, trong xã hội một cách nghiêm trọng”.

Trần Duy – Một câu hỏi còn chưa được trả lời (1)

10/07/2009 | 1:00 sáng | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Trần Duy

Chuyên mục: Hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm
Thẻ: Lê Đạt > Nguyễn Hữu Đang > Phan Khôi
Ông Trần Duy, hoạ sĩ, nhà báo và thư kí toà soạn của 5 số báo Nhân văn, là một trong những người trực tiếp tham gia và trở thành nạn nhân của Vụ Nhân văn – Giai phẩm. Đây là lần đầu tiên sau hơn nửa thế kỉ im lặng, ông công khai đưa ra cái nhìn hồi tưởng của mình về sự việc này. Chúng tôi tin rằng bài viết của ông sẽ cung cấp cho độc giả những thông tin bổ ích không phải chỉ cho việc đánh giá quá khứ mà còn cho nhận thức về những sự kiện đang diễn ra tại Việt Nam hôm nay. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
talawas blog

______________

Từ khi tôi rời nhà trường phổ thông trung học và gia đình, có một nơi không bao giờ phụ tôi, lúc nào cũng an ủi tôi và vực tôi dậy. Đó là Mỹ thuật! Không có Mỹ thuật, không có cái đẹp, tôi cũng không có một cửa mở nào để bước vào cuộc đời. Cái đẹp ấy đúng là cái cuống rốn đã thay mẹ tôi nuôi dưỡng tôi và cho tôi tiếp xúc với cuộc sống, với con người.

Tôi không theo một tôn giáo nào, một chủ nghĩa nào. Vì theo bất cứ một cái gì, không ít thì nhiều, mình cũng tự biến mình thành nô lệ của những điều mình chủ trương suy nghĩ hay hành động.

Tôi thành người, thành một người yêu đất nước, yêu dân tộc chính là nhờ Mỹ thuật – vì ngay cái chủ nghĩa yêu nước của tôi cũng là chủ nghĩa yêu cái đẹp của đất nước, con người của đất nước mà thôi.

Gia đình tôi là một gia đình phong kiến suy tàn, tôi mang theo cái buồn của sự suy tàn ấy mong tìm một lối thoát và trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương là cánh cửa thoát nạn của đời tôi. Những sự rủi ro vẫn đeo đẳng tôi từng bước…

Cách mạng lên, cha tôi bị bắt (sau cha tôi được tha là nhờ cụ Huỳnh Thúc Kháng can thiệp, cụ vẫn chưa quên người cộng sự trong tòa soạn báo Tiếng dân của cụ ở Huế). Tôi đang học bị mất nguồn tài trợ gia đình. Chính phủ Pháp bị Nhật lật đổ thì tiền học bổng của tôi cũng bị cắt. Tôi học đến năm thứ 3 thì trường Mỹ thuật Đông Dương không còn nữa. Năm 1946 tôi không muốn học khóa Tô Ngọc Vân ở Xuân Áng, do đó khóa học của tôi cũng dở dang.

Tôi gặp anh Lê Hữu Kiều, nguyên là hướng đạo sinh, anh giới thiệu tôi vào Việt Minh. Dưới sự điều động của Thành bộ Việt Minh Hà Nội, tôi được giới thiệu vào Đảng Dân chủ. Lúc ấy tôi không có ý thức gì về đảng phái, tôi chỉ cần một tổ chức giúp tôi làm việc, đóng góp khả năng của tôi phục vụ đất nước. Ông Hoàng Minh Chính điều động tôi làm công tác mua vũ khí cho Việt Minh. Tôi liên lạc với quân đội Nhật tù binh của Đồng Minh, tiếp đó là với lính Tàu Tưởng đóng ở Hải Dương để mua một số lượng vũ khí khá nhiều, được chở về Hà Nội cho ông Hoàng Minh Chính.

Đến ngày toàn quốc kháng chiến, ông Hoàng Minh Chính điều tôi vào bộ phận Quyết tử Quân đánh trường bay Gia Lâm mà ông là người chỉ huy. Tôi tham gia cùng ông Hoàng Minh Chính và các ông Đặng Việt Châu, Lê Minh Nghĩa trong mấy trận tập kích cho đến trận cuối cùng, ông Hoàng Minh Chính bị trọng thương, mọi người tin là ông đã chết tại sân bay. Tôi mang chiếc ví, bút máy và giấy tờ kỷ niệm mà ông Hoàng Minh Chính trước khi ra trận ủy tôi mang đưa lại cho vợ ông là bà Hồng Ngọc; tôi đến gặp bà Ngọc tại trạm cứu thương Vân Đình trao những kỷ vật trên và báo tin anh Chính đã bị tử thương. Bà Ngọc vừa khóc vừa cười bảo tôi: “Anh Chính còn sống và đang nằm điều trị ở đây”.

Ban chỉ huy đánh trường bay Gia Lâm giải tán, ông Đặng Việt Châu giới thiệu tôi với ban chỉ huy Khu 10 lúc đó đóng ở Tuyên Quang – Phú Thọ. Khoảng cuối 1946 đầu 1947 tôi đến ban chỉ huy Khu 10 gặp ông Song Hào và được điều vào làm tại ban địch vận. Tôi tham gia những chiến dịch ở Khu 10, viết, vẽ cho báo Sông Lô, được giới thiệu làm việc cùng ông Đặng Văn Việt, người chỉ huy chiến dịch đường số 4.

Sau chiến dịch Điên Biên Phủ tôi được cử về Tuyên Quang cộng tác với ông Chiến Sỹ, một trí thức người Đức tên là Erwin Borchers, bỏ hàng ngũ quân đội Pháp sang tham gia kháng chiến từ thời kỳ bí mật. Ông là người phụ trách trại tù binh Pháp ở Núi Cố, tôi là phiên dịch. Vào khoảng tháng 3 năm 1950 ông Nguyễn Huy Tưởng nhận tôi về Hội Văn nghệ Việt Nam. Cùng thời kỳ ấy Cục trưởng Cục Quân y là bác sĩ Vũ Văn Cẩn có đề nghị đưa tôi về giúp ông Từ Giấy trình bày và vẽ cho báo Vui sống, tuyên truyền cổ động cho phong trào vệ sinh phòng bệnh.

Năm 1950 Hội Văn nghệ cử tôi và một số cán bộ của Hội tham gia đoàn cải cách ruộng đất tại Yên Thế, Bắc Giang. Những điều tôi chứng kiến ở các buổi đấu tố, về cách xử án, cách đối xử với các đối tượng bị quy là địa chủ, khiến tôi không mấy đồng tình và từ đó trong tôi đã có những suy nghĩ không hay về cải cách ruộng đất. Do đó tôi bị thải hồi và giao trả về Hội Văn nghệ với án kỷ luật: chống cải cách ruộng đất.

Tôi còn nhớ, người ta bố trí hai nhân viên có mang súng đưa tôi trả về Hội Văn nghệ. Đến một quãng đường nào đó thì may quá, gặp tướng Đàm Quang Trung đi ngựa cùng hai người nữa. Anh ấy nhận ra tôi, ngạc nhiên hỏi đi đâu mà lại có lính gác thế này, tôi nói tôi đi cải cách, bị thải hồi về. Anh ấy bảo thế thì đi cùng với anh ấy, rồi đưa giấy tờ của anh cho hai nhân viên đi với tôi xem để biết chắc anh là Đàm Quang Trung (lúc ấy là một vị chỉ huy quân đội vùng Đông Bắc), và nhận sẽ đưa giúp tôi về tận Hội Văn nghệ ở Thái Nguyên. Khi hai nhân viên ấy quay về rồi, anh Đàm Quang Trung bảo tôi: May cho cậu là trên đường chưa gặp máy bay Pháp đi tuần, chứ trên con đường chỉ cách đồn Ngô vài chục cây số thế này, hễ có máy bay, hai cậu kia nó sẽ “feu” (bắn) cậu đấy!

Tiếp theo sự buồn phiền về đợt tham gia cải cách ruộng đất là cuộc cải tạo và vận động tư sản trong những năm tiếp quản thủ đô.

Tôi có một người bạn tên là Lê Chất phụ trách ban thương nghiệp, anh rủ tôi tham gia vận động những tư sản có tiền, có cơ sở, có tâm huyết để họ gia nhập các tổ chức kinh doanh mới lập ra. Sau một thời gian chưa đầy một năm, các tổ chức này đã lật ngược lại những điều quy ước và biến những tư sản bỏ vốn ấy thành đối tượng đấu tố của cuộc vận động đánh đổ tư sản. Thế là tôi lâm vào một tình thế mà phía nào cũng xem tôi là kẻ địch. Tôi buồn và tự hỏi mình nên hành động như thế nào để tồn tại? Tôi hầu như không có bạn bè, có nghĩa là không có nơi nương tựa về tâm hồn.

Đi theo mong ước làm điều gì đó có ích cho đất nước, cho dân tộc, tôi đã gặp nhiều điều không may, gây ra những tình huống đẩy tôi thành ra đối lập với thời cuộc. Và trong sự bế tắc ấy, tôi muốn đi tìm một lối thoát, đó lại chính là con đường đưa tôi tham gia nhóm Nhân văn.

Phải nói cho minh bạch, khi tham gia Nhân văn cùng ông Phan Khôi, tôi vẫn ước mong đóng góp một tiếng nói cho dân chủ, cho sáng tác và may ra cũng là một con đường nghệ thuật mà tôi mong nương tựa nên tôi rất tích cực hoạt động cho tờ báo ra đời.

Nhiều ngưới nghĩ rằng tôi là một họa sĩ, sao lại có thể làm thư ký cho một tờ báo? Thật ra hoàn cảnh lúc ấy của Lê Đạt, Trần Dần, Văn Cao, Hoàng Cầm, những nhà văn nhà thơ đã có tên tuổi, đều khiến họ không thể đứng tên xin ra báo. Họ là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, có thể được cử đến làm ở các tờ báo của Đảng, của các đoàn thể, nhưng lại không thể đứng tên xin ra báo tư nhân. Họ đã tìm đến ông Phan Khôi và tôi; ông Phan có danh nghĩa một nhân sĩ nổi tiếng, tôi thì có nghề họa để lên khuôn tờ báo, để làm các công việc cụ thể với nhà in.

Có thể nói tờ báo Nhân văn ra đời mà không có bất cứ một cơ sở kinh tế nào tài trợ. Tôi đi gặp từng nhà in, không mấy ai mặn mà ủng hộ. Tờ báo ra đời chính là nhờ vào giấy phép của Sở Văn hóa Hà Nội. Tôi đến cửa hàng văn phòng phẩm ở Tràng Tiền mua đươc 5 ram giấy. Tiền mua giấy đó là của ông Minh Đức, mặc dù lúc này ông ấy cũng túng thiếu, chỉ vì trước sau vẫn cảm phục Nguyễn Hữu Đang nên ông ấy hết lòng giúp đỡ (một đời ông ấy tan nhà nát cửa, lâm vòng lao lý, chỉ vì chí tình với bạn). Việc in các số đầu là nhờ ông Đỗ Huân, chủ một nhà in ở đường Nguyễn Thái Học.

Tờ báo xuất bản được nhưng mâu thuẫn và bất đồng giữa Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang ngày càng tăng. Nói chung mọi người trong tòa soạn đều cảm thấy cùng đi trên một chuyến xe mà người lái xe chạy không theo lộ trình mong muốn của những người cùng đi trên xe. Ngoài chủ nhiệm (là ông Phan Khôi) và thư ký tòa soạn (là tôi), số còn lại chia làm hai phái: các văn nghệ sĩ (Lê Đạt, Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần, Tử Phác) một nhóm; một mình Nguyễn Hữu Đang một nhóm.

Nguyễn Hữu Đang vốn chỉ mới được điều động về Hội Văn nghệ, về báo Văn nghệ từ hồi tiếp quản thủ đô (tháng 10/1954), tuy có tên trong thành viên tòa soạn nhưng không có chức quyền gì cụ thể rõ ràng. Lê Đạt là phái viên được điều từ Văn phòng Tổng Bí thư Đảng xuống Hội Văn nghệ. Theo ông Đào Duy Kỳ cho tôi biết thì hồi kháng chiến, khi còn làm việc ở Văn phòng Trung ương Đảng, Lê Đạt lúc đi tham gia cải cách ruộng đất đã cưới một cô cốt cán; đến khi về tiếp quản thủ đô, anh làm quen và yêu một cô văn công rồi bỏ cô cốt cán kia; vì việc ấy, anh bị kỷ luật, bị điều động khỏi Văn phòng Trung ương, xuống Hội Văn nghệ. Tại tòa soạn báo Văn nghệ, tuy không giữ chức vụ gì cụ thể, nhưng Lê Đạt thường nổi bật bên cạnh những biên tập viên hiền lành như dạng Trọng Hứa; một vài anh em trong báo còn nhận ra rằng các cấp trên muốn qua Lê Đạt để kiềm chế Nguyễn Hữu Đang. Nhưng Đang là người có kiến thức rộng, có hoài bão lớn, là người không dễ nghe theo ai, nên khi tham gia báo Nhân văn, Đang có chủ trương của Đang, cũng như Lê Đạt và mấy văn nghệ sĩ kia đều có chủ trương riêng của họ. Số văn nghệ sĩ tham gia Nhân văn hầu như không có mấy quyền hạn với tờ báo, nên các việc của tờ báo là do Đang và Đạt quyết định.

Lê Đạt tính trịch thượng, nói năng quyết đoán, coi thường mọi người; nhưng Nguyễn Hữu Đang cũng không phải tay vừa. Kết quả là Đang và Đạt không mấy khi nhất trí với nhau về bất kỳ một vấn đề nào.

Lê Đạt phàn nàn với tôi:

“Cậu phải có ý kiến với Đang… Tờ báo không phải của Đang!”

Tôi hỏi :

“Vậy thật ra tờ báo là của ai…?”

Có thể nói, tờ Nhân văn trên thực tế nằm trong tay một số người thường xuyên cãi vã nhau.

Đến khi chuẩn bị làm số 6, tôi và Lê Đạt, Văn Cao bàn đổi hướng để tờ báo nói về hội họa, nên đã chuẩn bị cho số báo chuyên về tranh áp-phích của Ba Lan. Tôi đến làm việc với sứ quán Ba Lan và có đủ tài liệu về tranh áp-phích của Ba Lan. Ngay ngày hôm sau đó có giấy của Thủ tướng triệu tập… (về việc này tôi đã viết trong bài tưởng niệm ông Phan Khôi năm 2007). Tôi được mọi người cử đi và đã gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi về nói lại với Lê Đạt, Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang những điều căn dặn của Thủ tướng. Nguyễn Hữu Đang bỏ cuộc họp tự động đến nhà in. Văn Cao và Lê Đạt cùng nói với tôi:

“Thế là Đang sẽ thay đổi nội dung tờ báo, sẽ hướng về tình hình chính trị Đông Âu, Ba Lan, Tiệp Khắc…”

Nhưng số 6 chưa kịp in đã bị đình chỉ tại nhà in, ngoài sự hiểu biết và lo liệu của chúng tôi. Lê Đạt và Văn Cao bảo tôi:

“Cậu đứng ra xin đình bản tờ báo!”

Tôi đáp:

“Vì tờ báo không do tôi chủ trương và khi nó ra đời là do nhóm các cậu, vậy việc đình bản tờ báo phải do các cậu!”

Ngày 15 tháng 12 năm 1956 có lệnh đóng cửa tờ báo. Mọi người cảm thấy thoát nạn, nhưng cảm thấy không có nghĩa là đã có thể thoát được nạn.

Trong thời gian tờ báo gặp nhiều khó khăn, tôi có đến gặp ông Dương Đức Hiền và Hoàng Văn Đức, Đỗ Đức Dục…, các ông này đều bảo tôi:

“Các cậu có bao giờ lường được những nguy hiểm của công việc các cậu đang làm?”

Tôi đáp:

“Tờ báo chúng tôi ra cũng như tờ Độc lập của Đảng Dân chủ… Có điều gì đáng nguy hiểm?”

Anh Hoàng Văn Đức, người thật thà và cởi mở nói thẳng với tôi:

“Việc nào cũng phải nằm trong khuôn khổ của việc ấy!”

Và nói thêm một câu bằng tiếng Pháp “Vous cherchez à franchir le Rubicon”.

(Rubicon là tên con sông ngăn cách nước Ý và xứ Gaule (nước Pháp cũ); César đưa quân La Mã sang bình định xứ Gaule, theo chỉ thị của Thượng nghị viện La Mã, César lúc rút quân về không được vượt qua sông Rubicon, trước đêm 11 và 12 năm 49 trước Công nguyên. César bất tuân thượng lệnh đã cho đại quân vượt sông Rubicon tiến thẳng về La Mã, do đó đã nổ ra cuộc binh biến chống Pompée và Thượng nghị viện La Mã. Thành ngữ “vượt qua Rubicon” có nghĩa cảnh báo một việc làm táo bạo chắc chắn sẽ mang đến một hậu quả nguy hại.)

Tôi về thuật chuyện với ông Phan Khôi. Nghe xong ông chép miệng và im lặng. ông Phan Khôi tỏ ra rất lo sợ. Càng lo sợ hơn là lúc được tin ngày 10 tháng 4 năm 1958 Sở Công an Hà Nội đã tiến hành khám xét và bắt những Thụy An, Phan Tại, Minh Đức, Nguyễn Hữu Đang. Trước đó đã có tin lớp chỉnh huấn được tổ chức tại ấp Thái Hà vào tháng 2 tháng 3 năm 1958. Trong số các văn nghệ sĩ được triệu tập không có tên tôi, cũng không có tên ông Phan Khôi. Ngay sau khi lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp được tổ chức thì cũng bắt đầu những ngày tôi bị xét hỏi tại Bộ Công an.

Tôi bị gọi đến Bộ Công an, bị nhân viên của Bộ Công an và của Viện Công tố tra hỏi những nghi vấn về tờ báo Nhân văn do lớp chỉnh huấn Thái Hà cung cấp. Tôi biết gì thì trả lời biết, không thì trả lời không. Được đối đáp rành rọt như vậy một phần cũng nhờ cách hỏi cung và đặt vấn đề thẩm tra của Bộ Công an không o ép, không dùng phương pháp dọa nạt. Họ bảo tôi: “Chúng tôi cần anh nói thật, không thêm bớt tội trạng cho ai”. Tôi làm đúng theo lời của những người có trách nhiệm hỏi cung. Người theo dõi hỏi cung luôn luôn thay đổi, nhưng theo tôi nhận thấy ai cũng tỏ ra có thiện ý muốn biết rõ sự thật của vụ việc.

Có một điều làm tôi ngạc nhiên là trong thời gian thẩm vấn, không ai hỏi tôi một lần nào, một câu nào về ông Phan Khôi. Tất nhiên, kể từ thời gian đó, cả cái lương cấp cho một nhân sĩ lẫn tiêu chuẩn có người phục vụ của ông Phan Khôi cũng bị cắt hết.

Anh Văn Cao và một số anh em khác cho tôi biết ở lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp có người tố giác tôi là gián điệp, nhận tiền của Pháp do ông Durand cấp và của quốc tế. Nhưng những người hỏi cung tôi không hỏi về vấn đề này. Tôi có ý kiến với họ và đề nghị được minh oan thì họ trả lời:

“Anh là gián điệp hay không thì chúng tôi đã có cách đối xử với anh, còn việc mọi người đấu tranh phát hiện là quyền của mọi người và của báo chí; chúng tôi không có trách nhiệm minh oan cho ai. Cách minh oan lớn nhất là cho đến nay là anh chưa bị bắt giam. Còn sau này anh có bị bắt giam hay không là do hành động của anh sau này.”

Tuy nói vậy, tôi biết sự đi lại và quan hệ của tôi đều có người theo rõi. Và suốt hơn mấy mươi năm trời cuộc đời tôi luôn luôn bị đặt dưới sự theo rõi của cơ quan công an. Âu đó cũng là một phương pháp vô hiệu hóa những phần tử bị xem là không tốt.

Qua tiếp xúc với một số anh em từng dự lớp chỉnh huấn ở ấp Thái Hà, tôi được biết ban lãnh đạo lớp học có thâm ý chia mọi người ra từng thành phần: tốp cơ bản, người lưng chừng, người xấu muốn trở thành người tốt, người tốt muốn trở thành người ưu việt. Do đó sau vụ đấu Nhân văn đã có những người cơ hội được đưa lên thành cấp lãnh đạo, thành người phụ trách, có chức vụ. Ban lãnh đạo lớp học dựa vào lòng yêu nước, yêu kháng chiến để kích động lòng căm thù, từ đó có những phát hiện và tố giác; họ đưa lên hội trường các bản báo cáo tham luận tố giác những ai có những hành động gì đó tỏ ra là làm gián điệp mật thám tay sai do địch cài lại… Do thế, không khí lớp học trở nên ngột ngạt. Có trường hợp, nhà điêu khắc Phạm Xuân Thi đã bị đánh chảy cả máu mũi, chỉ vì người ta cho rằng anh không chịu hăng hái đấu tranh! Và anh Tạ Thúc Bình phải khóc lên: “Anh em cùng đi kháng chiến với nhau nay lại đối xử với nhau như kẻ thù!” (Những tin này đều do các anh Phạm Xuân Thi, Tạ Thúc Bình, Phùng Quán nói lại cho tôi biết; người đã đấm anh Thi là một họa sĩ hiện còn sống, tôi miễn nêu tên.)

Trong năm 1958, việc một số người như Thụy An, Phan Tại, v.v… bị bắt mà theo thông báo là do có liên quan đến chính trị, gián điệp, phá hoại đã gây một không khí khiếp sợ cho những văn nghệ sĩ từng tham gia báo Nhân văn hoặc các tập Giai phẩm, khiến họ không những bỏ cuộc mà còn đi ngược lại nguyện vọng lành mạnh, những ước nguyện đẹp đẽ muốn xây dựng một nền văn học nghệ thuật đổi mới, để biến thành những kẻ vô trách nhiệm trước phong trào do họ khởi xướng, bỏ rơi một số văn nghệ sĩ và trí thức nhiệt tình với phong trào mở rộng dân chủ và tự do sáng tác do họ nêu ra.

Thật ra, theo chỗ tôi biết, tại lớp chỉnh huấn ở ấp Thái Hà cũng vẫn ít nhiều có cơ hội để tranh cãi, phản đối trước những lời buộc tội, vu khống vô căn cứ. Song chính do sự khiếp sợ, khiếp nhược, những người lẽ ra phải làm như vậy đã không còn giữ được nhân phẩm để lên tiếng tự vệ, để bảo vệ sự chính đáng trong tư duy, trí tuệ của mình.

Lãnh đạo lớp học Thái Hà ấp, giống như những đối thủ của Achille, đã nắm rõ chỗ yếu của người anh hùng này là cái gót chân. (Achille là người anh hùng trong Iliade của Hy Lạp, – lúc sinh ra Achille, bà mẹ là Pélée đã cầm gót chân nhúng vào nước thần có phép biến Achille thành người không bao giờ bị tử thương, trừ cái gót chân nơi Pélée đã cầm để nhúng con vào nước phép. – Thành ngữ “gót Achille” trỏ cái nơi mà con người dễ bị tổn thương nhất.) “Gót chân Achille” của những người trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam là lòng đất nước, yêu tổ quốc, đã bị khai thác và lạm dụng. “Đất nước”, “Tổ quốc” bị đồng nhất với thể chế, với những người lãnh đạo, cả lãnh đạo Đảng, Nhà nước lẫn lãnh đạo từng ngành, kể cả lãnh đạo ngành văn nghệ! Thắc mắc với lãnh đạo, không tán thành với lãnh đạo, chê trách lãnh đạo, v.v…, – đều có thể bị quy dần, từ thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, đến chống chủ trương đường lối, chống cách mạng, chống Đảng, chống Tổ quốc. Lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp của Tố Hữu đã quy Nhân văn – Giai phẩm thành một biểu tượng về hoạt động chống Đảng, chống cách mạng, xem hoạt động Nhân văn – Giai phẩm là đi ngược lại tình cảm yêu đất nước, yêu tổ quốc. Lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp của Tố Hữu đã thành công trong chiến thuật ly gián một tầng lớp văn nghệ sĩ, nhưng đã thất bại về chiến lược vì đã để lộ bản chất gian độc của họ.

Như vậy thông qua lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp, lãnh đạo lớp đã gặt hái được một kết quả trái ngược với ý muốn của Đảng và Nhà nước. Một kết quả không thật, một kết quả ảo, để lại một hậu quả không hay cả cho anh em văn nghệ sĩ lẫn dư luận nước ngoài.

(Còn 1 kì)