Thursday, 4 November 2010

1.000 ngày làm đại sứ của ông Mark Kent

1.000 ngày làm đại sứ của ông Mark Kent

SGTT.VN - Hà Nội cuối tháng 10, trong căn nhà ở phố Phan Châu Trinh, đại sứ Anh Mark Kent ngồi điểm lại ba năm công tác với sự sôi nổi từ tính cách và từ chính những kỷ niệm của hơn 1.000 ngày ông sống ở Việt Nam.

“Tôi đọc thông báo tuyển người làm đại sứ tại Việt Nam và quyết định nộp đơn vì nhận thấy châu Á đang có vai trò ngày càng quan trọng trên thế giới, khám phá phần thế giới này sẽ rất thú vị, và đến Việt Nam sẽ là một cơ hội lớn. Đó là một ban tuyển chọn gồm 5 - 6 người như là ban tuyển chọn cầu thủ bóng đá vậy. Họ xem xét các hồ sơ, phỏng vấn ứng viên. Và tôi đã may mắn được chọn”, Mark Kent kể về cơ duyên đưa ông đến Hà Nội với cương vị đại sứ đặc mệnh toàn quyền vương quốc Anh tại Việt Nam.

Những hình dung lỗi thời

Vợ chồng đại sứ Mark Kent đã sống ba năm tại Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Hoàng Toại

Ông Mark Kent từng làm việc tại đại sứ quán Anh ở Brazil và Mexico, là đại diện thường trực của Anh tại Liên minh Châu Âu, là biệt phái viên của bộ Ngoại giao Anh trong NATO (Tổ chức hợp tác quân sự Bắc Đại Tây Dương) đặt ở Mons, Bỉ. Công việc đưa ông đến nhiều nơi trên thế giới, nhưng cho đến trước năm 2007, châu Á là phần thế giới mà ông chưa hề có dịp đến sống và làm việc. “Với tôi, đến Việt Nam, một đất nước có nhiều cơ hội, tiềm năng, và những điều mới lạ thì thích hơn là nhận làm việc ở một nước nào đó mà tôi từng đến, từng biết, nhưng có ít cơ hội hơn”, ông giải thích về quyết định xin đến Việt Nam của mình.

Nắm đầy đủ thông tin để đánh giá tình hình và cơ hội, nhưng khi nộp đơn thi tuyển và đến trước khi được bổ nhiệm làm đại sứ, ông vẫn chưa từng đến Việt Nam. “Vì thế những hình dung của tôi (về Việt Nam) hơi lỗi thời. Từ phim ảnh, tôi hình dung ra phố sá có nhiều xe đạp, và thời tiết vùng nhiệt đới ấm áp. Nhưng hóa ra ở đây lại có nhiều xe máy, và thật bất ngờ vì trời lúc đó rất lạnh”, Mark nhớ lại những ấn tượng đầu tiên khi đến Hà Nội nhận nhiệm vụ vào tháng 12.2007.

Ông đã không thất vọng với những đánh giá ban đầu của chính mình về cơ hội, tiềm năng ở Việt Nam. Ba năm nhiệm kỳ, ông đã đóng góp tích cực cho các thỏa thuận hợp tác trong nhiều mặt giữa hai nước về hợp tác truyền thông, hợp tác về vấn đề di cư, về nghiên cứu và giáo dục, và về việc thành lập đại học công lập Việt Anh ở Đà Nẵng. Tháng 9.2010, Việt Nam và Anh ký thỏa thuận trở thành đối tác chiến lược. Đó là thành tựu quan trọng nhất trong nhiệm kỳ của đại sứ Mark Kent, được phát triển từ các đánh giá của ông và đồng nghiệp về sự tương thích trong các mối quan tâm trên nhiều lĩnh vực của hai nước.

Đi bộ, uống bia hơi, và ăn lạc rang

Và ông đã có một cuộc sống dễ chịu tại Việt Nam cùng với vợ, bà Martine. Ở Hà Nội, ông đi bộ mỗi sáng từ nhà qua ba ngã tư để đến cơ quan đặt ở góc phố Hai Bà Trưng và Bà Triệu. Ở TP.HCM, giữa cái nóng của tháng sáu, người ta có thể thấy ông và vợ đi bộ từ một quán ăn gần trường Marie Curie đến một quán cà phê ở tận đường Nguyễn Cư Trinh. “Đi bộ thì ta sẽ khám phá được nhiều hơn, cảm nhận được nhiều hơn về cuộc sống, về con người, thú vị hơn là ngồi trong xe hơi rồi nhìn qua cửa kính”, ông Mark giải thích. Có lần bà Martine suýt bị giật túi xách ở quận nhất, nhưng việc này không khiến họ bỏ sở thích đi bộ. “Tôi chỉ cần không đem túi xách theo là được. Ở đây vẫn là một nơi an toàn”, bà nhận xét.

Là vợ của một nhà ngoại giao, bà Martine quen với cuộc sống đó đây khắp thế giới, nhưng ba năm ở Việt Nam bà có những trải nghiệm chưa từng gặp. Đó là lần bà được đồng nghiệp của chồng ở bộ Ngoại giao Việt Nam sắp xếp một chuyến đi Thái Nguyên một tháng để sống và học tiếng Việt với một gia đình người Việt. “Họ dẫn tôi đi chợ, chỉ cách chọn mua gà sống và cá tươi. Họ chỉ tôi làm bánh dày, nấu trà xanh. Ban đầu tôi thấy trà xanh rất đắng, nhưng đến cuối chuyến đi thì mỗi sáng tôi luôn hỏi có trà xanh không”, Martine kể với cách phát âm từ “trà xanh” bằng tiếng Việt rất chuẩn. Từ đó bà mê trà xanh, và luôn có trà xanh trong nhà.

“Tôi thích uống bia hơi và ăn lạc rang”, ông Mark tiết lộ, với phát âm tiếng Việt rõ ràng. Đó là điều thú vị ông phát hiện ra sau những lần đi đá bóng với một đội có cả người Anh và người Việt vào mỗi cuối tuần ở một sân bóng mini trong khu Ciputra, rồi vào uống bia trong một quán bình dân trên đường Lạc Long Quân, gần Hồ Tây. Đến khi uống bia ở TP. HCM với bạn bè, ông học được rằng người Nam gọi “lạc” là “đậu phộng”.

Tiếng Việt có dấu

Ngoại giao kỹ thuật số là điều ông Mark Kent rất tâm đắc ứng dụng trong thời gian làm việc ở Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hoàng Toại

Ông có thể đọc hiểu các bài báo bằng tiếng Việt, và thỉnh thoảng chia sẻ những bài viết mà ông thích từ các báo Việt Nam lên trang cá nhân trên mạng xã hội facebook. Từ mạng này, Mark kết bạn với cả những người Việt không biết tiếng Anh, để rồi khi trao đổi với họ qua facebook, ông chăm chỉ tra từ điển Anh – Việt mỗi khi viết các lời bình (comment). Có khi ông và đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam Staffan Herrström bắt lỗi nhau về những câu tiếng Việt họ viết trên facebook.

Vợ chồng ông bắt đầu học tiếng Việt từ vài tháng trước khi sang Việt Nam. Và khi đến Hà Nội, họ học tiếng mỗi ngày tại nhà với một giáo viên. Cho đến những tuần cuối cùng trước khi ông Mark hết nhiệm kỳ, lớp học này vẫn được duy trì ba buổi một tuần. Có lẽ để bù cho những cản trở của tuổi tác, họ học tiếng Việt chăm chỉ hơn khi học tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, hay Hà Lan, đến mức trên chuyến đi hơn 100km từ TP.HCM đến rừng Nam Cát Tiên, ông đem theo cả quyển tập học tiếng Việt để tranh thủ ôn từ mới. Mark gặp khó khăn khi viết tiếng Việt vì ông không nhớ được cách bỏ dấu, như khi viết vào số lưu niệm của khu bảo tồn động vật hoang dã ở nơi này, ông quyết định viết bằng tiếng Việt không có dấu, rồi sau đó ông nhờ một người Việt thêm sắc, thêm huyền vào.

Con trai họ, Alexandre Kent giờ cũng đang học tiếng Việt và dạy tiếng Anh ở trường đại học Ngoại thương. “Bố tôi không gợi ý gì, nhưng tôi nghĩ rằng sống ở đây thì phải biết tiếng ở đây. Nhưng mà tiếng Việt của tôi chưa tốt”, Alexandre giải thích. Sang Việt Nam khi bố chỉ còn tại nhiệm ở Hà Nội vài tháng, con trai đại sứ chọn sống trong ký túc xá, chia phòng với ba người bạn Việt Nam khác, và cho rằng bằng cách ở đó cậu sẽ học được tiếng Việt tốt hơn.

Nhà tôi ở gần Hồ Gươm

Từ căn nhà ở gần Hồ Gươm, ông bà thường đi sang phía bên kia hồ vào cuối tuần, đến chợ Đồng Xuân để mua thức ăn và nhất là hạt điều. Rồi họ ngồi vào một quán cà phê nào đó trong khu phố cổ để uống trà với bạn bè và cố gắng nói chuyện với cả bà chủ quán hay hỏi đường ở những ông xe ôm. “Con người, đó là điều tôi nhớ nhất khi rời Việt Nam”, bà Martine tâm sự.

Khi ai đó thắc mắc vì sao một ông đại sứ lại có thể ngồi xuống một vỉa hè Hà Nội làm một cốc bia hơi, Mark giải thích: “Tôi xuất thân từ gia đình bình dân mà”. Và bằng cách bình dân, ông đã sống và làm việc khá thoải mái ở Hà Nội, rồi từ đó đi khám phá những địa phương khác. “Tôi thích đi xe lửa. Có lần tôi và Martine mua vé đi Sapa. Chỉ mất khoảng 100.000 đồng một vé. Đi khoang bình dân thôi, ngồi nói chuyện với mọi người. Nói tiếng Việt với họ có khi hiểu khi không”, Mark kể và vẫn còn cười lớn về kỷ niệm ấy.

Trên facebook của mình, Mark có lần phàn nàn về công trình xây dựng gần nhà gây ồn ào từ năm giờ sáng. Đó là thời gian mệt mỏi đối với ông khi ba tháng trời đêm thức khuya và sáng bị thức dậy quá sớm bằng tiếng nện đinh tai từ công trường xây dựng láng giềng. Ba tháng thiếu ngủ vì tiếng ồn của công trường xây dựng giờ đây trở thành “một kỷ niệm đặc biệt” trong quãng thời gian sống ở Việt Nam của Mark. Nhưng cũng nhờ đó, ông thấu hiểu thực sự việc phải cân bằng giữa giữ gìn nét cổ kính và văn hóa của Hà Nội, với các yêu cầu phát triển hiện đại.

Chủ nhật 7.11, Mark sẽ không ra sân bóng ở Ciputra với đồng nghiệp, mà ông và vợ sẽ ra sân bay Nội Bài để trở về Anh, kết thúc nhiệm kỳ ba năm làm đại sứ tại Việt Nam. “Nhưng tôi sẽ trở lại vì con trai tôi còn học ở đây. Chắc chắn như thế, và khi tôi trở lại tôi sẽ không trở lại trong vai trò của một đại sứ, mà sẽ khác, và có thể với một đóng góp khác”, Mark tiết lộ.

No comments:

Post a Comment