Friday, 31 December 2010

Ba văn bản liên quan đến vụ án Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ

Đăng bởi bvnpost on 30/12/2010

Kính gửi BBT Bauxite Việt Nam,

Tôi, Cù Thị Xuân Bích, em gái TS Cù Huy Hà Vũ vừa nhận được đơn đề nghị của anh Vũ gửi tới Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tôi trân trọng đề nghị BVN cho đăng để những người quan tâm đến vụ án đuợc biết.

Cám ơn,

Cù Thị Xuân Bích

clip_image002

clip_image004

clip_image006

clip_image008

clip_image010

Wednesday, 29 December 2010

Cao Việt Dũng bình chọn 5 cuốn hay nhất 2010

12/27/10

Tóp mỡ 2010

Bị đề nghị đưa ra top 5 sách 2010 :(


“Istanbul. Hồi ức và thành phố” (Orhan Pamuk, Nguyễn Quốc Trụ dịch, Nhã Nam & NXB Văn học)

Không có nhiều hồi ký nhà văn được dịch ra và đón nhận nồng nhiệt ở Việt Nam. Sau “Sống để kể lại” của Gabriel García Marquéz và “Hội hè miên man” của Ernest Hemingway, “Istanbul” của Orhan Pamuk đã kịp thời đến để bổ khuyết cho thiếu hụt này. Istanbul của Pamuk không chỉ là một bức tranh, một câu chuyện kể, mà còn là một tâm hồn sống ngập ngừng thở trên những hoang phế điêu tàn mà chỉ một nhà văn đặc biệt nhạy cảm mới có thể nắm bắt và miêu tả được.



“Vắng mặt” (tiểu thuyết của Đỗ Phấn, Bách Việt & NXB Hội Nhà văn)

Văn học Việt Nam lại thất bát thêm một mùa 2010. Đã lâu lắm rồi các nhà văn Việt Nam nhớn nhác với những cách tân mà dường như quên đi mất rằng văn chương có thể không nằm về “phương ấy”. Khi các giải thưởng văn học chính quy đều gắng gượng mà trao, một nỗ lực nho nhỏ về kể chuyện giản dị như “Vắng mặt” của họa sĩ Đỗ Phấn hoàn toàn xứng đáng được coi là một điều có ý nghĩa cho một năm buồn bã của văn học trong nước.


“Oh boy!” (Marie-Aude Murail, Trần Anh Thư dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn)

Một tác phẩm thuộc dòng nhiều người đọc nhưng ít khi thực sự được đánh giá cao: văn học thiếu nhi. “Oh boy!” bắt đầu đưa đến Việt Nam loạt tác phẩm của Murail, một nhà văn chắc hẳn rồi đây sẽ được xếp vào hàng kinh điển của lịch sử văn học thiếu nhi thế giới. Năm 2010 cũng chứng kiến một sự tăng tiến nhảy vọt của dòng sách văn học thiếu nhi ở rất nhiều tiểu thể loại và với sự tham gia của rất nhiều cơ sở xuất bản.


“Tình và rác” (Ivan Klíma, Bạch Phương dịch, Bách Việt & NXB Văn học)

Cuốn tiểu thuyết xuất bản vào cuối năm củng cố thêm cho sự thắng thế trở lại của một số nền văn học lâu nay ít được quan tâm như văn học Hungari, Ba Lan, Ý… Klíma, một nhà văn lớn người Séc, đưa chúng ta quay về với một bầu không khí chính trị ngột ngạt tại các nước thuộc khối Đông Âu trước đây với một giọng văn buồn bã bậc thầy rất hiếm thấy.



Trong dòng sách nghiên cứu, đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình nhìn lại lịch sử Việt Nam từ những khía cạnh mới, xuất phát từ các nguồn tài liệu mới. Các Công ty Đông Ấn có một kho lưu trữ khổng lồ, trong đó có hàng vạn trang liên quan đến Việt Nam. Lịch sử Việt Nam, để có thể toàn diện, còn cần được đặc biệt quan tâm về phương diện thương mại. Dĩ nhiên, lịch sử không chỉ gồm có những nhà chính trị và quân sự kiệt xuất, cùng những câu nói lừng danh và các âm mưu xảo quyệt được hậu thế say mê.

Uyên Linh bị nói hát thường, khán giả phản đối


(VietNamNet) - Ý kiến riêng của ca sĩ Thanh Lam về quán quân Việt Nam Idol 2010 đã khiến nhiều khán giả bất bình.


Rất nhanh chóng bài viết trở thành tiêu điểm, nhận được phản hồi nhiều nhất trên các trang báo mạng. Trên trang Tintuconline, trong 100 phản hồi thì chỉ có khoảng 2-3 bài đồng ý với ý kiến của Diva đương đại, còn lại là phản đối từ từ tốn đến gay gắt.

Khá nhiều ý trong phần phát biểu của diva Thanh Lam khiến người nghe không đồng tình và cho rằng nhận xét của Diva 42 tuổi này là cảm tính, cá nhân và không công bằng với Uyên Linh.


Không chỉ có vậy, trong Top 5 bài được phản hồi nhiều nhất
cũng đều có cái tên Uyên Linh. (trang TTOL)
Chưa từng có một nghệ sĩ nào có một lượng fan ủng hộ hùng hậu đến như vậy


Thanh Lam cho rằng: "Nhiều người cho rằng Uyên Linh giống như một hiện tượng của âm nhạc Việt Nhưng theo tôi 22 tuổi không phải là hiện tượng nữa. Nếu cô ấy mới 15 tuổi thì điều đó đúng, còn 22 tuổi vào nghề cũng là muộn rồi"

Thanh Lam cũng nhận xét "Những tình cảm ban đầu mà Linh đang nhận được có vẻ rất dễ dàng nhưng quan trọng là được đặt vào vị trí đó rồi thì việc có thể xây dựng được đẳng cấp của mình hay không, không phải là ai cũng làm được"

Tuy nhiên có lẽ Diva này đã quên mất hiện tượng Susan Boyle - một phụ nữ ngoài 50 tuổi, già, béo, lôi thôi và không được đào tạo đã trở thành hiện tượng Âm nhạc trên toàn thế giới - là á quân cuộc thi Britian's Got Talent năm 2009 . Thậm chí album I Dreamed A Dream của Susan Boyle đã đi vào lịch sử với thành tích là album đầu tay có lượng bán cao nhất toàn cầu. Hơn nữa, những tình cảm mà Uyên Linh 22 tuổi của Việt Nam đã dành được từ khán giả cũng không phải là một thứ đạt được dễ dàng. Phải chăng Lam đã quá đặt nặng đẳng cấp của một ngôi sao mà không cho rằng sự đánh giá từ trái tim, xúc cảm là quan trọng?


Tự nhận là những độc giả "không còn là teen để có cảm nhận thiếu chín chắn", Phương Anh từ địa chỉ phuonganh6367@yahoo.com cho biết:

Tôi đã đừng thích nghe giọng hát của Thanh Lam qua bài hát “Chia tay hoàng hôn” của ngày xưa, nhưng sau này thì thật sự cứ mỗi lần thấy chị hát, rú… là cả nhà tôi chuyển kênh ngay lập tức vì không ai đủ kiên nhẫn để nghe hết bài. Tôi nghĩ có lẽ do “trình” cảm nhận âm nhạc của tôi kém quá (cho dù gia đình tôi cũng có 3 người em học Nhạc viện HN) nên tôi đã không thể “tiêu hóa” nổi những bài hát quá kỹ thuật… Tôi chỉ biết rằng, sau buổi biểu diễn Gala cuối của Vietnam Idol thì cả hai vợ chồng tôi và con gái 5 tuổi của tôi trở nên mê đắm tiếng hát của Uyên Linh. Tôi đã nghe đi nghe lại không dưới 15 lần/ bài của Uyên Linh và sau mỗi lần nghe xong thì tâm trạng của chúng tôi vẫn dạt dào xúc động như nghe lần đầu. Cách hát đầy xúc cảm khiến khán giả như hòa mình vào nhân vật và những giai điệu của bài hát… tôi không biết diễn tả thế nào cho đúng tâm trạng. Nhưng quả thật, rất ấn tượng và thân quen. Từ những tình cảm tự nhiên đấy, lần đầu tiên chúng tôi bỏ thời gian và nhiệt huyết để bầu chọn cho Uyên Linh tới tận giây cuối cùng. Lưu ý, tôi không còn là teen để có cảm nhận thiếu chín chắn. Cái chúng tôi mong muốn là người ca sĩ hát và truyền cảm xúc yêu nhạc cho khán giả.

Không phải bỗng dưng Thanh Lam được coi là một Diva của làng nhạc, cô có nội lực nhất định, thành công nhất định và một cá tính mạnh mẽ, nhưng với "làn sóng mới", khán giả cũng đã nhận thấy các ca khúc của đàn chị đã được thế trẻ thể hiện mới mẻ, sáng tạo với những xúc cảm riêng. Lam nói: "Uyên Linh theo tôi về mặt ca hát thì cũng bình thường thôi và tôi không thích lắm. Cô ấy không được đào tạo bài bản nên vẫn còn nhiều hạn chế như khi hát lên cao xuống thấp rất là kém"....

Ngọc Anh - phloan75@yahoo.com chia sẻ

Sau khi nghe khoảng 30 lần bài hát "Sao chẳng về với em" do Uyên Linh thể hiện trong VN Idol, mình có tìm nghe bài hát này do Thanh Lam và Hồng Nhung hát. Không biết kỹ thuật của TL cao đến mức nào nhưng bài hát nghe chẳng có cảm xúc và không hay một tí nào cả, rất khó nghe. Hồng Nhung hát thì mình còn có thể nghe được hết bài, nhưng chỉ nghe được 1 lần thôi, không thể nghe thêm. Cũng là 1 bài hát đó nhưng Uyên Linh đã làm được 1 việc phi thường là thổi hồn và cảm xúc vào bài hát khiến nó chở nên vô cùng hay. Nghe rất da diết, khắc khoải, đúng như tên bài hát. Mình có thể nghe thêm 300 lần nữa mà không chán. Đâu cần phải kỹ thuật quá cao đâu, 1 ca sĩ thành công là ca sĩ làm cho khán giả cảm nhận được ý nghĩa của bài hát và yêu bài hát đó. Uyên Linh đã rất thành công ở tất cả các bài hát. Cảm ơn Uyên Linh.

Nguyễn Khánh - tuanhaonguyen@yahoo.com.vn

Tôi không rành về kỹ thuật thanh nhạc, nhưng nghe UL hát tôi cảm thấy xúc động, mà người nghệ sỹ cũng chỉ cần đến thế thôi, khi người nghệ sỹ cất giọng hát lên mà làm cho khán giả rơi nước mắt là quá thành công rồi.


Thay cho lời kết là ý kiến của Nhạc sĩ Quốc Trung, người đã chứng kiến Uyên Linh suốt chặng đường 6 tháng của VietnamIdol, là người có hiểu biết đa dạng về kỹ thuật thanh nhạc và chất giọng của nhiều ca sĩ

Nhạc sĩ Quốc Trung: Trên đường đi taxi đến đây, tôi đã kịp đọc bài phỏng vấn ca sĩ Thanh Lam. Thanh Lam, như mọi người đều biết là một người rất cảm tính. Tất nhiên, mỗi người nghệ sĩ đều có cách làm việc và quan điểm riêng mà chúng ta phải tôn trọng. Ở Việt Nam hiện nay, trong mọi lĩnh vực, chúng ta còn nặng về thành tích, danh hiệu, chức tước… nhưng tôi nghĩ, trong nghệ thuật, điều quan trọng nhất là thẩm mỹ của người nghệ sĩ. Khán giả người ta không cần quan tâm cô ca sĩ đó đến từ học viện nào, có được đào tạo hay không, quan trọng nhất là làm cho khán giả xúc động và chuyển tải cảm xúc được đến người nghe. Và tôi đánh giá điều đấy rất cao ở Uyên Linh.

Tuesday, 28 December 2010

HỒI KÍ TRẦN VĂN GIÀU (I)


Trần Văn Giàu Cập nhật : 28/12/2010 11:06

Diễn Đàn và Viet-Studies khởi đăng HỒI KÝ của nhà cách mạng & học giả Trần Văn Giàu (1911-2010).



Tài liệu


HỒI KÝ TRẦN VĂN GIÀU

ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU

Ở nước ta, từ hai mươi, ba mươi năm nay, có hai cuốn hồi kí mà người ta tin rằng tác giả đã viết xong, nhưng chưa biết bao giờ mới được công bố. Người dân thường và các nhà sử học thì mong mỏi sớm được đọc toàn văn hai chứng từ lịch sử. Nhà cầm quyền, hay đúng hơn, công cụ chuyên chính của chính quyền, thì ra sức theo dõi việc biên soạn, lùng tìm những người đánh máy, tàng trữ, với hi vọng thu hồi được bản thảo, để hoặc thủ tiêu, cấm đoán xuất bản, hoặc cắt xén, thay đổi (dịch nôm hai tiếng « biên tập » -- (tiếng) nước ta nó thế) trước khi cho xuất bản.

Tình cờ hay không, tác giả hai tập hồi kí huyền thoại ấy, hai cá tính rất khác nhau, lại có những điểm tương đồng kì lạ. Họ đều là những nhân vật lịch sử, đã góp phần làm nên lịch sử Việt Nam thế kỉ XX. Do số phận trắc trở, sinh thời họ đã trở thành những nhân vật huyền thoại, trong tưởng tượng của những người hâm mộ hay tò mò, thù ghét hay quý mến. Cả hai đều ra đời trên đất nước Việt Nam đau thương, người tháng trước, kẻ tháng sau, vào cùng năm 1911, cách đây gần đúng một trăm năm. Mỗi người một cách, cả hai đã làm nên lịch sử. Lại đã từng dạy sử (một người dạy sử trước khi làm nên lịch sử, một người ngược lại), hơn nữa, cả hai, về cuối đời, đều trở thành chủ tịch danh dự của Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Thêm một trùng hợp nữa, cách đây tám thập niên, ở xa nhau vạn dặm, họ đều viết về « vấn đề dân cày », vấn đề của những vấn đề Việt Nam thế kỉ XX -- mà ngày nay vẫn còn nóng bỏng. Nhưng nếu có một lí do quan trọng hơn mọi lí do khiến mọi người mong muốn tìm đọc hồi kí của họ, thì đó là : tên tuổi đã đi vào lịch sử, quyền bính có lúc ở tột đỉnh, nhưng họ đã trải qua những oan khuất kì bí vì họ không được lên tiếng giãi bày, còn người gây ra oan khuất lại nắm giữ quyền cao chức trọng, chỉ nhỏ giọt những lời lên án, vu khống họ bằng lời rỉ tai, xì xầm (cùng lắm thì « phổ biến miệng trong họp tổ »).

Hai nhân vật ấy, không nói, nhiều người cũng đoán ra : Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu.

Từ đầu năm 2010, bước sang tuổi bách niên, hai ông đã phải nằm bệnh viện. Lễ mừng thọ (truyền hình) của họ diễn ra trên giường trắng, trong tháng 8 và tháng 9. Ông Trần Văn Giàu vừa từ trần ngày 16.12.2010.

Đêm hôm ấy, viết đôi dòng về cuộc đời giáo sư họ Trần, tôi ước mong sớm được đọc trên mạng tập hồi kí của ông trong một văn bản toàn vẹn, không bị cắt đục, vo tròn hay bóp méo. Bài viết đưa lên mạng Diễn Đàn, anh Trần Hữu Dũng đưa tiếp lên trang Viet-Studies và gửi thư hỏi tôi : chưa có bản hồi kí sao ? Hóa ra anh cũng đã nhận được một ấn bản « số hóa » mà Trần Văn Giàu nói tới trong Lời nói đầudưới đây). Không phải là văn bản điện tử, nên chúng tôi phải tổ chức đánh máy lại. Tác giả chưa rà lại bản in này, mà sự việc kể lại trong đó lại xảy ra cách đây hơn 60 năm, nhân vật nhiều khi được gọi bằng bí danh, nên nhất thiết phải sửa lỗi chính tả và lỗi đánh máy, thêm chú thích và nếu cần, chú giải (việc này đòi hỏi nhiều công phu, mà những hiểu biết của chúng tôi không đủ). May thay, ý muốn được đọc một văn bản hoàn chỉnh không phải chỉ chúng tôi mới có. Anh Trần Hữu Dũng vừa « hô » trên mạng, đã có ngay năm bảy bạn đọc, người ở trong nước, người ở đôi bờ Đại Tây Dương, sốt sắng hưởng ứng. (

Nhờ vậy, ban biên tập Viet-Studies và ban biên tập Diễn Đàn vinh dự công bố Hồi kí Trần Văn Giàu.

Chúng tôi bắt đầu, kỳ này, bằng Lời nói đầu của tác giả (viết năm 1995), và chương Câu chuyện mười năm kết thúc (trong phần V, tức là phần cuối cùng, của Hồi kí).

Trong những tuần tới, chúng tôi sẽ lần lượt công bố theo thứ tự toàn văn tác phẩm. Đương nhiên, bản điện tử này sẽ tôn trọng nguyên tác, chỉ sửa những lỗi đánh máy và lỗi chính tả ; trong phạm vi cho phép, sẽ thêm chú thích và chú giải cần thiết. Tất cả các bình chú ấy là của những người biên tập (trừ trường hợp của tác giả thì chúng tôi sẽ chua rõ). Vì đây là một chứng từ lịch sử, tuy biết bạn đọc nóng lòng, chúng tôi sẽ cố gắng làm nhanh nhưng không vội, theo đúng tiêu chí nói trên. Tuy nhiên, công việc này không khỏi có sai sót, rất mong nhận được sự chỉ dẫn của bạn đọc. Bản đã lên mạng rồi, chúng tôi vẫn tiếp tục hoàn chỉnh và cập nhật, những thay đổi (nếu có) về nội dung sẽ được ghi rõ ngày tháng để tiện việc tra cứu. Đây cũng là dịp để tập hợp những hình ảnh liên quan tới tác giả và những nhân vật nói tới trong hồi kí (trong chừng mực có thể, sẽ ghi rõ nguồn gốc).

Thay mặt hai ban biên tập, chúng tôi xin thành thực cảm ơn tất cả các bạn xa gần đã góp phần vào việc chuyển giao bản thảo, đánh máy, chỉ dẫn... để tập Hồi kí Trần Văn Giàu này đến tay bạn đọc năm châu.

Nguyễn Ngọc Giao

19.12.2010

Lời nói đầu


Tôi viết tập « hồi ký » này từ cuối những năm 1970. Viết xong, tôi nhờ anh em ở Long An ̶ tỉnh nhà ̶ đánh máy ; ý muốn viết hồi ký để con cháu xem chớ không phải để in ra thành sách, vì trong hồi ký có lắm chuyện « không lấy gì làm hay », buồn nữa là khác. Nhưng vài ba anh em Long An, không xin phép tôi, tự ý đánh máy thêm mấy bản, chỉ giao lại cho tôi hai bản, họ giữ mấy bản tôi không biết, nhưng tôi được biết họ đã chuyền tay đọc khá rộng. Nhiều bạn bảo tôi cứ phát hành tập hồi ký này đi. Tôi không ưng. Có lý do.

Tôi thấy rằng không ít hồi ký đã được in ấn kể sự việc rất hay mà cũng chen vào một ít điều hoặc tác giả bịa hoặc lúc nghe kể đã thất thiệt. Viết hồi ký trước hết là viết những điều mình mắt thấy tai nghe và tự làm là chính, mà viết về mình thì dễ « chủ quan » : bớt cái dở thêm cái hay là điều khó tránh khỏi ; tôi ngập ngừng khi định viết hồi ký là vì vậy. Nhưng có một số việc, nếu mình không kể lại thì không ai biết, không ai nhớ, không ai viết, không ai làm sáng tỏ cho mình bằng mình. Thành ra viết hồi ký vừa là đóng góp sử liệu vừa là yên ủi mình. Trong lịch sử dù là lịch sử của một khoảng đời ngắn ngủi, mình chỉ là một tiếng của ngàn trùng ngọn sóng trên biển sôi động : ghi lại một tiếng, thật ra có nghĩa lý gì lớn lắm đâu, có thêm bớt gì lắm đâu ? Nhiều lắm thì làm cho một số người mất thì giờ đọc, hay mất tiền mua. « Cọp chết để da, người ta chết để tiếng » ; tục ngữ thì như vậy. Song, da, dầu là da cọp, nhiều năm rồi sâu mọt đục cũng hết. Tiếng, trừ ra tiếng của một số ít vĩ nhân, làm sao mà còn mãi với thời gian ? Năm trăm năm sau cách mạng tháng Tám, dân ta sẽ còn nhớ chỉ tên của một mình cụ Hồ, mình ông Giáp. Cho nên, viết hồi ký này, tôi chỉ mong cho cháu một đời sau mình biết được rằng ông nó đã gắng sức làm tròn trách nhiệm ở đời, đã sống có nhân cách. Thế là đủ.

Tôi chỉ viết hồi ký khoảng thời gian 1940-1945 vì đó là thời gian tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, xấp xỉ 90 năm. Tôi viết « Lời nói đầu » này ngày 27 tháng 10 năm 1995, sau khi tôi đọc lại bản hồi ký lần thứ ba.

Trần Văn Giàu



Câu chuyện mười năm đã kết thúc


Việc gì rồi cũng phải có kết thúc, duy kết thúc hay dở, đúng sai là vấn đề khác. Một ngày, tôi nhớ đâu là đầu năm 1988, tốt trời, tôi được Lê Đức Thọ (1) mời dự buổi chiêu đãi ở T.78 (2) với một số đồng chí. Tôi lấy làm lạ : là bởi vì, ở Hà Nội từ 1954 đến 1976, anh Thọ chưa hề đến nhà riêng tôi, chưa hề gọi tôi lên văn phòng hay nhà riêng của anh. Còn tôi thì tôi quen cái tánh “ mọi rợ ” là chưa bao giờ tự mình đến thăm bất cứ ai có chức, có quyền lớn hơn tôi – trừ trường hợp duy nhất là cụ Tôn Đức Thắng mà tôi thỉnh thoảng lên thăm, trước hết là vì anh Hai Thắng cứ vài ba tháng thì xuống thăm hai vợ chồng tôi một lần.

Bữa chiêu đãi hôm đó của anh Thọ, có mặt bốn người được mời : chị Năm Bi (3), Tào Tỵ (4), Tô Ký (5), và tôi – Trần Văn Giàu.

Ăn uống, trò chuyện thân mật. Không có riêng bàn về vấn đề gì cả.

Lúc buổi tiệc tàn, anh em sắp chia tay, thì tôi xin nói một tâm sự, nói với Thọ, giữa Bi, Tỵ, Ký :

“ Tôi cảm ơn anh Sáu mời cơm với các bạn đều là quen thân từ lâu. Tôi có việc tâm sự cần nói với anh Sáu, có các anh chị nghe, nghe tôi và nghe anh Sáu sẽ nói sau. Các đồng chí cho phép tôi nói lối nói ở trong tù, tôi và Thọ cùng ở banh 1, khám 8; Côn Lôn những năm 1935/1936. Đồng ý chứ ?

– Tao là Giàu, mày, ở khám 8, banh 1 <*>, là Khải, Phan Đình Khải (6) ; hôm nay chúng ta nói chuyện thân mật như cách đây mấy mươi năm, khi còn ở ngoài Côn Lôn. (Tới đây, thì Thọ liền nói với các đồng chí khách kia : hồi ở khám, ở banh tụi mình gọi nhau bằng mày tao như vậy đó, không khi nào có thưa anh, thưa chú ; hồi ở Côn Lôn chính Giàu dạy tôi học chủ nghĩa Mác-Lênin, chớ trước đó mình có học gì bao nhiêu đâu !).

Tôi nói với Thọ : “ Chúng ta là những người quá 70 tuổi, xấp xỉ 80 rồi, sắp đi theo cụ Hồ rồi. Mấy mươi năm nay, tao chịu những cái hàm oan mà mày, Khải, mày biết hết, biết rõ trắng đen. Chúng ta đều muốn đi theo cụ Hồ một cách thanh thản. Vậy lần này, Thọ về Hà Nội hãy có quyết định rõ, bằng văn bản của Ban Tổ chức Trung ương về tất cả những điều người ta vu cáo cho Giàu, được không ? ” Thọ hứa, hứa trước mặt chị Năm Bi, anh Tào Tỵ, chú Ba Tô Ký.

Chủ khách chia tay nhau trong vui vẻ, thân ái nữa.

Một tháng sau, ủy viên thường vụ Thành ủy là Bảy Dự (7) đến nhà tôi, đem cho tôi một bức thơ, mở ra, thấy cái quyết nghị của Ban Tổ chức Trung ương mà tôi chờ đợi mấy chục năm nay. Người ký tên không phải là Lê Đức Thọ mà là Nguyễn Đức Tâm, đương chức bí thư phụ trách tổ chức như Thọ trước đây. Tôi đọc lên cho Dự nghe. Vả lại bức thư không niêm, chỉ chuyển tải quyết nghị. Chắc ở Trung ương có bản lưu : bốn việc tố cáo, vu cáo, quyết nghị này cho là không căn cứ ; còn một vụ là Deschamps 1935 thì quyết nghị nói rằng tôi, Giàu, có chịu trách nhiệm.

Tôi tuyên bố ngay với Bảy Dự rằng tôi không bằng lòng và tôi sẽ cãi. Dự bảo với tôi rằng, như thế này thì tốt lắm rồi, cãi làm gì nữa. Tôi nói lại rằng tôi sẽ nhờ Thành ủy gởi cho Ban Tổ chức một bức thơ để tỏ rõ lại mọi việc. Tôi đã viết và gởi bức thơ đó, trong ấy không có gì lạ hơn là hai bức thơ trả lời cho tôi của đồng chí Nguyễn Văn Trân (Prigorny) (8) và đồng chí trưởng ban Lịch sử Đảng thành phố – đã chép lại bên trên và đã photocopy. (Xin xem Phụ lục dưới đây).

Một tháng sau nữa, tôi được giấy của Ban Tổ chức Trung ương cho đi Liên Xô nghỉ hè ở Sotchi (Hắc Hải).

Tôi gởi lại cho Ban Tổ chức cái giấy mời ấy với lời cảm ơn thành thật và lời cắt nghĩa vì sao tôi không đi nghỉ mát ở Hắc Hải, dù ý thì rất muốn (mấy chục năm nay tôi chưa được cho đi nghỉ mát ở Liên Xô lần nào). Tôi trình bày lý do là: Từ năm 1930, tôi để vợ trẻ (9) của tôi ở nhà một mình, đi mãi, đi miệt, đi làm “cách mạng chuyên nghiệp”. Từ 1930 đó cho đến sau Genève, tôi chỉ được về nhà hai lần, một lần hơn tháng, một lần 9 ngày ; hoạt động bí mật, ở tù, có vợ mà bỏ vợ ở nhà mãi ; tôi kháng chiến ở Bắc, vợ kháng chiến ở Nam, hai đứa không ở gần nhau như vậy là gần một phần tư thế kỷ, hết tuổi trẻ. Nay, hoà bình lập lại, tôi không đi nghỉ hè đâu xa mà không có vợ tôi cùng đi. Vậy xin gởi lại giấy mời với lời cảm ơn thành thật chớ không phải là chút hờn mát nào, xin các đồng chí ở tổ chức biết cho.

Không tới một tuần sau, Ban Tổ chức Trung ương gởi vào giấy cho vợ tôi cùng đi nghỉ mát hơn một tháng ở Hắc Hải, viếng Moscou, Lêningrad. Đó là vào năm 1988 thì phải, tôi nhớ không rõ. Kiểm lại, tôi thấy trong hơn ba, bốn mươi năm bị hàm oan, tôi không hề rời công tác, việc gì giao cho dầu nhỏ tôi cũng làm tròn, không giao việc gì thì tôi viết sách, viết báo, dạy học và tôi đã đạt những thành tựu tôi mong muốn, giữ vững tư cách đảng viên, giữ vững nhân cách Việt Nam.

Phụ Lục :



Thư của Trần Văn Giàu
gởi cho Ban Tổ chức Thành ủy
và Ban Tổ chức Trung ương


Kính gửi : Ban Tổ chức Thành ủy

Đồng kính gửi : Ban Tổ chức Trung ương



Ngày 13 tháng 5 năm 1988, đồng chí Bảy Dự trao cho tôi, tại 70 Phạm Ngọc Thạch, bản « Kết luận một số vấn đề tồn tại về lịch sử đồng chí Trần Văn Giàu » (số 182 – CV/TW) do đồng chí Nguyễn Đức Tâm ký.

Thế là « chung thẩm » rồi ! Song tôi thấy cần nói vài lời :

1) Rất buồn là việc đã xảy ra từ 1945 đến 1988 mới có kết luận. Kết luận mà không có tranh biện giữa bên tiên cáo và bên bị cáo. Dù sao, vẫn có kết luận và tôi xin thành thật cảm ơn các đồng chí đã quan tâm đến việc của tôi trong lúc trăm công ngàn việc bối rối, đã kết luận căn cứ vào một phần lớn sự thật khách quan, và đã giải quyết phần lớn các vấn đề làm cho tôi đỡ tủi phận.

2) Về vụ vượt ngục Tà Lài. Bản kết luận viết : « Chưa có chứng cớ gì là Pháp tổ chức cho đồng chí Giàu vượt ngục ». Đáng lẽ phải nói : « Không có chứng cớ gì… » ; việc đã xảy ra từ 1941, đợi tới bao giờ mới có bằng cớ mà nay hãy còn nói là chưa ? Không phải một mình tôi vượt ngục, có cả Tô Ký, Năm Đông (10) v.v.… họ còn sống, có Tào Tỵ biết rõ mọi việc. Đáng lẽ phải hỏi tội vu cáo của kẻ nào cố ý bày chuyện hại người ngay trong lúc làm khởi nghĩa tháng Tám, có hậu quả ghê gớm hơn 40 năm trường. Hỏi tội cho biết vậy thôi, chớ cũng sống chết cả rồi, còn hơn thua làm chi.

3) Về vụ Deschamps (11) : « việc khai nhận (của đồng chí Giàu) gây tổn thất cho phong trào cách mạng Nam Bộ và gây tổn thất cho đường giao liên quốc tế ». Đúng là tôi không được anh hùng như Trần Phú : Trần Phú không hở môi. Tôi có hở môi, nhận một số việc đã rồi, nghĩa là có trách nhiệm trong sự tổn thất. Song, Nguyễn Văn Trân (Prigorny) còn sống, làm chứng rằng người khai ra Deschamps không phải là tôi, không một ai bị bắt vì tôi khai, cả chỗ ở tôi, ở Phú Lạc (xóm của Trân – tôi ở hai kỳ, rất lâu) không ai thấy Giàu dắt Tây về bắt người tra khảo. Nay tôi về đó, bà con vẫn còn quý mến như xưa. Mà người khai Deschamps cũng không phải là người phát giác. Kẻ phát giác là thợ Sáu, chồng giả của chị Mười Tốt, chánh hiệu mật thám, mà một đồng chí trong Xứ ủy đưa vào Thành ủy phụ trách liên lạc quốc tế ! Tay này không bị bắt trong cuộc lại còn đi thăm anh em, rồi sau đó đã có lần toan đánh lừa chị Bảy Huệ (12) nữa, may chị Huệ sanh nghi nên thoát khỏi. Ta bị địch vào cấp ủy. Mà ta cứ đổ cho nhau, đáng tiếc thay ! (chánh thằng thợ Sáu đó đón tôi ở Hồng Kông về, gởi ở nhà một sốp-phơ, hai ngày sau, tôi bị bắt, cả sốp-phơ kia và Sáu an toàn). Tôi làm việc liên lạc quốc tế từ 1933 đến cuối 1934, với Ba Nhâm (thành ủy viên thời Minh Khai). Nhâm (13) nay còn sống, gần 80 tuổi. An toàn tuyệt đối. Tôi đã giao việc cho anh khác từ tháng 12/1934.

4) Điểm 5 của Kết luận nói tôi làm sai đường lối Trung ương. Sai với đường lối, thì sai thật. Nhưng mà tôi có biết đường lối của Trung ương là thế nào đâu ? Trung ương có gửi ai vào trực tiếp với tôi đâu ?



CHÚ THÍCH
(của biên tập viên)

(1) Lúc này, hơn một năm sau Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, ông Lê Đức Thọ không còn ở trong Bộ chính trị Trung ương nữa. Trong những ngày trước Đại hội, ông đã lèo lái mọi cách để ông Trường Chinh không ở lại tiếp tục làm tổng bí thư, tạo thêm đà cho cuộc đổi mới (ông Phạm Văn Đồng bị lung lạc, đã dùng nước mắt để thuyết phục ông Trường Chinh, nhân danh sự « đoàn kết nội bộ »). Ba người rút ra làm cố vấn Ban chấp hành Trung ương khóa VI. Với thế lực của bộ máy tổ chức, an ninh, đối ngoại, quân đội, Lê Đức Thọ tiếp tục nắm giữ nhiều quyền hạn, cho đến ngày ông mất (tháng 10.1990).

(2) Khu trụ sở các ban trung ương của ĐCSVN ở thành phố Hồ Chí Minh (phường 7, quận 3) tiếp giáp các đường Trần Quốc Thảo và Lý Chính Thắng. T.78 là tên gọi của Cục quản trị, phụ trách các cơ ngơi của ĐCSVN. Nhà ở « phía nam » của các ủy viên Bộ chính trị nằm ở đây.

(3) Tức là bà Hồ Thị Bi (Hồ Thị Hoa). Thành lập và chỉ huy « Chi đội 12 » (tiền thân của Trung đoàn 312) đã lập nên những chiến công hiển hách từ cuối năm 1945 ở vùng Hóc Môn. Lúc này bà mới tập đọc, tập viết, ký tên BI trông như ba con số 131, nên quân đội Pháp ở vùng này gọi bà là « Madame 131 ». Có thể đọc thêm Nguyên Hùng : Nam Bộ - Những nhân vật một thời vang bóng.

(4) Nhà cách mạng lão thành, hoạt động cách mạng từ những năm 1930 ở Bạc Liêu. Làm nghề họa đồ, nên còn có tên là « Họa đồ Lý ». Có thể đọc tiểu truyện của ông trong Tuyển Tập Nguyên Hùng : Tà Lài tụ nghĩa (Hồi thứ nhất : Vì Việc Nghĩa Tào Tỵ Thọ Nạn Tới Gia Định Gặp Bạn Công Trung).

(5) Thiếu tướng Tô Ký sinh năm 1922 (Wikipédia viết 1919), tại làng Bình Lý, Hóc Môn (nay là xã anh hùng Bình Mỹ, huyện Củ Chi). Ông tham gia cách mạng từ năm 12 tuổi, năm 17 tuổi bị bắt giải đi căng Tà Lài (1940). Đầu năm 1942, ông cùng 7 đồng chí vượt ngục và bị bắt giải lên Bà Rá cho tới ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3. 1945. Ông là một trong những người lập Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, sau là Chi đội 12. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, được thăng thiếu tướng, Chính ủy quân khu. Ông mất mùng 2 Tết năm Kỷ Mão (1999). Theo Nguyên Hùng : Nam Bộ - Những nhân vật một thời vang bóng (“TIỂU TƯỚNG” TÔ KÝ CHINH PHỤC “NGƯU MA VƯƠNG”)

(6) Phan Đình Khải là tên thật của ông Lê Đức Thọ. Cả hai đều sinh năm 1911 : Trần Văn Giàu ngày 6 tháng 9, Lê Đức Thọ ngày 14 tháng 10.

(7) Bảy Dự : bí danh của Nguyễn Võ Danh, từng giữ chức phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP HCM, phó bí thư Thành ủy Đảng bộ TP HCM của ĐCSVN.

(8) Tức Bảy Trân (đừng nhầm với Nguyễn Văn Trấn « ông già Chợ Đệm »), sinh năm 1908, sang Pháp (Marseille) năm 15 tuổi. 19 tuổi, sang Liên Xô học trường Stalin (1927-1930), cùng khóa Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Trần Phú, Bùi Lâm, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai, Trần Đình Long, Bùi Ái. Bí mật về nước năm 1930. Một trong những đảng viên cộng sản hiếm hoi đã tranh thủ được cảm tình và sự ủng hộ của đạo Cao Đài và hàng ngũ Bình Xuyên. Cũng đã từng làm liên lạc giữa bí thư xứ ủy Trần Văn Giàu với những trí thức yêu nước như Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Thiều... Xem thêm : Nguyễn Văn Trân, người cảm hóa giang hồ Bình Xuyên trong Nguyên Hùng (sách đã dẫn).

(9) Bà Đỗ Thị Đạo. Khi Trần Văn Giàu bị trục xuất từ Pháp về (19 tuổi, năm 1930), cha mẹ ông buộc phải cưới vợ « cho tròn chữ hiếu ». Cuốn hồi ký này, ông đề « tặng vợ tôi, bà Đỗ Thị Đạo, người vợ trung thành, người đàn bà theo đúng truyền thống Việt Nam và truyền thống gia đình ».

(10) Năm Đông : tức Dương Quang Đông, tức Dương Văn Phúc (1902-2003). Ông Năm Đông là nhà cách mạng lão thành đã tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí hội của lãnh lụ Nguyễn Ái Quốc và sớm hoạt động trong Công hội Đỏ của cụ Tôn Đức Thắng. Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Kì. Trong thời kháng Pháp, ông là Phó phòng Hàng hải Nam Bộ, phụ trách văn phòng thường trực của ta ở thủ đô Xiêm quốc, Bangkok. Ông đóng vai doanh thương có cửa hàng xuất nhập cảng lớn tại thủ đô Bangkok, mua sắm tàu biển chở súng đạn, hóa chất, máy móc về nước đánh Tây. Trong cuộc sống đầy gian nguy giữa hàng ngũ mật vụ Pháp bố trí dày đặc ở Xiêm, dưới cái tên Xiêm là Nai Chran ông vẫn bình tĩnh làm tròn sứ mạng của mình cho tới ngày bị phe đảo chính bắt. Xem tiểu sử đầy đủ trong cuốn Dương Quang Đông xuyên Tây của Nguyên Hùng (sách đã dẫn). Những năm cuối đời, tuy tuổi cao, ông vẫn lên tiếng chống tiêu cực và sự lưu manh hóa hàng ngũ đảng (như tố cáo sự gian trá của tướng Lê Đức Anh).

(11) Deschamps là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, làm thuyền trưởng. Trong cương vị này, ông làm giao liên giữa hai đảng, và cung cấp sách báo tài liệu cho ĐCSVN. Deschamps bị bắt năm 1935 cùng với Trần Văn Giàu. Các nhân chứng ông Giàu kể trong thư này, và nhiều người khác đều cho biết ai là người tố giác và khai báo về Deschamps và Trần Văn Giàu (xem Nguyên Hùng, sách đã dẫn).

(12) Bảy Huệ tức Ngô Thị Huệ hoạt động cách mạng từ những năm 1930, hai lần tù. Bà kết hôn với ông (Mười Cúc) Nguyễn Văn Linh (tổng bí thư tương lai) năm 1948. Hai người gặp nhau lần đầu trước đó ba năm, khi Bảy Huệ thay mặt tỉnh ủy Sóc Trăng ra đón đoàn tù trở về từ Côn Đảo.

(13) Ba Nhâm tức Trương Văn Nhâm hay Trương Quang Nhâm. Từng làm bí thư tỉnh ủy Trà Vinh. Một trong tám người vượt ngục Tà Lài (đợt 2) năm 1942, cùng với Trần Văn Giàu, Dương Văn Phúc (tức Dương Quang Đông), Châu Văn Giác, Trần Văn Kiết (Kiệt), Nguyễn Công Trung, Nguyễn Hoàng Sính (Đức), Tô Ký.

<*> Banh (từ tiếng Pháp bagne) : trại giam. Ở Côn Đảo, có nhiều banh, mỗi banh gồm nhiều khám. Thời Pháp, có 4 banh : banh 1 (trại Phú Hải), banh 2 (trại Phú Sơn), banh 3 (trại Phú Thọ), banh 3 phụ (trại Phú Tường), Chuồng Cọp, Chuồng Bò. Thời Mỹ, thêm trại 5 (Phú Phong), trại 6 (Phú An), trại 7 (Phú Bình, còn gọi là Chuồng Cọp Mĩ, phân biệt với Chuồng Cọp Pháp), trại 8 (Phú Hưng). Tổng cộng 127 phòng giam, 42 xà lim, 504 phòng biệt lập Chuồng Cọp. Các tên « Phú… » được đặt ra dưới thời Nguyễn Văn Thiệu sau Hiệp định Paris, khi quần đảo Côn Sơn được gọi tên là Phú Hải.

Một bất ngờ mới về dự đoán vị trí lãnh đạo trong tương lai của Việt Nam


27-12-2010 22:57
Một bất ngờ mới về dự đoán vị trí lãnh đạo trong tương lai của Việt Nam
Quang cảnh đại hội Đảng CSVN. Nguồn Internet

Ít ngày nay, trên các trang mạng trong và ngoài nước hé lộ thông tin không chính thức về các nhà lãnh đạo tương lai của Việt Nam sau khi Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành TW ĐCS Việt Nam họp hôm 13/12/2010.

Đặc biệt trên BBC đăng tải nhiều bài phân tích khá chi tiết về sự kiện này. Tuy nhiên thông tin do báo này đưa không hẳn đã chính xác về danh sách 4 vị đứng đầu nhà nước. Vấn đề nhân sự luôn được coi là nhạy cảm và cần được giữ bí mật tới phút chót, điều đó tạo nên nhiều phỏng đoán và bình luận đa chiều trong xã hội. Để bạn đọc điểm lại tên tuổi những vị đã được bầu thông qua tại Hội nghị 14 vừa qua, Vietinfo chuyển tới các bạn những phỏng đoán không chính chức về nhân sự cho ĐH XI tháng 1/2011.

1. Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội khóa XII sẽ lên làm Tổng bí thư thay thế Nông Đức Mạnh. Điều này là đương nhiên đối với một người từng nắm giữ cương vị Chủ tịch hội đồng lý luận TW của ĐCS, người được coi sẽ lái con thuyền ý thức hệ chính trị độc đảng giữa biển sóng dân chủ trên thế giới. Thêm vào đó, ông còn nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ phương Bắc để giữ vững 16 chữ “vàng” và tinh thần 4 "tốt".

2. Ông Trương Tấn Sang, nhân vật dư luận xã hội từng đồn đại là Tổng Bí thư sẽ thay thế ông Nguyễn Minh Triết để lên ghế Chủ tịch nước.

3. Ông Nguyễn Tấn Dũng, đương kim Thủ tướng Chính phủ sẽ tiếp tục ở lại đảm nhiệm thêm một nhiệm kỳ Thủ tướng như đã nói ở trên.

4. Còn chức danh Chủ tịch Quốc hội sẽ do ai đảm nhận?

Có phải ông Phạm Quang Nghị (ảnh trái), Bí thư thành ủy Hà Nội thay thế ông Trọng như thông tin rò rỉ ra gần đây hay với phỏng đoán khác là ông Hồ Đức Việt, (ảnh sau -phải) người từng xuất thân từ một Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội sẽ rời chức Trưởng ban Tổ chức TW quay trở lại nơi ông từng ra đi?

Thế nhưng tất cả những suy đoán đó đều không phải, người thay thế ông Trọng lại là đồng chí Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng (ảnh trên). Đây chính là một sự bất ngờ “thú vị” mà Trung ương ĐCS, Bộ chính trị muốn dành tặng cho tất cả những ai quan tâm tới chính sự Việt Nam. Quả là chưa hẳn đúng như báo chí nước ngoài loan tin ban đầu dự kiến ông Phạm Quang Nghị sẽ lên làm Chủ tịch Quốc hội. Thế nhưng giả sử khi ông Nghị ra đi thì phải có một người thay thế ông để quản lý cái đô thị đang hết sức rối ren về mọi mặt này.

Người được quan tâm thay thế ông Nghị để tiếp quản cái ghế nóng ở Hà Nội là ông Nguyễn Bá Thanh (ảnh bên), Bí thư thành ủy Đà Nẵng với nhiều kinh nghiệm về quản lý đô thị. Tuy nhiên đến phút chót số phiếu bầu cho ông vào Bộ Chính trị không đủ, vậy là ông không vào được BCT thì cũng không lấy đâu ra người thay thế ông Nghị.

Kế hoạch bổ sung được đưa ra vào phút chót, ông Hùng sẽ về Quốc hội. Có lẽ người “thắng” nhất trong vụ này là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người vừa “thoát hiểm” ngoạn mục trong vụ đắm tàu Vinashin, đồng thời đạt luôn nguyện vọng một mũi tên trúng hai đích. Thứ nhất vẫn giữ được “chiến hữu” của mình, thứ hai điều động ông Nguyễn Sinh Hùng sang làm Chủ tịch Quốc hội, nơi ông thường tranh đấu với những ý kiến phát biểu không đúng lúc đúng chỗ. Trong tương lai Chính phủ sẽ mạnh thêm, còn Quốc hội trở về đúng nghĩa của nó là nơi thể chế hóa các nghị quyết.

Người “thất vọng” nhất trong "cuộc đua" này có lẽ là đồng chí Trưởng ban Tổ chức TW Hồ Đức Việt,. Ông sinh năm 1947, còn đang sung sức và khá trẻ so với các đồng chí khác, vốn là hậu duệ của các bậc cách mạng tiền bối từ nay sẽ từ giã chính trường. Thay thế ông Việt sẽ là ông Ngô Văn Dụ, ̣(ảnh bên) Chánh văn phòng TW hiện nay.

Nói thêm một chút về chức danh Phó Chủ tịch nước, bà Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội đang trên đà thăng tiến với số phiếu đủ vào BCT và sẽ thay thế bà Doan trong thời gian tới. Xuất thân từ dân tộc Thái, BCT muốn đưa bà vào vị trí này cũng là để cơ cấu vùng miền - “coi trọng phụ nữ và đề cao người dân tộc thiểu số”.

Như vậy, đến giờ phút này về nhân sự chiến lược mà bấy lâu nay chúng ta phỏng đoán có thể đã sáng tỏ. Nhìn vào danh sách nhân sự không thấy có sự đột phá, vẫn cũ.

Với dự đoán này liệu có còn ngạc nhiên về nhân sự nữa hay không?

Hai Tê tổng hợp

Monday, 27 December 2010

Phim truyền hình Giant (Hàn quốc

3. Phim số ba là Giant (tạm dịch Đại nhân vật), là một trong 10 phim truyền hình đông người xem nhất năm 2010.

Đây là phim đã giới thiệu với bố trong thư trước đây.

Phim dài 60 tập, nửa đầu rất hay, nhưng về sau kéo quá dài, bị loãng. Dù sao cũng nên xem để thấy về mối quan hệ giữa giới doanh nhân và chính quyền (đặc biệt ngành tình báo).

Lấy bối cảnh những năm 70 kéo sang năm 2010, từ thời điểm nền kinh tế Hàn Quốc đang trong giai đoạn hình thành đầy rẫy nhiều mưu toan lừa gạt giữa các tập đoàn lớn cho đến khi Hàn Quốc chuyển sang nền dân chủ.

Lấy bối cảnh Seoul thập niên 70, “Giant” của đạo diễn Yu In-sik kể về cuộc đời của những thanh niên Hàn Quốc vươn lên để kiếm sống và đạt được mục tiêu của mình trong sự nghiệp cũng như tình yêu. Đây là bộ phim đánh dấu 20 năm thành lập đài truyền hình SBS. Những biến động của lịch sử đất nước trong giai đoạn này khiến con người ta trở nên kiên cường và bản lĩnh hơn trước sóng gió cuộc đời nhưng không vì thế mà trái tim yêu bớt đi ngọn lửa nồng nàn. Seoul trải qua giai đoạn biến chuyển lớn những năm 70, cả về mặt xã hội lẫn tài chính, từ đó, làm nền tảng cho nhiều câu chuyện liên quan đến nghèo đói, quyền lợi cũng như sự thành công.

Lee Gang-mo (Lee Beom-soo) là chàng thanh niên sinh ra và lớn lên khi Seoul đang trong bước chuyển mình lớn của những năm 70, cả về xã hội lẫn tài chính. Vòng quanh quẩn của những đớn đau và hạnh phúc xung quanh nghèo đói, quyền lợi và sự thành công là yếu tố tác động đến cuộc đời Lee Gang-mo. Sinh ra trong một gia đình nghèo khổ vào cuối những năm 1950, anh mất cha trong một cuộc ám sát bí ẩn ngay khi vừa chào đời. Chàng thanh niên trẻ vất vả tìm kế mưu sinh và cuối cùng đã dẫn người mẹ bị bệnh cùng em gái đến tá túc tại một nhà nghỉ nhỏ, kiếm sống bằng cách ăn xin và hát rong trên đường. Một đêm nọ, anh mua vài thanh củi để sưởi ấm căn phòng nhưng chủ nhà nghỉ vô tình làm rò rỉ gaz, giết chết những người ở bên trong kể cả mẹ của Lee Gang-mo. Trái tim tan nát, anh tự thề với chính mình sẽ không bao giờ để bản thân lâm vào cảnh nghèo đói, bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm thành công. Câu chuyện của Lee Gang-mo tiếp tục khi anh tìm được tình yêu.

Cô gái Hwang Jeong-yeon (Park Jin-hee) một nhân vật sôi nổi đã cuốn hút được trái tim lạnh băng của chàng trai trẻ. Nhưng liệu tình yêu đó có đủ kéo anh ra khỏi vòng tham vọng của đồng tiền, yếu tố là tất cả để đạt được quyền lực, khiến mọi người có mọi lý do để giành giật nó bằng mọi giá.



Phim Chiến hữu (Comrades)

2. Phim số hai là câu chuyện của những người lính đã hy sinh tuổi xuân và cuộc sống của mình trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953).

Thời lượng: 20 tập
Công chiếu: kênh KBS lúc 21:40 thứ Bảy và Chủ Nhật hàng tuần từ 19/06/2010

Lee Hyun-jong (Choi Soo-jong) là chỉ huy của đội quân Nam Hàn. Trước khi cuộc chiến bắt đầu, Lee vốn đã là một quân nhân. Đến lúc đất nước kêu gọi nhân dân cầm súng chiến đấu, Lee lại tiếp tục lên đường và nguyện cống hiến đời mình cho tổ quốc. Bề ngoài gai góc và nghiêm khắc, Lee Hyun-joong khiến các binh sĩ cấp dưới e ngại nhưng chính anh lại là người xả thân để hy sinh cho đồng đội.

Và câu chuyện tiếp tục khắc hoạ về tình yêu của những người lính khi Lee Hyun-joong gặp lại người bạn cũ anh từng để ý là Lee Soo-kyeong (Lee Tae-ran).

Nhưng trớ trêu thay nay cô lại là người đứng bên chia chiến tuyến, là sĩ quan trung úy của quân đội miền Bắc. Đứng giữa tình yêu cá nhân và tình yêu đất nước, cả Lee Hyun-joong và Lee Soo-kyeong đều phải chọn một... "

"Comrades" là dự án của kênh KBS kỉ niệm 60 năm chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Nội dung bộ phim không mới cũng như dàn diễn viên của "Comrades" đa phần là những gương mặt gạo cội nhưng chính điều đó đã khiến "Comrades" nhận được sự quan tâm của khán giả và được đánh giá thành công.

Sự kịch tính của "Comrades" không chỉ nằm ở những trận chiến một mất một còn cho độc lập của dân tộc mà còn là cuộc chiến trong mỗi người binh sĩ khi phải chấp nhận hy sinh cái tôi của mình cho cái chung của dân tộc.

Hình ảnh trong phim:





















Bộ ba phim truyền hình Hàn Quốc

Bộ ba phim truyền hình Hàn Quốc sau đây có thể xem là khái quát lịch sử Hàn Quốc trong nửa cuối thế kỷ 20, đi từ cuộc chiến Triều Tiên cho đến thời kỳ chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ.

1. Phim đầu tiên - cũng là phim được đánh giá cao nhất. Là tác phẩm bi tráng về số phận con người dưới chế độ độc tài.



Sandglass (Đồng hồ cát), ra mắt năm 1995 và cho đến nay (2010) vẫn là phim đứng thứ ba về số lượng người xem tivi trong lịch sử Hàn quốc. Ở giờ cao điểm có đến 60% người Hàn Quốc bật tivi để xem phim này.

Năm 2009, trong một thăm dò với 20 nhà biên kịch và sản xuất truyền hình Hàn Quốc, Đồng hồ cát được bình chọn là phim truyền hình hay nhất trong lịch sử Hàn Quốc.

Đây cũng là phim đầu tiên (tính cả phim nhựa) của Hàn Quốc đề cập đến cuộc thảm sát Gwangju 1980.

Phong trào dân chủ Gwangju (Hangul: 광주 민주화운동) chỉ cuộc nổi dậy của dân chúng ở thành phố Gwangju, Hàn Quốc từ 18 đến 27 tháng 5, năm 1980. Trong suốt giai đoạn này, người dân Gwangju đã chống lại sự độc tài của tướng Chun Doo-hwan và nắm quyền kiểm soát thành phố. Tiếp theo đó họ chiến đấu để tự bảo vệ mình và cuối cùng thì bị dẹp tan bởi quân đội Hàn Quốc. Sự kiện trên được người Hàn Quốc gọi một cách ngắn gọn là 18 tháng 5 để tránh đụng chạm đến vấn đề chính trị (những ai lên án thì gọi là “Sự cố 18 tháng 5”, trong khi những người ủng hộ thì gọi là “Cuộc nổi dậy 18 tháng 5”).

Trong suốt thời kỳ Chun Doo-hwan cầm quyền, sự kiện “18 tháng 5” bị gán cho là cuộc phản loạn của những người thân Cộng sản. Chỉ sau khi luật dân sự được tái lập, sự kiện này mới được coi là một nỗ lực phục hồi dân chủ trước quyền lực quân sự. Chính phủ đã chính thức gửi lời xin lỗi và xây dựng một nghĩa trang quốc gia dành cho các nạn nhân.

Đồng hồ cát là phim đầu tiên của Hàn Quốc đụng đến biến cố này, và gây cảm hứng cho một số phim sau đó cũng bắt đầu dám chạm đến sự kiện.

Thời lượng: 24 tập
Thời gian phát sóng: 10 giờ tối thứ hai đến thứ năm, từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1995

Tóm tắt nội dung: Bộ phim Đồng hồ cát xoay quanh 2 người bạn thân trong những năm Hàn Quốc gặp nhiều biến động chính trị (khoảng giữa thập niên 70-80):Park Tae-soo và Kang Woo-suk. Park Tae-soo (Choi Min Soo) là một người trung nghĩa nhưng hơi thô lỗ một chút, số phận đẩy đưa khiến anh trở thành một tên xã hội đen. Còn Kang Woo-suk (Park Sang Won) là một người thông minh và hiếu học, sau này anh trở thành một công tố viên.

Yoon Hye-rin (Go Hyun Jung), một tiểu thư đài cát, xinh đẹp, là con gái của một ông trùm casino có thế lực. Cô học cùng trường đại học với Woo-suk. Hye-rin được Woo-suk giới thiệu làm quen với Tae-soo và sau đó họ đã yêu nhau.


Bối cảnh phim ở vào thời điểm của cuộc nổi loạn đòi dân chủ hóa Gwangju năm 1980, khi vị bộ trưởng quốc phòng Hàn quốc Chun Doo Hwan đã lên nắm quyền điều hành đất nước sau khi tổng thống Park Chung Hee bị ám sát, đã gởi một tiểu đội lính nhảy dù đổ bộ xuống Gwangju để trấn áp những người biểu tình. Và hàng trăm người dân vô tội đã bị giết ở cuộc nổi loạn này. Phim có những cảnh được mô tả rất thực dựa vào sự kiện lịch sử nói trên - một sự kiện đau buồn trong lịch sử HQ (cho đến giữa thập kỷ 90, chính quyền đương thời HQ vẫn còn "ém nhẹm" vụ việc đã xảy ra).

Sau phim Đồng hồ cát, những phim có đề tài tương tự cũng đã được làm như phim The Petal (Cánh hoa, 1996) và Peppermint Candy (Kẹo bạc hà, 2000). Và đây cũng là thời điểm cựu tổng thống Chun Doo Hwan phải vào tùvì những việc đã xảy ra trong quá khứ.

Sunday, 26 December 2010

MỘT BUỔI TRƯA HÀ NỘI MÙA ĐÔNG
Trần Nhương
Trưa nay đúng ngày thành lập Quân đội, chúng tôi gồm bốn nhà văn Trần Hoài Dương, Trần Nhương, Trần Huy Quang, Hoàng Cát ngồi với nhau tại quán cà phê bên chùa Quán Sứ. Người tổ chức cuộc họp mặt này là anh Trần Hoài Dương. Anh từ Sài Gòn bay ra và phôn cho chúng tôi. Tuần trước tôi vào Sài Gòn, khi ở nhà anh Lê Phú Khải cùng Phạm Đình Trong, Nguyễn Vĩnh, chúng tôi phôn cho anh Trần Hoài Dương nhưng anh bận không đến được. Không ngờ hôm nay lại gặp nhau giữa Hà Nội cuối đông.
Thật tình cờ có ba anh họ Trần: Trần Hoài Dương, Trần Nhương, Trần Huy Quang,. Có ba anh cựu chiến binh: Trần Nhương, Hoàng Cát, Trần Huy Quang. Có hai người khốn khổ vì văn chương là Trần Huy Quang vì Linh nghiệm, Hoàng Cát với Cây táo ông Lành...Có điều thú vị bây giờ tôi mới biết là chính anh Trần Hoài Dương đã biên tập Cây táo ông Lành và cho in trên báo Văn nghệ.(Hồi âý anh Dương là trưởng ban Văn xuôi báo Văn nghệ)
Bốn chúng tôi chơi hai chai vang và kể bao nhiêu chuyện. Anh Trần Hoài Dương đã từng làm thư kí TBT tạp chí Cộng sản (9 năm ở TC này, sau chuyển về báo Văn nghệ)) nên biết rất nhiều chuyện và có thời giúp đỡ đồng chí Nguyễn Phú Trọng phấn đấu được chuyển đảng chính thức. Ngày ấy anh Trần Hoài Dương là đảng viên, cấp trên của đồng chí Nguyễn Phú Trọng. Sau này anh xin ra Đảng vào Sài Gòn, chia ray vợ, 5 năm chuyên bán máu để sống. Kiếp người thế cũng là ghê. Nay anh thanh nhàn và chuyên viết cho thiếu nhi, văn chương óng ánh trong như pha lê...
Hết buổi trưa bên nhau. Gần lúc chia tay thì Hoàng Cát khóc hu hu. Anh thương bao đồng đội đã nằm lại chiến trường và thương cả những em gái khốn khổ mua vui cho những đại gia...Hoàng Cát là thế đấy. Anh Dương bảo Hoàng Cát thôi đừng khóc nữa mày..
Anh Trần Hoài Dương tặng tôi mấy CD nhạc của con trai anh Trần Lê Quỳnh, một nhạc sĩ trẻ được hâm mộ...

Friday, 17 December 2010

Nhận xét về 'lãnh đạo tương lai' của VN

Những tin tức rò rỉ ra từ trước Đại hội XI của Đảng Cộng sản đã hé lộ tên tuổi của các nhân vật được cho là sẽ lãnh đạo Việt Nam trong những năm tới đây.

Ông Nguyễn Phú Trọng, 66 tuổi, dự kiến sẽ trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông Trương Tấn Sang, 61 tuổi, sẽ là Chủ tịch nước, và ông Phạm Quang Nghị, 61 tuổi, sẽ giữ chức Chủ tịch Quốc hội trong khi ông Nguyễn Tấn Dũng, 61 tuổi, sẽ tiếp tục là Thủ tướng.

Độ tuổi trung bình của các nhà lãnh đạo này sẽ ở mức trên 62 so với tuổi trung bình của gần 90 triệu dân Việt Nam là khoảng 28.

Nhà Việt Nam học có tiếng người Australia, Giáo sư Carl Thayer, vừa trở về sau chuyến đi chín ngày tới Việt Nam và nói với BBC về các đồn đoán nhân sự mới nhất.

Trước hết ông nói về lý do các lãnh đạo Việt Nam thường lớn tuổi.

Ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Phú Trọng, một quan chức và ông Nông Đức Mạnh

Ông Nguyễn Phú Trọng được cho là sẽ thay ông Nông Đức Mạnh dù đã 66 tuổi

Giáo sư Carl Thayer:

Cách chuyển giao theo thế hệ cứng nhắc và nút cổ chai hiện có đòi hỏi một người không thể là tổng bí thư hay giữ vị trí quan trọng nếu không có thâm niên năm năm trong Bộ Chính trị và người ta không thể vào Bộ

Chính trị nếu chưa đủ năm năm là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Như vậy là đã mất 10 năm rồi.

Có thể là các bộ trưởng sẽ trẻ hơn nhưng các vị trí cao cấp của đảng thì chắc chắc không như thế. Hiện Việt Nam cũng có giới hạn tuổi về hưu cho các ủy viên Bộ Chính trị là 65 và có sáu thành viên đến tuổi phải về hưu. Nhưng người ta có thể có ngoại lệ và dường như một thành viên đã được coi là ngoại lệ [ông Nguyễn Phú Trọng].

Tóm lại họ chỉ còn một "nhóm gene" rất nhỏ để từ đó chọn ra những người lãnh đạo cao cấp. Việt Nam cần phải suy nghĩ về cách để khuyến khích các nhà lãnh đạo trẻ.

Vậy là vấn đề ở Đảng Cộng sản chứ không phải hệ thống chính trị nói chung?

Dĩ nhiên là Đảng Cộng Sản có vai trò thống lĩnh trong hệ thống chính trị đó.

Vấn đề ở đây là vị trí tổng bí thư tương đối yếu so với vị trí thủ tướng vì giờ đây quyền lực tập trung vào người đứng đầu chính phủ

Giáo sư Carl Thayer

Tuy nhiên vấn đề ở đây là vị trí tổng bí thư tương đối yếu so với vị trí thủ tướng vì giờ đây quyền lực tập trung vào người đứng đầu chính phủ.

Theo tôi, trong tương lai gần, những người nắm giữ năm vị trí quan trọng, tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch Quốc hội và thường trực ban bí thư sẽ luôn ở ngoài tuổi 60. Trong quá khứ, những người trở thành thủ tướng đều xuất phát từ ghế phó thủ tướng thứ nhất.

Hiện ông Nguyễn Sinh Hùng đang giữ vị trí này nhưng sẽ không trở thành thủ tướng trong dịp này. Khi tôi ở Việt Nam người ta hỏi đùa nhau 'Khi nào sẽ có Đại hội Đảng" và câu trả lời là "trước ngày sinh nhật ông Hùng" để ông đáp ứng tiêu chí tuổi 65. Có vẻ như sự nghiệp của ông Hùng đã chấm dứt.

Từ giờ tới kỳ đại hội XII, những người như ông Hùng sẽ phải rời khỏi vị trí phó thủ tướng để những người trẻ hơn có cơ hội tập sự.

Hiện người ta có xu hướng không nhìn tới những người ở độ tuổi 40, hay thậm chí 50 để chọn nhân sự cao cấp.

Bất lợi tuổi trẻ

Như vậy tuổi trẻ thực ra lại là điều bất lợi chứ không phải lợi thế trong hệ thống như vậy?

Đúng vậy, vì hệ thống coi trọng và thưởng công cho những người trung thành. Các đảng viên phải tạo mối quan hệ, xây dựng ra các nhóm và họ tin cậy lẫn nhau.

Điều đáng ngạc nhiên là họ đã đặt ra hạn mức về tuổi tác. Đó là từ Đại hội V hồi năm 1992 khi họ thảo luận nhiều về thay đổi thế hệ và thông thường tại mỗi kỳ đại hội có khoảng 40% ủy viên trung ương sẽ nhường chỗ cho những người mới.

Họ cũng nói về ba thế hệ trong ban chấp hành trung ương, những người ở độ tuổi 40, 50, 60. Nếu một người ở cuối gần 50 thì khi có thể được xem xét vào các vị trí cao cấp, họ cũng đã gần 60 rồi.

Một số người có vẻ không ấn tượng lắm với ông Nguyễn Phú Trọng. Theo ông, ông Trọng có để lại dấu ấn đáng kể trong thời gian làm chủ tịch Quốc hội không?

Người tiền nhiệm của ông Trọng, ông Nông Đức Mạnh cũng đã từng dùng chức chủ tịch Quốc hội làm bậc nối để lên chức tổng bí thư.

Tôi coi ông Nông Đức Mạnh là người dàn xếp quyền lực và ông Trọng cũng vậy.

Tại Quốc hội Việt Nam có nhiều phe phái và trong năm năm qua ông ấy đã làm tốt nhiệm vụ điều phố các tranh luận và đảm bảo Quốc hội thực hiện các chức năng cần thiết.

Ông Trọng là lựa chọn an toàn hơn cả. Ông đại diện cho ý thức hệ được phản ánh trong văn kiện của Đảng rằng Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội.

Giáo sư Carl Thayer

Ông ấy là người đã quá tuổi một năm, ông ấy 66 tuổi, mà vẫn trụ lại được [trong Bộ Chính trị].

Nhưng điều quan trọng không phải là chuyện ông ấy có để lại dấu ấn gì khi làm chủ tịch Quốc hội hay không.

Theo tôi ngày nay Việt Nam không thể có được một tổng bí thư mạnh. Kể từ thời ông Võ Văn Kiệt, văn phòng thủ tướng đang ngày càng mạnh hơn và có nhiều nhóm bảo trợ hơn Đảng Cộng sản rất nhiều.

Trong những năm gần đây, chẳng hạn năm 2007 khi lạm phát tăng cao và cuộc khủng hoảng toàn cầu xảy ra khiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải chèo lái trong khó khăn. Khi đó các đảng viên cao cấp muốn tổng bí thư phải có hành động nhưng ông ấy không có hành động gì cả. Có hai điều chúng ta có thể nói về ông Trọng là - thứ nhất ông ấy là ứng viên chấp nhận được ở bên trong Đảng nhưng ông ấy không đủ mạnh để đương đầu với ông Nguyễn Tấn Dũng. Họ sẽ không có xung đột mà trong đó tổng bí thư sẽ lấn át thủ tướng.

Điều thứ hai liên quan tới cả Trung Quốc và chính trị địa phương. Ông Trọng đã từng đứng đầu Hội đồng Lý luận Trung ương và Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản do vậy ông nắm chắc về vấn đề ý thức hệ. Nếu chúng ta đọc văn kiện của Đảng Cộng sản chúng ta thấy ít nhất có 17 lần nhắc tới 'diễn biến hòa bình', 'thế lực thù địch'...

Có những người trong Đảng Cộng sản không phải lúc nào cũng cố gắng để hòa nhập với thế giới. Đối với họ, ông Trọng là lựa chọn an toàn hơn cả. Ông đại diện cho ý thức hệ được phản ánh trong văn kiện của Đảng rằng Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội.

Ông là ứng viên không gây tranh cãi. Tôi cho rằng nếu ông Trương Tấn Sang trở thành tổng bí thư, chúng ta sẽ có những tính cách mạnh ở ông Dũng và ông Sang và sẽ tạo ra những va chạm.

Đấu tranh phe nhóm

Thưa ông, liệu có thể tưởng tượng được chuyện một người miền Nam có thể trở thành tổng bí thư không hay như ông nói vị trí này giờ đã yếu tới mức họ cũng chẳng quan tâm nữa và sẽ chọn người từ bất kỳ miền nào?

Ông Trương Tấn Sang

Ông Trương Tấn Sang chỉ được chức có tính nghi lễ

Một số nghiên cứu gần đây của tôi cho thấy ông Trọng là ứng viên sáng giá vì các nguồn của tôi nói theo truyền thống thì tổng bí thư phải là người Bắc.

Khi tôi tới Hà Nội mấy hôm vừa rồi, tôi gặp hơn 25 nhà ngoại giao trong đó có các đại sứ, tùy viên chính trị,... và có một nhóm cho rằng ông Trương Tấn Sang sẽ là tổng bí thư.

Tôi có thể hiểu được điều này vì ông Sang là Thường trực Ban Bí thư và là người ở vòng trong của Đảng so với chủ tịch Quốc hội là người ở vòng ngoài. Nhưng nếu những tin tức chúng ta được biết là đúng thì đó cũng mới chỉ là khuyến cáo của Ban Chấp hành Trung ương thôi.

Các đại biểu tại Đại hội Đảng vẫn có thể đòi hỏi có hơn một ứng viên để họ chọn giống như lần trước.

Khi đó ông Nông Đức Mạnh là người được Ban Chấp hành Trung ương ủng hộ và đã trở thành Tổng Bí thư. Hồi quý một năm nay tôi qua Việt Nam và các nguồn tin nói Đảng Cộng sản đã tổ chức thăm dò ý kiến về các ứng cử viên cho chức tổng bí thư.

Sau đó tôi trở lại vào quý ba và người ta nói cuộc thăm dò mang lại quá nhiều ứng viên và họ tỏ ra lo ngại vì người ta muốn chỉ có hai, ba tên thôi và sẽ có người thắng ngay trong vòng bỏ phiếu đầu để chứng tỏ sự đoàn kết.

Mời quý vị đón đọc phần hai của phỏng vấn trong đó Giáo sư Carl Thayer nói về chuyện liệu có đấu tranh phe nhóm và Việt Nam sẽ xử lý quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ ra sao trong tuần tới.

Dương Thu Hương – Thư ngỏ gửi bạn đọc và nhà báo Huy Đức

Các bạn thân mến, đây có lẽ là bài báo cuối cùng của nhà văn Dương Thu Hương viết trước khi từ giã bạn đọc. Trong loạt bài đặc biệt này, Dân Làm Báo rất hân hạnh được Ban Biên Tập DCVOnline gửi đăng, với mong muốn cùng phổ biến đến tất cả bạn đọc Dân Làm Báo. Thay mặt bạn đọc, xin chân thành cảm ơn nhà văn Dương Thu Hương và BBT DCVOnline

Phần 1 :

Trước hết, tôi xin lỗi độc giả vì hai nhầm lẫn trong bài viết “Để gọi tên sự vật một cách rõ ràng”:

1. Nguyễn Văn Hưởng tức Trần, sinh năm 1945, thứ trưởng bộ nội vụ, tổng cục trưởng tổng cục I không phải là đại biểu quốc hội.

2. Cha đẻ của công chúa Mỵ Châu là An Dương Vương Thục Phán chứ không phải Triệu Đà.

Sự nhầm lẫn thứ nhất do nhà báo Huy Đức phát hiện nên tôi phải cảm ơn ông cũng như phải chân thành xin lỗi ông nghị Trần Văn Hưởng (không là thứ trưởng bộ nội vụ, không có biệt danh Trần, và không nhảy lên bụng cô Hồ Thu Hồng).

Sự nhầm lẫn thứ hai được phát hiện do một người bạn đang sống tại Pháp và đối với tôi sự phát hiện này là vô cùng quan trọng vì nó là hồi còi báo động cho tôi biết đã đến lúc tôi phải rút khỏi vũ đài: tuổi già đã tấn công tôi.

Dương Thu Hương, cuộc sống của bà là một cuốn tiểu thuyết. Màu đỏ và đen. Nguồn ảnh: Stephan Gladieu / Le Figaro MagazineDo đó, bài báo này sẽ là bài cuối cùng tôi viết để tham góp vào cuộc đấu tranh chung. Tuy nhiên, trước khi chia tay vĩnh viễn, tôi sẽ có đôi lời với độc giả, trước hết là đối với các anh em đang tiếp tục cuộc đấu tranh dầu sôi lửa bỏng này.

Sự nhầm lẫn gán ghép chức ông nghị cho Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tuy đáng tiếc nhưng còn có thể tha thứ vì sự trùng lặp cả tên lẫn họ là vô cùng hiếm hoi. Bản thân tôi cũng từng chịu cảnh này. Tôi vốn coi chính phủ Việt Nam là ổ tham nhũng bẩn thỉu mà trong đó, người lương thiện không có chỗ đứng. Vậy mà lại có một bà Dương Thu Hương chẳng những trùng tên mà còn trùng cả tuổi làm thống đốc ngân hàng, nghĩa là một chức quan không nhỏ trong cái hệ thống những kẻ đục khoét ấy. Khi mẹ bà thống đốc ngân hàng này chết, bạn hữu và anh em dân chủ mang hương hoa đến… viếng mẹ tôi trong khi bà cụ đang ngáy khò khò trên gác. Tôi ngỡ rằng trò chơi cắc cớ này chỉ xảy ra như là sự duy nhất, ai dè còn có trường hợp thứ hai.

Trái lại, sự nhầm lẫn giữa Triệu Đà với An Dương Vương là không thể và không đáng tha thứ. Đó là một sai lầm không thể biện minh: Không ai có thể biện minh cho tuổi già.

Ông tướng Charles De Gaulle có một định nghĩa “Tuổi già là sự chìm tầu”.

Đối với tôi, tuổi già là cây cầu thang dẫn từ ngôi lầu của cuộc sống xuống tầng trệt, nơi nấm mồ đang chờ sẵn. Ta trượt từng nấc trên cây cầu thang định mệnh, rụng rơi dần. Rụng tóc, rụng răng, da dẻ nhăn nheo dăn rúm, hình hài méo mó đi: hoặc nó teo tóp lại như con mắm lẹp, hoặc nó phì ra từ từ để biến thành một cái bị gạo rồi sau rốt, lăn tòm xuống huyệt.

Nhưng sự huỷ hoại thể chất cũng chưa đáng kể bằng sự mất mát này: chúng ta mất dần trí nhớ và sự sáng suốt. Não chúng ta sẽ vận hành với một tốc độ chậm chạp, khật khưỡng như bước đi của người thọt, bởi vì với tháng năm, rất nhiều lỗ hổng xuất hiện trong trí nhớ.

Cổ Loa là nơi tôi qua lại không biết bao nhiêu lần, Mỵ Châu và An Dương Vương là những cái tên từng gây biết bao xúc động trong tâm hồn tôi, vậy mà trong bài báo vừa rồi, tôi lại nhầm tên ông bố chí tình và rủi ro của nàng Mỵ Châu với ông vua Triệu Đà, kẻ thù của Thục Phán An Dương Vương, bố đẻ Trọng Thủy, kẻ đã dùng nam nhân kế để cướp nước Âu Việt.

(Từ trái) Đông Trình, Nguyễn Duy, Dương Thu Hương, Nguyễn Quang Lập. tại Đại hội Nhà Văn Việt Nam 1995 tại Hà Nội. Nguồn ảnh: Tư liệu văn học của gia đình Nguyễn Hữu Hồng Minh

Một sự nhầm lẫn kì cục đến như vậy chỉ có ông Trời mới tạo ra được thôi, và biết rằng không ai có thể chống lại luật trời, tôi sẽ thực hiện mệnh lệnh của thiên nhiên với sự ngoan ngoãn tuyệt đối: rút lui.

Các đồng đội, những người đấu tranh cho dân chủ sẽ chất vấn:

- Chị đã hứa sẽ đứng cùng chúng tôi cho đến hơi thở cuối cùng, bây giờ chị bỏ cuộc, chị nuốt lời?

Tôi trả lời:

- Tôi không nuốt lời, tôi cũng không bỏ cuộc, nhưng tôi sẽ góp sức vào cuộc đấu tranh bằng cách khác, tương hợp với khả năng, trừ phi tôi mắc bệnh Alzheimer.

Có thể họ sẽ nói:

- Chỉ có những lão già tham quyền cố vị mới bị người đời nguyền rủa, chị không quyền không chức, hà cớ chi phải rút lui? Dù già lão, dù bước đi khập khễnh chị cũng còn giúp được đôi chút, không nhiều thì ít trong cuộc đấu tranh này.

Tôi xin trả lời rằng:

- Những kẻ quyền cao chức trọng bám lấy cái ghế của họ vì những cái ghế ấy làm nảy ra những thỏi vàng, còn tôi, khi dấn thân vào tranh đấu, chỉ được hưởng tù đầy, đe dọa, tước đoạt, nhục mạ và vu khống. Họ và tôi đứng hai bên chiến tuyến. Nhưng chúng tôi có một điểm chung: thân phận người. Đã là con người thì phải suy tàn với thời gian. Hành động thuận theo lẽ trời thì không gây tổn thất cho đời mà cũng không đem lại sự hổ thẹn cho mình. Xứ sở chúng ta đã có quá nhiều người già chống lại lẽ trời, hành động không tính đến liêm sỉ, nói theo lối dân dã: già mà không biết nhục, tôi không thể làm thêm một con số cộng để đứng chung với bọn họ.

Như vậy, mọi sự đã rõ ràng.

Bây giờ, tôi xin trả nốt món nợ cuối cùng, trước khi đặt dấu chấm hết.

Nhà báo Huy Đức có trách tôi, đại ý là tại sao lại bàn quá nhiều về cô gái bao Hồ Thu Hồng, con người này không đáng để tốn nhiều bút mực.

Có thể ông Huy Đức đúng, theo cách suy nghĩ cổ truyền của các nhà nho Việt Nam, nhưng cũng có thể ông Đức sai, nếu tính theo hiệu quả.

Khi chúng ta mô tả một con cái ghẻ nó có mấy cái chân, nó hút máu theo cách nào, nó đào hang và sinh đẻ ra sao… không phải vì chúng ta quan tâm đến bản thân con cái ghẻ mà vì chúng ta quan tâm đến làn da đang bị ghẻ. Làn da ấy chính là hiện trạng của xã hội chúng ta đang sống giờ đây.

Bất cứ xã hội nào cũng được xem xét dưới hai góc độ: thành phần tinh hoa và đại bộ phận dân chúng. Hai bộ phận này không nhất thiết phải liên quan theo cùng một tỷ lệ trong mọi xã hội và mọi thời đại. Nhưng để hiểu một quốc gia, một xứ sở, một dân tộc, bắt buộc ta phải phẫu tích hai thành phần nói trên.

Tôi không cho cô Hồng là một trí thức đích thực, bởi có cố gán cho cô ta chức danh ấy cũng chẳng ai tin, nhưng sự thực là cô Hồng đang giữ chức tổng biên tập của tờ báo Thể Thao TpHCM, vậy thì muốn hay không cô Hồng cũng được xếp vào hạng tinh hoa xã hội. Cứ cho rằng cái ghế này cô có được là nhờ uy lực của tình nhân Nguyễn Văn Hưởng tức Trần, nhưng bấy lâu nay thiên hạ vẫn chấp nhận vị trí này theo cách chính danh, vậy qua đó, liệu ta có thể nhận thức được chất lượng xã hội hay không?

Hồ Thu Hồng là gái bao. Gái bao và gái điếm là nghề bán dâm, hoặc theo thời hạn dài, hoặc theo từng cú. Theo lẽ thường, đã hành nghề này thì phải náu mình trong bóng tối, bởi kẻ mua dâm có một gia đình với tất cả các mối liên hệ chằng chéo xung quanh nó. Y có một người vợ mà y không thể bỏ, bởi bà ta là những cơn si mê ân ái đầu đời, người đã chia xẻ với y những ngày cơm rau muối và là mẹ của những đứa con y, y có những đứa con và những đứa này sẽ phải lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái. Không một ai muốn thấy chồng mình, bố mình, ông nội hay ông ngoại mình chường mặt ra ở nơi nhà thổ, bởi hình ảnh đó sẽ gieo những tổn thất không thể cứu vãn.

Vì những lý do cổ truyền ấy mà ngay ở nơi tự do tình ái có thể trượt quá đà như nước Pháp, cũng chẳng có một thứ gái bao nào kêu ổng ổng lên khoe khoang “chiến lợi phẩm” như cô Hồ Thu Hồng. Sự khoe khoang này chỉ có thể xảy ra do hai duyên cớ:

- Hoặc một sự vô liêm sỉ ngoại hạng, ca tối ư đặc biệt.

- Hoặc một bộ não vô năng mà sự vận hành hoàn toàn tuân theo chỉ thị của cái dạ dày và phần dưới rốn. Tôi định nghĩa vắn tắt hơn: suy nghĩ bằng dạ dày và hai quả cật.

Tôi không rõ cô Hồng thuộc loại nào, nhưng tôi đề nghị nhà báo Huy Đức suy nghĩ lại: Thứ nhân cách như vậy được xếp vào bộ phận tinh hoa thì xã hội của chúng ta được xếp vào loại nào, và điều ấy liệu có khiến mọi người hổ thẹn hay không?

Sự hổ thẹn là một trong các phẩm tính của con người, theo nghĩa chân chính của từ này. Nó là kết quả của quá trình giáo dục và sự tự nhận thức, là rào cản vô hình để nhắc nhở con người dừng lại một khi các ham muốn không lành mạnh thúc đẩy họ. Khi cái bộ phận kiềm chế dục vọng này bị mất đi, con người sẽ trượt xuống dốc như chiếc xe không phanh, vô thức hay hữu thức.

Vô thức, nếu họ không đủ trí khôn để hiểu sự việc. Hữu thức, khi họ không chống nổi bản thân: quyền, tiền, tình dục trở thành các ông chủ tuyệt đối khống chế họ. Theo sự quan sát của tôi từ mấy chục năm nay, sự hổ thẹn là thứ thiếu vắng nhất trong xã hội Việt Nam, điển hình ở tầng lớp lãnh đạo. Xin nhắc lại ba sự kiện gây ấn tượng đặc biệt đã khắc sâu vào trí não tôi.

Một.

Trước khi bị bắt (1991) vài năm, tôi giao du với một số đại biểu quốc hội. Một lần, họ kể rằng ông Đỗ Mười lên đọc diễn văn, nửa chừng, bỗng nhiên sửa gọng kính chăm chú cúi xuống nhìn văn bản rồi dõng dạc nói: “A! Chỗ này chúng nó bảo nghỉ”.

Không cần giải thích, bạn đọc cũng sẽ hình dung ra sự việc. Diễn văn do thư kí viết, người này hẳn biết rõ trình độ ngôn từ của thượng cấp, với nhã ý giúp cho nghệ thuật hùng biện của nhà cầm quyền được nâng cao nên ông ta chua dấu “(nghỉ)” để nhắc nhở đấng bề trên. Chẳng ngờ đức vua dốt đến mức đọc oang oang “A! Chỗ này chúng nó bảo nghỉ” trên diễn đàn.

Nghe xong chuyện, tôi hỏi “Thế lúc ấy, mọi người phản ứng ra sao?” Hai nghị sĩ này cười bảo “Cúi đầu bấm bụng cười chứ còn biết làm sao”. Tôi hỏi tiếp “Vua ngu thế mà các quần thần không biết hổ thẹn à?” Họ im lặng.

Chúng ta biết danh từ “nghị gật” vốn đã có từ lâu, không cần đợi đến thứ “đại biểu quốc hội” của chế độ này. Nó là sản phẩm ở những xã hội mà nền dân chủ thực sự chưa hiện diện.

Hai.

Năm 1986, ông Tố Hữu bay mất chức phó chủ tịch thứ nhất phụ trách kinh tế, bởi trong năm năm cầm quyền (1981-1986) ông đã dẫn đất nước đến tình trạng lạm phát, cơn lạm phát này khiến toàn dân phẫn nộ bởi trong chốc lát họ trở thành kẻ trắng tay.

Hồi đó, một bà già khóc lóc bảo tôi “Mấy chục năm trước bán nhà, nghe chính phủ dụ dỗ gửi tiền vào ngân hàng, đổi tiền đi đổi tiền lại, giờ cả cái nhà gỗ năm gian chỉ còn đủ mua một gói mì chính 500 gram”.

Tuy nhiên, mất chức cũ ông Tố Hữu lại chuẩn bị để leo lên chức cao hơn: tổng bí thư, theo thông lệ đá hất lên của đảng.

Thế nào là đá hất lên? Tôi sẽ giải thích vắn tắt vì biết rằng các thế hệ sinh sau không hiểu nổi ý nghĩa của cụm từ này.

Đá hất lên nghĩa là bổ nhiệm một kẻ vừa bị huyền chức do các lý do vô năng hoặc vô đạo đức (ăn cắp, ăn cướp, giả mạo giấy tờ, ngủ với vợ người khác…) ở một chức cao hơn, quan trọng hơn, nhiều lợi nhuận hơn chức vừa mất.

Ví dụ: Vụ phó tại bộ văn hoá vì hủ hoá mà mất ghế thì sau đó vài tháng sẽ được bổ nhiệm làm Vụ trưởng tại Bộ Giao thông vận tải. Hoặc là, cục trưởng thuộc bộ Y tế phạm tội tham nhũng thì sau thời gian “kỷ luật đảng” sẽ được đẩy lên thành thứ trưởng Bộ Ngoại thương, vân vân và vân vân…Vì sao?

Vì mọi thay đổi nhân sự đều nằm trong tay Ban tổ chức đảng, trực tiếp dưới sự chỉ huy của ông Lê Đức Thọ, mà ông Thọ, như mọi người đã biết, để củng cố quyền lực bản thân nên chỉ bổ nhiệm những kẻ tuyệt đối trung thành với ông ta. Vì thế, dù phạm tội nặng đến đâu, nhưng sau vài tháng làm kiểm thảo, đám cán bộ phạm tội đều được Anh Lớn đưa lên bệ phóng để tiếp nhận các chức vụ quan trọng hơn, nắm trong tay nhiều quyền lực hơn. Lối bổ nhiệm kiểu này tiếp thu từ các triều đình xưa (thuật dụng Nhân) và từ các băng mafia thời hiện tại.

Như thế, ông Tố Hữu sau khi ngã ngựa, liền hăm hở bắt tay vào việc chuẩn bị một cú “đá hất lên” bởi lúc ấy ông Lê Duẩn tỏ ra vô cùng sủng ái nhà thơ Huế. Để bày tỏ lòng trung thành với ông Lê Duẩn, ông Tố Hữu hạ lệnh cho ban tuyên giáo dẹp những lời ca ngợi “ông cụ” (Hồ Chí Minh) mà chuyển sang ca ngợi anh Ba (Sáng suốt như “nghìn ngọn nến” là biệt danh ông Lê Đức Thọ đặt cho ông Lê Duẩn từ đầu thập kỉ 60 để đánh dấu mối liên minh nhằm hạ bệ ông già họ Hồ).

Cùng với việc thay đổi thần tượng, ông Tố Hữu liên tục đi thăm các tỉnh để mở chiến dịch vận động cho mình. Một trong các địa điểm đầu tiên ông đến thăm là Hải Phòng, lúc đó ông Đoàn Duy Thành đang giữ chức bí thư thành uỷ. Trong chuyến du ngoạn thành phố Hoa phượng đỏ nhà thơ lớn khoan khoái công bố bài thơ mới, trong đó có câu:

“Làm ăn” – hai chữ, à ra thế!

Bài thơ ấy được ngâm đi ngâm lại không nghỉ trên đài phát thanh với giọng thánh thót của các nghệ sĩ ưu tú nhất quốc gia. Mỗi lần nghe, một lần tôi sởn gai ốc. Tôi đang sống trong một chế độ mà những kẻ có quyền định đoạt số phận non sông là hạng người hoàn toàn vô năng và vô sỉ. Một ông quan đầu triều, kẻ nắm trong tay nền kinh tế quốc gia nghiễm nhiên công bố rằng ông ta không có chút hiểu biết nào về kinh tế, và sự ngu dốt này lại được trưng bầy một cách vô cùng duyên dáng qua con đường…nghệ thuật.

Thêm nữa, sau các tổn thất tầy trời gây cho dân chúng, ông quan này không mảy may hổ thẹn, không một ly sám hối, tiếp tục cuộc vận động để leo lên một chiếc ghế cao hơn. Nếu các công dân Việt Nam có ý thức, ắt họ phải rùng mình vì bấy lâu nay họ đang lênh đênh trên một con tầu mà các hoa tiêu là một đám người nham nhở suốt đời không hề đặt tay lên bánh lái.

Hoàn toàn vô năng và biết mình vô năng mà nhơn nhơn nắm quyền lực, hành xử đó vừa biểu đạt sự khinh bỉ dân chúng vừa chứng tỏ sự khinh bỉ chính mình. Nơi nào lòng hổ thẹn vắng mặt thì sự vô liêm sỉ lên ngôi. Sau các thất bại nghiêm trọng trên lĩnh vực tài chính, ông Tố Hữu không hề mở miệng nói một lời xin lỗi dân, đảng của ông ta cũng vậy.

Chỉ có ở một xứ sở điên như Việt Nam hoặc các nước trung phi vừa thoát thai từ tình trạng bộ lạc mới có loại lãnh đạo kiểu này. Chúng ta, những người được gọi là nhà văn nhà báo trong một quốc gia như thế, chúng ta có nên nhục hay không hở ông Huy Đức?

Ba.

Trước kia, cảng Hải Phòng là cảng quan trọng số một của đất nước, bởi hàng hoá xuất hay nhập đều dồn vào đó (đương nhiên, hàng nhập khẩu là chính). Khu vực nhà kho của cảng là khu vực được bảo vệ nghiêm cẩn nhất vì đó là tài sản quốc gia, đồng thời cũng là nơi tiếp nhận hàng viện trợ quân sự (vũ khí và quân trang).

Vào ngày mà hoả hoạn xảy ra tại Khu Nhà kho này, một cuộc hoả hoạn lớn chưa từng thấy, gây tổn thất vô cùng nghiêm trọng cho nhà nước, ông thủ tướng Phạm Văn Đồng đi xuống thực địa để quan sát. Hành động duy nhất của ông ta là khóc! Ông khóc ròng rã hồi lâu, chẳng nói một lời, trước sự im lặng của đám người tháp tùng và đám cán bộ phụ trách cảng.

Vì sao ông khóc? Chắc hẳn ông biết rằng vụ hoả hoạn này không thể xẩy ra do sơ sót ngẫu nhiên mà trái lại, nó được chuẩn bị một cách chu đáo trước khi thực hiện. Ai có thể làm được việc đó nếu không phải chính người của guồng máy quyền lực? Ăn cắp, sau đó gây hoả hoạn để phi tang.

Thủ đoạn này được nhắc lại nhiều năm sau tại Sài Gòn, nếu ai có trí nhớ tốt hẳn chưa quên vụ cháy ngôi lầu nhiều tầng, đó là khu trung tâm thương mại thành phố.

Sau khi khóc chán chê, trên đường về, ông Đồng thú nhận với các nhà báo tháp tùng rằng tuy là thủ tướng nhưng ông ấy chẳng có thực quyền, rằng ông ấy rất đau lòng nhưng chẳng biết làm gì cả…

Thông thường, các chính trị gia thích sắm vai khôn ngoan (sự khôn ngoan được chuẩn bị thường trực để trưng bầy) và đạo đức (đa phần là giả mạo). Họ cũng tìm mọi cách che dấu khuyết tật của mình. Ông Phạm Văn Đồng trong phút xúc động đột xuất bộc bạch tâm tư. Kể ra, về phương diện con người, thế cũng đáng khen. Chỉ tiếc rằng sau khi thú nhận mình sắm vai con rối, rằng mình nhu nhược, vô năng, ông ấy vẫn tiếp tục ngồi ghế thủ tướng hàng chục năm nữa mà không mảy may có ý định về hưu, tưới hoa hồng, vun gốc mai như nhiều vị quan có tư cách thời xưa.

Như thế, hàng chục năm đất nước tiếp tục bị điều hành bởi một đám nha lại núp sau áo ông thủ tướng bù nhìn, bị đục khoét bởi các vụ tham nhũng mà ông thủ tướng bất lực kia không hề hay biết và sự thối rữa của bộ máy quyền lực xảy ra một cách bạo hành mà chẳng một ai đứng ra giải quyết.

Thưa bạn đọc, ba ví dụ trên liệu đã đủ để chứng mình rằng sự hổ thẹn đã thường xuyên vắng mặt trên đất nước chúng ta? Rằng sự vắng mặt này đã xẩy ra từ lâu, từ rất lâu, mà không một ai để ý đến?

Vì sao có tình trạng này ?

Vì hai duyên cớ.

- Tính cường bá và lòng tham lam vô tận của kẻ cầm quyền.
- Sự cam chịu đến tê liệt của dân chúng.

Dân ta thường tự hào rằng mình đã thắng hai đế quốc lớn, mà quên rằng mục đích mọi cuộc tranh đấu đều chỉ nhằm mang lại tự do và hạnh phúc cho con người. Nếu không đạt được hai mục tiêu ấy, mọi cuộc đấu tranh chỉ là trò xẻo thịt, cắt đầu hoàn toàn vô nghĩa. Thế giới phương Tây quan sát xứ sở chúng ta, và họ liệt Việt Nam cũng như nhiều nước châu Phi vào loại nước hậu thuộc địa mà hiện tượng không tránh khỏi là hiệu ứng gương.

Thế nào là hiệu ứng gương?

Gương, theo nghĩa thông thường biểu hiện trung thành hình ảnh nó phản chiếu (loại trừ loại gương đặc biệt làm méo hình ở các nơi giải trí). Nếu mặt bạn tròn thì hình ảnh trong gương sẽ tròn, nếu bạn có chiếc nốt ruồi trên cánh mũi thì nốt ruồi đó sẽ hiện đúng vị trí ấy trên mặt bạn khi soi gương.

Hiệu ứng gương đối với các nước hậu thuộc địa là sau khi giành lại được độc lập từ tay các thực dân như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… các chính quyền bản địa lại lặp đúng hình mẫu cũ. Có nghĩa là họ sẽ trở thành những tên thực dân cai trị dân tộc họ, nhiều khi còn độc ác hơn bọn thực dân chính thống do đặc tính cường hào, chánh tổng, tù trưởng bộ lạc (kẻ cầm quyền trong các cộng đồng nhỏ, cách biệt nền văn minh chung) thêm vào đó là lối hành xử dã man của những kẻ chưa có ý thức về quyền con người.

Anh em đấu tranh cho dân chủ đều biết tướng Trần Độ, khi còn sống đã nói “Nếu nhà tù Pháp thời xưa mà giống nhà tù cộng sản bây giờ thì bọn tớ chết lâu rồi, làm gì còn có người vượt ngục”.

Lời nhận xét này là một trong những lý do mà chế độ Hà Nội căm ghét ông, đương nhiên, cũng là lý do để chúng tôi cảm phục ông. Sự thành thật là điều vô cùng hiếm hoi dưới chế độ cộng sản.

Tại sao hiệu ứng gương xảy ra ở Việt Nam cũng như nhiều nước châu Phi?

Có nhiều lý do, nhưng lý do căn bản nhất là dân trí thấp. Để dễ dàng nô lệ hoá dân chúng, nhà cầm quyền Hà Nội đã áp dụng chính sách ngu dân một cách tối đa. Thời tôi còn trẻ, không một ai được nghe radio ngoại quốc, toàn dân chỉ được nghe đài Hà Nội, và lời lẽ của kẻ cầm quyền là nguồn thông tin duy nhất mà họ buộc phải chấp nhận. Chỉ các cán bộ cấp cao mới được ưu tiên nghe đài… Trung Quốc.

Về mặt vật chất, hẳn nhiều người còn nhớ những thập kỷ triền miên dân chúng sống với mớ tem phiếu, với các khẩu phần thức ăn của súc vật, với tình trạng bị đầy ải, bị hành nhục vì mỗi miếng ăn.

Khi con người bị vây hãm giữa nỗi thiếu thốn trường niên và một đời sống tinh thần ảm đạm, họ không thể trở thành con người thật sự, bởi toàn bộ nghị lực và thời gian của họ chỉ dùng để vật lộn với sự bần hàn. Họ không sống mà sống sót. Từ tình trạng sống sót lay lắt này, họ sẽ dễ dàng thoả mãn một khi cái bụng được đầy hơn, manh áo mặc được ấm hơn.

Ở châu Phi, nơi cái đói rình rập thường xuyên, điều này dễ dàng minh chứng. Ở Việt Nam, sau hai cuộc chiến tranh, sau rất nhiều chết chóc, thương vong, bệnh tật, người ta dễ dàng đi đến sự chấp nhận này: “Miễn là được sống!”, “Dẫu sao cũng còn hơn thời chiến tranh, sốt rét quanh năm, ăn rau rừng xanh rớt mặt”.

Đó là một hiện thực mà chúng ta dẫu muốn chối bỏ cũng không được. Hiện thực đó là một miếng mồi ngon, một mỏ vàng lộ thiên mà kẻ cầm quyền không bỏ lỡ cơ hội, họ đã khai thác triệt để tâm lý tiêu cực này. Sự thèm khát một đời sống an toàn luôn luôn dẫn dân chúng đến sự hèn nhát, từ hèn nhát đến hèn hạ là một khoảng cách không xa.

Từ những năm 1780, cách chúng ta hơn hai thế kỉ, nhà cách mạng Pháp Jean-Paul Marat đã nói rằng “La trop grande sécurité des peuples est toujours l’ avant-coureur de leur servitude”.

Dịch đại khái là “Sự an toàn thái quá của dân chúng là kẻ dẫn đường cho sự nô lệ của họ”.

Khi đọc những dòng này, tôi không khỏi chua xót. Chúng ta đang ở giai đoạn mà các dân tộc văn minh đã bỏ qua từ hai trăm năm trước.

Nhưng chấp nhận sự thực không có nghĩa là cam chịu sự thực đó như một hiển nhiên. Một dân tộc chậm tiến muốn thoát khỏi tình trạng ấy trước tiên phải đủ dũng khí nhìn thẳng vào sự nhục nhã của mình. Không biết hổ thẹn, không có cách nào thay đổi được số phận. Tình trạng thiếu vắng sự hổ thẹn của những người cầm quyền Việt Nam xảy ra lâu nay là do, trước hết, cơ cấu xã hội độc quyền tạo nên và dung dưỡng tâm lý tham lam, kiêu ngạo. Thêm nữa, bản thân họ không có khái niệm về tinh thần trách nhiệm, không được giáo dục đầy đủ để thấu hiểu lòng tự trọng cũng như tính liêm sỉ. Sau cùng, vì dân chúng im lặng cúi đầu. Sự im lặng này chỉ có thể giải thích bằng hai lý do: hèn nhát và ngu dốt.

Hèn nhát, bởi chính phủ cộng sản đã thế chân những tên thực dân Pháp mà cai trị họ, theo một hình mẫu còn khốc liệt hơn, tàn bạo hơn hình mẫu cũ. Sự cai trị này khiến dân chúng tê liệt vì sợ hãi. Người Việt Nam vốn là những người lính dũng cảm trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm lại là những công dân hèn nhát trước sự hà hiếp của những tên thực dân cùng nòi giống, bởi vì họ chưa hiểu biết về quyền công dân cũng như quyền con người.

Ngu dốt, bởi từ hàng ngàn năm nay họ bị ảnh hưởng một cách sâu sắc đạo Khổng. Lý thuyết của Khổng tử là loại dây trói bằng mây, vô cùng dai, buộc họ vào một hệ thống giá trị lỗi thời, nói chính xác hơn, một hệ thống giá trị phản động.

***

Phần 2 :

Nếu độc giả lật lại mớ báo cũ từ những năm 80, sẽ gặp mục “Thư bạn đọc”. Thời ấy, dù không phải người đọc báo thường xuyên nhưng cũng đã hai lần tôi bắt gặp tại mục trên, thư của các đảng viên kì cựu. Họ than thở, họ phàn nàn về tình trạng tham nhũng, về sự hà hiếp dân chúng của đám cán bộ sở tại, họ tha thiết đề nghị đảng sửa đổi chính sách, chấn chỉnh nội bộ và sau khi cầu khẩn bề trên dòm ngó lại đạo đức, họ cam kết lòng trung thành của mình bằng câu “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”.

Khi đọc những dòng chữ này, tôi lặng đi vì kinh hoàng và mặt tôi nóng như hơ lửa vì nhục nhã. Dù đã biết từ lâu rằng dân ta bị ràng trói bởi các quan niệm phong kiến (điều này xảy ra trong chính gia đình tôi và tôi là nạn nhân đầu tiên), nhưng dẫu sao, tôi cũng không hình dung được cái di sản thối rữa kia còn khiến con người u mê đến thế.

Sau khi suy ngẫm, tôi đành công nhận rằng đạo Khổng đã trở thành khối u di căn trong xã hội Việt Nam, một căn bệnh nan y mà các con bệnh hoàn toàn không hay biết. Trong thâm tâm, các đảng viên coi đảng là vua hoặc thay thế vua nên họ phải thề thốt lòng trung với đảng. Rủi ro là vua cũng như chế độ phong kiến đã bị chính những người cộng sản tiêu diệt, nên sự dịch chuyển này lặp lại lần thứ hai: từ đảng trở thành cha mẹ hoặc ông chủ. Trong bối cảnh đó, các đảng viên cũng như các công dân nghiễm nhiên sắm vai con hoặc vai chó. Quá trình hoán chuyển trên xảy ra một cách hoàn toàn vô thức. Đa phần các đảng viên cộng sản mở miệng là tuôn ra những từ sáo rỗng như dân chủ, cộng hoà… nhưng thực chất họ chẳng có một mảy may hiểu biết về những điều họ nói. Đó là sự mỉa mai của lịch sử mà giờ đây nhìn lại, mỗi chúng ta không tránh khỏi đắng cay.

Ngày ấy, để có thể tiếp tục sống và đấu tranh, tôi đã tự an ủi “Những đảng viên này đều sinh vào những năm 1920-1930, họ bị trói buộc bởi đạo Khổng. Đạo Khổng dạy con người làm nô lệ một cách thành công. Ta hy vọng ở các thế hệ tiếp nối”.

Tuy nhiên, hơn hai mươi năm sau, tôi biết mình nhầm. Sự mê muội này không chi phối riêng các thế hệ sinh vào những năm 20, 30 của thế kỉ XX mà nó có ảnh hưởng rộng lớn hơn tôi dự tưởng. Vào khoảng 2002, hay 2003 gì đó, khi chúng ta đã bước sang thế kỉ XXI, tôi được xem cuộc phỏng vấn ghi hình của một nhà báo nước ngoài, trong đó có sự hiện diện của bà Nguyễn Thị Hồng Ngát.

Bà Ngát vốn là biên kịch cùng xưởng phim truyện số 4 Thụy Khê với tôi, sau nhờ sự nâng đỡ của ông Nguyễn Khoa Điềm mà lên làm cục phó, trong cuộc phỏng vấn ghi hình nói trên, bà Ngát cũng tuyên bố: “Con không chê cha mẹ…”.

Tới đó, tôi rùng mình. Bà Ngát sinh năm 1950 hoặc 1951, đã từng học trường điện ảnh Vờ-gich ở Nga bốn năm, được liệt vào loại văn nghệ sĩ (tầng lớp tinh hoa của xã hội). Một người ở vào lứa tuổi ấy, nghề nghiệp ấy, mà điềm nhiêm coi quan hệ của mình với kẻ cầm quyền là con đối với cha mẹ hoặc là chó đối với chủ thì tình trạng thối nát hiện hành của Việt Nam là không tránh khỏi.

Một đất nước muốn phát triển phải có các công dân hiểu biết về phận sự và quyền lợi của mình, đảm nhận trách nhiệm của mình trước bản thân, gia đình và xứ sở. Người ta không thể xây dựng một nền văn minh với những kẻ có trí não con sen và tư cách thằng ở. Không ai có thể tạo nên một quốc gia hùng mạnh với những kẻ đi bằng hai chân nhưng trong thâm tâm lại chấp nhận mình là chó.

Bởi một khi đã chấp nhận mình là chó thì chẳng bao giờ có thể hiểu và đạt được cuộc sống thực sự của con người.

Không phải ngẫu nhiên mà nhân loại đã rút ra kết luận này “Dân chúng nào, chính phủ ấy”.

Tôi là người Việt Nam, tôi không sung sướng gì khi nói ra những điều cay đắng, nhưng tôi cũng lại biết rõ rằng nếu không dám đối mặt với sự thật, con người sẽ tự giết mình theo cách thức loài đà điểu: nhắm mắt, rúc đầu vào cát, chờ kẻ thù đến kết liễu mạng sống.

Nếu có thể mở mắt được, thì trước hết chúng ta nên mở mắt và nhìn vào cơ quan đại diện cao nhất, Quốc hội. Bởi vì về mặt chính danh, quốc hội được coi là cơ quan có quyền lực đối chất, giám sát và phủ quyết các đề nghị của chính phủ, như thế quốc hội cũng là bộ phận tinh tuý nhất của dân tộc vì các thành viên của nó đeo biển hiệu người đại diện, người lãnh phận sự nói lên sở nguyện của dân chúng.

Ông Nguyễn Trần Bật đã có bài viết rất hay về thân phận của các nghị sĩ trong xã hội Việt Nam hiện nay. Ông phân tích một cách rành mạch cái cơ chế độc đảng độc quyền khiến họ chỉ có thể tồn tại như những con rối, một thứ trang trí trong ngôi nhà quốc gia, một thứ thuốc giảm đau làm nguôi cơn phẫn nộ của đồng bào và một mánh khoé sân khấu nhằm tạo ấn tượng dân chủ giả hiệu để lừa dối dư luận quốc tế. Bài viết của ông là một đóng góp đáng kể để nâng cao trình độ nhận thức cho đám đông cũng như thúc đẩy sự phát triển tư duy dân chủ.

Tôi chỉ xin bày tỏ nỗi băn khoăn về hiện thực đương thời: Giờ đây, liệu có bao nhiêu phần trăm nghị sĩ dám đứng lên thật sự chất vấn, thật sự giám sát hành vi của chính phủ, nói cách khác dám chống lại sự lộng hành của bộ máy cầm quyền? Bao nhiêu phần trăm cay đắng ngậm ngùi về thân phận bù nhìn trong cam chịu và câm lặng? Còn lại, bao nhiêu phần trăm an nhiên chấp nhận vai trò Nghị gật với nụ cười… dã nhân?”

Từ vài chục năm nay, nỗi băn khoăn này là nỗi băn khoăn lớn nhất đối với những người đang đấu tranh cho dân chủ. Sơ đồ phân loại các đại biểu quốc hội sẽ được coi như biểu đồ diễn đạt sự tiến bộ xã hội, nói cách khác cuộc tập dượt dân chủ ở nước ta.

Theo như tin tức của VNexpress và BBC ngày 2 tháng 11 năm nay (2010) thì trong phiên họp ngày mồng 1 tháng 11 năm 2010, nhóm đại biểu quốc hội đứng lên chất vấn chính phủ về vụ Vinashin gồm các ông bà Nguyễn Minh Thuyết, Vũ Quang Hải, Lê Văn Cuông, Huỳnh Ngọc Đáng, Lê Thị Nga, Phạm Thị Loan, Nguyễn Văn Sỹ, Dương Trung Quốc. Tám người trên tổng số bao nhiêu? Và ý kiến của họ có được chính phủ giải đáp không? So với nhiều năm trước, đây là một dấu hiệu đáng lạc quan. Chỉ có điều, sự lạc quan của chúng ta vô cùng nhỏ bé bởi sau khi các đại biểu trên lên tiếng thì ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ tịch quốc hội lại dằn mặt họ “Vinashin thực chất đã phá sản chỉ có điều mình chưa tuyên bố mà thôi và đây là hình thức phá sản đặc thù của Việt Nam” rồi thì “Trong các lý thuyết về kinh tế thị trường thì phá sản là sự tàn phá sáng tạo, phá cái cũ để tạo ra cái mới, phù hợp với quy luật kinh tế ở thời điểm đó, thì hiện nay mình đang làm. Đừng vì vụ Vinashin mà kéo lùi tư duy đổi mới doanh nghiệp…”

Ông Kiên là tiến sĩ, uỷ viên uỷ ban kinh tế quốc hội, phó chủ tịch tỉnh Sóc Trăng. Tôi không hiểu ông nhặt cái bằng tiến sĩ này ở đâu?

Có thời, người ta tổng kết: Dắt một con bò qua biên giới khi trở về nó cũng trở thành tiến sĩ.

Ấy là vì nước đàn anh Liên Xô xưa kia sẵn sàng thí mảnh bằng này cho bất cứ công dân da vàng, da đen nào được cử đến Mạc Tư Khoa theo tinh thần “vô sản quốc tế” để họ có thể vênh vang quay về bản xứ thực hiện cuộc “cách mạng đỏ”. Hà Nội là mảnh đất đầu tiên được nếm các kinh nghiệm cay đắng với đám Tiến sĩ bò này.

Sau đó nhiều năm, đến lượt đảng cộng sản Việt Nam vinh quang có cảm hứng “trở thành trí thức” nên yêu cầu các cán bộ nòng cốt phải đủ bằng cấp. Vậy là các quan đầu tỉnh lũ lượt kéo về trường Nguyễn Ái Quốc học, kẻ học thật tính chưa đầy mười phần trăm, số còn lại nhét chữ không vào nên theo nhau nhậu nhẹt, chơi gái chán chê rồi khi hết thời gian “nâng cấp chất lượng đảng” thảy ra vài lượng vàng để đổi lấy tấm bằng vác về tỉnh lẻ.

Mặt khác, trong niềm kiêu hãnh cộng sản, các quan lớn nghĩ rằng họ đủ sức làm tất cả, kể cả việc lấy đá vá trời. Vì vậy, sự cư xử của họ nhiều khi ngây ngô đến mức thiên hạ khó hình dung nổi. Tôi nhớ rất nhiều lần, trong các buổi gặp gỡ tay ba, ông Trần Độ, ông Nguyễn Kiến Giang và tôi, tướng Trần Độ kể đi kể lại rằng ông Đỗ Mười đã hạ quyết tâm trở thành đại trí thức nên rủ ông Trần Độ “Tôi với anh bỏ ra hai năm học để lấy bằng tiến sĩ”.

Tướng Trần Độ liền đáp “Chúng ta học hai năm để hiểu được một phần những điều các tiến sĩ nói, thế cũng đã là tốt lắm rồi”.

Thứ hoang tưởng của trẻ mục đồng có thể khiến ta mỉm cười nếu đứa bé mơ mộng ấy ngồi trên lưng trâu nhưng một khi nó đã trở thành ý nghĩ thật sự của kẻ cầm quyền thì đó là tai họa tầy trời cho quốc dân, và lúc đó, chúng ta không còn cười mà phải khóc.

Sự “hạ quyết tâm hai năm giật mảnh bằng tiến sĩ” của ông Đỗ Mười khiến tôi nhớ lại cơn phẫn nộ thành thực của vua Tự Đức khi nghe Nguyễn Trường Tộ mô tả ngọn “đèn treo ngược” ở nước Pháp. Ông quan này suýt bị chém đầu vì cơn phẫn nộ thành thực và ngu xuẩn của nhà vua.

Khi óc hoang tưởng ngu ngơ kèm theo một quyền lực độc tôn không bị kiểm soát, ai hiểu các quan lớn cộng sản có thể làm những gì để vãi ra những tấm bằng tiến sĩ như mấy bà già nhà quê vãi thóc ra sân cho gà mổ? Bởi vì, chưa ai quên lời tuyên bố xanh rờn của ông Đinh Đức Thiện khi ông đương chức bộ trưởng bộ công nghiệp dẫn đoàn cán bộ lên tham quan nhà máy giấy Bãi Bằng “Cần bằng cấp hả? Thì in ra mà phát. Chúng tao đẻ ra bằng.”

Căn cứ vào lời phát biểu của ông Nguyễn Đức Kiên được BBC tiếng Việt trích lời mà tôi vừa nhắc lại trên thì hẳn ông đã nhặt mảnh bằng “giấy lộn” này ở biên giới nước Nga hoặc moi nó ra từ túi quần ông Đinh Đức Thiện.

Một đất nước không có đội ngũ trí thức thật sự, thì bọn lưu manh giả danh trí thức sẽ lên ngôi. Một đất nước không có những đại biểu quốc hội do chính dân bầu và bị dân bãi, do đó phải gánh trách nhiệm trước dân, đất nước ấy phải biến thành thứ bột nhão trong tay một nhóm cầm quyền tự coi mình là Thượng đế.

Một người đầy tự tin vì trí não sáng suốt và quá trình khổ học của mình như ông Nguyễn Trần Bật mà khi nói một điều hay phải kèm theo một lời dối láo thì đất nước ấy không thể coi là có tầng lớp trí thức thật sự. Ông Bật sau khi đã phân tích vô cùng chính xác tính bù nhìn và tình trạng bù nhìn bắt buộc của các đại biểu quốc hội Việt Nam lại phải chêm vài lời ca tụng ông Đỗ Mười, một trong những kẻ cầm quyền ngu dốt nhất, một con bệnh tâm thần (các bác sĩ viện Việt-Xô đã chỉ cho tôi xem cái cây mà ông Đỗ Mười thường trèo lên hô hét khi lên cơn điên), và chưa ai quên rằng chính sách của ông ta đã phá hoại nền kinh tế đất nước một cách không thể tính đếm.

Tôi biết ông Nguyễn Trần Bật đã lựa chọn “Chống đối một cách khôn ngoan” vì ông không muốn ngồi tù, không muốn con cái ông bị gạt ra lề xã hội, bị đe doạ, bị quấy nhiễu như con cái những anh em đấu tranh cho dân chủ. Nhưng, một khi ông Nguyễn Trần Bật đã uốn lưỡi hai chiều thì chưa thể định danh ông là trí thức thật sự dù ông khoe rằng mỗi tháng đọc sách mất bao nhiêu lít dầu.

Tôi cũng xin nhắc để ông Bật hiểu rằng ở nước ta không thiếu người đọc sách như ông hoặc hơn ông, có những người biết bốn thứ tiếng mà ngồi rũ trong tù vài thập kỉ đến khi ra thân tàn lực kiệt, gần như một phế nhân. Ông là trường hợp vô cùng hãn hữu, một con ruồi bay vọt khỏi cái vỉ đập của kẻ cầm quyền, ông chớ nên lấy sự may mắn của bản thân làm thước đo chung cho xã hội, trước hết là lớp người “muốn là trí thức thật sự mà bị dìm chết trong bóng tối ngục tù” ở Việt Nam.

Người trí thức thật sự là người chỉ tin và chỉ quy hàng chân lý mà thôi. Xã hội nào tạo được một lớp trí thức thật sự, xã hội ấy phát triển. Xã hội nào dùng nòng súng chọc vào họng người có chữ buộc họ uốn lưỡi hai chiều, xã hội ấy còn ở trong trạng thái man rợ, vì ở đó con người không thể sống xứng đáng với chính mình.

Chúng ta có thể tóm tắt tình trạng này bằng công thức:

Nhị Thể thì Nhất Tâm
Nhất Thể ắt Nhị Tâm.

Một xã hội dân chủ (gọi nôm na là nhị thể) nơi tồn tại các đảng đối lập, mỗi cá nhân mới có thể trung thực với chính họ và trung thực với đồng bào, bởi pháp luật đảm bảo cho nhân cách của họ được tồn tại. Xã hội nhất thể, tức xã hội độc tài, buộc con người phải nhị tâm, bởi pháp luật không đảm bảo cho họ được sống trung thực. Trong xã hội ấy, trừ những người ôm bom ba càng, liều mình như chẳng có, toàn thể đều nhị tâm, toàn thể đều bị nỗi sợ hãi làm biến hình, và sự dối trá ắt phải là món ăn thường nhật.

Phần trên, tôi có nhắc tới ông Tố Hữu và ông Phạm văn Đồng, họ quả là những kẻ tham quyền cố vị, vô năng, vô trách nhiệm nhưng theo sự hiểu biết của tôi họ không phải quân ăn cắp và ăn cướp. Nói cho đúng hơn, vào những năm đó chưa nhiều quân ăn cắp và ăn cướp trong chính phủ như bây giờ.

Ông Phạm Văn Đồng không xây nhà thờ họ năm bảy tỷ đồng như Nguyễn Tấn Dũng. Ông Tố Hữu cũng không trù dập báo chí như việc hạ lệnh tống giam hai nhà báo phanh phui vụ PMU18 mà ông Nông Đức Mạnh đã làm để che chắn tội tham nhũng của người thân.

Kể cả ông tổng bí thư “Đổi mới”, người đã kêu gọi các nhà văn “đừng uốn cong ngòi bút” rồi hơn một năm sau chính ta ông lại uốn cong lưỡi, người đã chửi tôi là “Con đĩ chống đảng” và đã tống giam tôi vào ngục năm 1991, ông ta – Nguyễn Văn Linh, cũng không phải thằng ăn cắp, hạng khốn nạn về nhân cách. Vợ và con gái ông ấy không nhảy lên nắm thị trường chứng khoán như ái nữ của ông Dũng xỉn. Khi thị trường này đổ bể, hàng bao nhiêu gia đình phá sản, vỡ nợ, ái nữ của ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn nhơn nhơn chường mặt ra đó, cô ta không vào tù, không mất chức, không nói một lời xin lỗi đối với dân. Bố đẻ cô ta cũng vậy.

Vậy phải chăng dân Việt đích thị là một con gà để kẻ cầm quyền tha hồ vặt lông vặt cánh? Hay dân Việt là lũ trâu bò mà bao nhiêu ngọn roi quất lên lưng họ cũng… như không? Tuỳ theo cách nhìn của độc giả.

Tuy nhiên, dân tộc Việt đã từng chiến đấu một nghìn năm với Bắc phương để giữ được nền độc lập, vì lẽ ấy, tôi không muốn tin rằng họ tiếp tục câm lặng, tiếp tục cam chịu những khổ nhục này. Dân tộc Việt đã sản sinh ra những người lặn xuống lòng sông Bạch Đằng để cắm cọc sắt. Dân tộc ấy đã đẻ ra những chiến sĩ ôm bom ba càng. Cuộc cách mạng tháng tám năm Ất Dậu là cuộc cách mạng hào hùng để giải phóng dân tộc. Trước cuộc cách mạng ấy, khi chưa bị quyền lực làm hủ hoá nhân cách, ông Tố Hữu là người khởi nghĩa đầy can đảm. Ông đã mượn ý nhà cách mạng Pháp Jean-Paul Marat mà làm bài thơ Hãy đứng dậy (tháng 4 năm 1938):

Người ta lớn bởi vì ngươi quỳ xuống
Hỡi nhân dân, hãy đứng thẳng lên! (1)

Ý tưởng của Jean-Paul Marat mạnh như roi quất, loé như ánh chớp soi đường cho đám đông. Nhưng Jean- Paul Marat không chỉ khích lệ dân chúng can đảm đứng lên nắm vận mệnh trong đôi tay của chính mình, ông còn là người bạn đích thực và chân thành của dân chúng như ông thường tự nhận “L’ami du peuple”.

Ông chỉ ra cho dân chúng thấy rõ những cạm bẫy mà bất cứ kẻ cầm quyền nào cũng sẽ giăng ra: ru ngủ dân chúng; giam hãm họ trong ngu dốt và truỵ lạc; khích động họ bằng sự khoe khoang xuẩn ngốc và sau rốt, buộc họ phải ngoan ngoãn tuân phục.

Jean-Paul Marat cảnh báo rằng “Sự tuân phục mù loà của quần chúng được coi như sự ngu xuẩn của chính họ”

Nguyên văn: “Toujours une aveugle obéissance suppose une ignorance extrême.”

Tuy nhiên, sự cảnh báo đó cũng chưa quan trọng bằng định nghĩa sau đây: “Chính phủ là kẻ thù của dân chúng.”

Nguyên văn: “Le gouvernement est l’ennemi du peuple.” (2)

Định nghĩa này chiếu rọi ánh sáng vào sự vật, vô hiệu hoá mọi trò lừa đảo, loè bịp và mị dân của kẻ thống trị, đem lại xác tín cho dân chúng về quyền hành động chính đáng của họ.

Tại sao chính phủ lại là kẻ thù của dân chúng?

Đơn giản thôi, vì cái Ngã của con người là con quỷ vô cùng khủng khiếp, thường xuyên chiến thắng trong cuộc tranh đấu với lương tâm. Vì thế, bất cứ bộ máy cầm quyền nào cũng tìm mọi cách để thụ hưởng tối đa, tức là ngoạm phần bánh to nhất và buộc dân chúng gánh chịu mọi rủi ro, tổn thất. Lời hứa hẹn của kẻ cầm quyền là thứ thực phẩm dễ bị hư hại, nó sẽ thiu thối ngay sau phút cuộc bầu cử khoá hòm phiếu, xếp trống kèn.

Vì lẽ đó, ở các nước dân chủ người ta mới cần các hình thức biểu tình, bãi công, các đại nghị để bộc lộ sự bất bình của dân chúng và cứ năm năm hoặc bốn năm (tuỳ theo quốc gia) lại phải có một cuộc bầu cử để dân chúng thực thi quyền lựa chọn của mình.

Nhưng muốn có bầu cử thực sự phải có đảng đối lập, còn ở các nước độc tài như xứ Việt Nam ta, bầu cử là trò hề mà cả kẻ bầy trò lẫn kẻ buộc phải tham dự đều biết tỏng tòng tong. Những năm sống ở Hà Nội, mỗi lần bầu cử, tôi lại nghe các bà bán rau bán thịt ở chợ Khương Thượng gọi nhau oang oang: “Cứ mười quầy cử một đại diện đi bầu cho xong. Các ông ấy đã sắp xếp hết rồi, còn đâu mà chọn lựa”.

Có thể các độc giả sẽ nói rằng dân châu Á đã quen với ách thống trị độc tài, họ không cần nền dân chủ. Rằng dân chủ là thứ táo thứ lê chỉ có thể trồng ở châu Âu và châu Mỹ, còn ở xứ ta chỉ có rau muống rau cải mà thôi. Nếu thế, làm sao giải thích được tình trạng hai nước Bắc Hàn và Nam Hàn?

Cùng một dân tộc, cùng một văn hoá, cùng bị chi phối bởi một quá khứ, tại sao giờ đây hai xứ sở đó cách nhau một trời một vực? Phải chăng một thiết chế dân chủ có thể biến một công dân Hàn Quốc đang ăn cỏ dại ở miền Bắc trở thành một người văn minh, sung túc ở phương Nam? Phải chăng, một nửa dân nước Hàn là người tự do, nửa còn lại, cũng như người Việt chúng ta, bị loại khỏi vũ đài bởi họ không đủ tư cách ấy?

Xin độc giả tự trả lời.

Phần tôi, tôi không nghĩ rằng dân tộc chúng ta tót vời thông minh, nhưng tôi cũng chẳng tin rằng người Việt thuộc loại ngu dốt. Vấn đề cơ bản là thiết chế xã hội đã trói buộc họ trong sự thiếu hiểu biết, trong sợ hãi, trong đói nghèo. Một con chim bị buộc chặt hai cánh chỉ có thể nhảy lò cò trên sân mà không bao giờ bay lên được. Sự thành công của các thế hệ người Mỹ gốc Việt hiện nay chứng minh điều đó.

Cũng vì cái thực tiễn vô cùng cám dỗ ấy mà giờ đây biết bao gia đình bán nhà, bán đất, thắt lưng buộc bụng cho con cái ra nước ngoài học. Trong thâm tâm, ai cũng mong “Thoát Việt!”, ra khỏi mảnh đất bùn lầy tối tăm này bằng mọi giá.

Cũng tốt thôi, nhưng liệu bao nhiêu người sẽ thoát được Việt nếu tính trên tổng số dân chúng? Và liệu các thế hệ sau này có thể được sống một cách đàng hoàng với đầy đủ sự tự tin và lòng tự trọng hay không khi mà các cánh cửa ở biên cương càng ngày càng khép chặt, khi người da mầu bị lục soát một cách nhục nhã khắp nơi, và khi cánh Hữu đang dậy lên như sóng ở châu Âu cũng như các nước khác?

Đừng quá nhiều ảo tưởng. Ảo tưởng nào cũng sẽ dẫn đến sự đổ vỡ, không sớm thì muộn. Đời là dòng sông trôi chảy và nước không dừng lại dưới chân cầu. Những thuận lợi mà người Việt nhập cư được hưởng vào những năm Thuyền nhân không còn nữa. Cũng không còn nữa cái nhìn thiện cảm của thế giới đối với người Việt sau những năm Thuyền nhân và sau rất nhiều thất vọng qua quá trình chung đụng.

Rượu vang đang ở quá trình biến thành dấm. Bởi vậy, dù có muốn đại đa số người Việt cũng không thể thực hiện được giấc mơ đổi đời của họ ở xứ người. Điều họ có thể làm được là thay đổi cuộc đời của chính họ trên quê hương, là đấu tranh để xây dựng một thiết chế xã hội tiến bộ hơn, để họ có thể thực sự làm công dân, được sống với đầy đủ Quyền con người.

Nếu sự ù lỳ, sự cam chịu đã trở thành căn tính khiến người dân Việt tê liệt thì trong một tương lai gần, chắc chắn họ sẽ không còn là người Việt nữa. Với toàn bộ các căn cứ quân sự đã và đang tiếp tục xây dựng trên Tây Nguyên cũng như các khu vực biên giới dưới mọi thứ trá hình: khai thác mỏ, thuê đất trồng trọt…, con mãnh hổ Trung Hoa càng ngày càng cắm sâu móng vuốt của nó vào bờ cõi của chúng ta, tạo một vành đai chiến lược mà khi cần, các quân đoàn sẽ trùng trùng đổ xuống như thác.

Một sáng thức dậy, người dân Việt sẽ thấy lính Trung Hoa đứng đầy các phố phường, làng xóm, nương bản mà họ chưa kịp dụi mắt. Chính phủ của họ, chính quyền Hà Nội đã tiếp tay cho cuộc chuẩn bị này. Đảng thân yêu của họ từ lâu đã trở thành con chó của ông chủ Bắc Kinh, dùng tất thảy mọi biện pháp để bịt mắt đám đông, bóp mồm những ai dám lên tiếng. Bộ máy công an được huy động tối đa để dập tắt các sites internet, để bắt giữ những người dám đưa tin và đưa hình về các khu vực mà lính Tầu đang ồ ạt đổ xuống xây cầu đường, thiết lập doanh trại, lập làng mới để di dân Trung Hoa.

Cuộc tái chiếm Giao Chỉ đang được thực thi một cách quy mô và khẩn trương mà các thái thú Tô Định tân thời, những kẻ ngồi quanh bàn họp Bộ chính trị, trừ Tô Huy Rứa, đều mang tên Việt.

MỘT NGHÌN NĂM BẮC THUỘC LẦN THỨ HAI đang chờ đợi dân tộc chúng ta.

Nếu dân Việt không đứng lên hành động vào lúc này, nền độc lập chắc chắn sẽ tiêu vong. Họ sẽ trở thành người Tây Tạng của thế kỉ XXI. Thần Kim Quy không còn hiện ra lần nữa dù họ cầu khẩn ngàn lần.

“Hãy tự cứu mình trước khi Chúa trời cứu!”

Câu châm ngôn ấy không chỉ dành cho dân công giáo mà dành cho toàn bộ loài người. Trước thế kỉ XVI, nước Pháp là một trong các xứ mộ đạo, nơi quyền lực của Giáo hoàng lấn át quyền lực của nhà Vua, vậy mà nước Pháp ấy đã biến thành nước Pháp cộng hoà, nước Pháp thế tục sau một cuộc cách mạng long trời lở đất. Cũng chính cuộc cách mạng ấy đã khai sinh ra cái ý tưởng mà nhân loại phải biết ơn mãi mãi: Quyền con người.

Từ cuộc các mạng ấy đến nay hơn hai thế kỉ đã trôi qua, nhưng lời kêu gọi của Jean-Paul Marat vẫn luôn luôn là ánh sáng rọi đường cho các dân tộc yếu kém, các dân tộc bị dìm trong bóng tối của sự thiếu hiểu biết, bị tê liệt vì khiếp nhược.

Lời kêu gọi của nhà cách mạng này cũng còn nguyên hiệu lực đối với một dân tộc đang đứng trước nguy cơ tái nô lệ như người Việt giờ đây:

NGƯỜI TA LỚN BỞI VÌ NGƯƠI QUỲ XUỐNG
HỠI NHÂN DÂN! HÃY ĐỨNG THẲNG LÊN!

Lần cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các độc giả. Xin lượng thứ cho những nhầm lẫn của tuổi già. Xin chào vĩnh biệt.

© DCVOnline


DCVOnline:
(1) Nguyên văn bài thơ “Hãy đứng dậy” của Tố Hữu

Người ta lớn bởi vì ngươi cúi xuống
Hỡi nhân dân hãy đứng thẳng lên!
(Ma-rat)

Người ta lớn bởi vì ngươi quỳ xuống
Có gì đâu ta cầu khẩn van lơn?
Có gì đâu ta ôm mối căm hờn?
Hãy đứng dậy, ta có quyền vui sống!

Ai đi gõ vào cửa lòng lạnh ngắt
Và thiết tha năn nỉ với hồn say
Trên muôn thây, tiệc rượu máu tràn đầy?
Không! Không thề sống như bầy hành khất!
Hãy đứng dậy! Ta có quyền vui sống!
Cứ tan xương, cứ chảy tuỷ, cứ rơi đầu!
Mỗi thây rơi sẽ là mỗi nhịp cầu
Cho ta bước đến cõi đời cao rộng.

Huế, tháng 4/1938

DCVOnline: Tuy Tố Hữu và nhiều người khác cho tác giả ý hai câu Người ta lớn bởi vì ngươi cúi xuống / Hỡi nhân dân hãy đứng thẳng lên! là Jean-Paul Marat nhưng chưa khi nào trích dẫn nguồn và nguyên văn “ý tưởng của Marat” đã viết khi nào đăng ở sách, báo nào.

(2) Là bài viết thứ bẩy trong Tập (I) của tờ “L’ami du peuple”

L’ami du peuple (I)

Dénonciation contre Necker
Il faut créer un tribunal d’état
Les subsistances
Discours au peuple
Profession de foi de Marat
Réflexions sur les dettes du gouvernement devenues nationales
Le gouvernement est l’ennemi du peuple

Protestation contre la loi martiale
Sur le plan du comité militaire
Évasion d’une religieuse de l’abbaye de Pantemon

Trích, “Il est une vérite éternelle dont il est important de convaincre les hommes: c’est que le plus mortel ennemi que les peuples aient à redouter est le gouvernement.” (Le gouvernement est l’ennemi du peuple)

Nguồn: Journal “L’Ami du Peuple”; Charles Simond, Marat. Ed. L. Michaud, Paris 1906.