Tuesday, 15 February 2011

Khảo sát của báo Người Việt ở Cali

Lời Người Điều Hợp ( 10/02/2010)

Sau 5 ngày mở diễn đàn, đề tài ‘BBC Việt ngữ ngưng phát thanh, có thiệt thòi cho thính giả Việt Nam không?’ đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của độc giả Người Việt Online.

Tính cho đến 6 giờ (giờ California) ngày 10 tháng 2, đã có hàng ngàn độc giả vào đọc diễn đàn và gởi ý kiến cũng như tham gia bỏ phiếu thăm dò.


Trong số 681 người bỏ phiếu thăm dò, có 266 người (39.06%) nói rằng, BBC Việt ngữ đóng cửa chương trình phát thanh là thiệt thòi cho thính giả. Ngược lại, số người nói ‘Không’ lại chiến tỷ lệ cao hơn với 403 người (59.18%) và có ‘Ý kiến khác’ là 12 người (1.76%).


Đáng chú ý là trong số 59.18% nói ‘không thiệt thòi’ thì rất nhiều ý kiến cho rằng Ban Việt ngữ BBC ‘thân Cộng’.

Độc giả có tên là Quốc Việt nhận xét thẳng thắn, ‘BBC ngưng phát thanh có lợi cho thính giả VN bởi vì cái đài này thỉnh thoảng là cái loa của Việt Cộng.’

Độc giả ‘Le Xuan Loc, USA’ thì gay gắt hơn, ‘BBC là cái loa của Cộng Sản Hà Nội vì có luận điệu thân Cộng và những người Việt Nam làm việc cho đài đều xuất phát từ Hà Nội. Như vậy BBC ngưng phát thanh là phải rồi, có gì đâu mà phải thiệt với thòi.’

Dù số độc giả nói ‘có thiệt thòi’ chỉ chiếm 39.06%, nhưng nhiều ý kiến bày tỏ rất luyến tiếc chương trình này. Chẳng hạn độc giả ‘CharlieDoan Arizona’ viết: ‘Ðây là tiếng nói trung thực nhằm mở mắt cho những người dân sống trong chế độ CS bưng bít thông tin được sáng mắt mà nay chúng tôi không được nghe nữa thì quả là thiệt thòi cho người dân trong và ngoài nước.’

Còn độc giả Thu Le thì ngắn gọn, ‘Mất một tiếng nói tự do!’

Độc giả trung dung hơn thì nói, ‘Theo trào-lưu tiến hoá của toàn cầu thì việc ngưng sóng phát thanh radio để phát triển mở rộng việc nghe đài qua các mạng lưới trên máy vi-tính là chuyện phải làm.’

Việc đóng cửa chỉ thiệt thòi cho người dân trong nước được độc giả ‘Long Ma’ chia xẻ, ‘hệ thống Internet trong nước, nhà nước kiểm soát quá chặt chẽ. Nhất là khó lòng cập nhật tin tức từ các quán Internet. Chỉ còn có nước nghe radio. Nếu đài BBC tiếng Việt không còn. Đó là sự thiệt thòi nhất đối với người trong nước thôi.’



Trong khi đó, độc giả ‘Mẫu Đơn’ thì coi việc nghe chương trình phát thanh của BBC Việt ngữ là một hoài niệm.

Độc giả này viết, ‘ BBC Việt Ngữ đã gắn liền với cuộc sống của gia đình tôi từ những ngày trước năm 1975 và sau tháng 4 năm 1975. Sau tháng 4 năm 1975, BBC va VOA là những gì quý báu để gia đình chúng tôi được nghe tin tức từ thế giới bên ngoài, giống như một luồng gió mát trong những cơn u sầu của tình hình đất nước. Bây giờ, dù tôi có thể nghe được tren internet nhưng nếu nghe từ radio thì vẫn tiện và tốt hơn.’

Diễn đàn mong tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp hoặc tranh luận của quý độc độc giả

'Một mất mát quan trọng'

Nguyễn Gia Kiểng

Việc chấm dứt chương trình phát thanh BBC tiếng Việt không phải là một bất ngờ. Nó đã được tiên liệu từ lâu rồi, và trở nên chắc chắn từ sau cuộc bầu cử quốc hội Anh tháng 5 năm trước, đưa liên minh Bảo Thủ - Dân Chủ Tự Do lên cầm quyền.

Tôi rất ít nghe những buổi phát thanh tiếng Việt của BBC, khi nghe thì cũng chỉ là nghe lại trên trang nhà của Ban mà thôi, và tôi cũng không phải là người truy cập thường xuyên trang Web này. Đối với những người chỉ truy cập chương trình Việt Ngữ của BBC qua trang Internet thì quyết định này không thay đổi bao nhiêu, nhất là chương trình phát thanh của BBC chỉ có 15 phút mỗi ngày.

Tuy vậy, sự kiện BBC ngừng phát thanh tiếng Việt phải được xem là một mất mát quan trọng. Trước hết là vì, không phải người Việt Nam nào cũng biết sử dụng Internet, số người không sử dụng Internet vẫn còn là đa số. Những đồng bào này chỉ nghe tin tức qua Tivi và Radio, họ sẽ không còn được nghe chương trình phát thanh BBC nữa. Dù người ta đánh giá phẩm chất của chương trình Việt ngữ BBC thế nào đi nữa, đừng quên rằng toàn bộ báo chí, truyền thanh, truyền hình trong nước đều do Đảng Cộng Sản Việt Nam kiểm soát. Trong tình huống đó, mất đi một tiếng nói không lệ thuộc, hoặc không quá lệ thuộc chính quyền cộng sản, là một thiệt hại.

Tôi đã được nghe nhiều phê phán, đôi khi khá gay gắt, đối với chương trình Việt Ngữ BBC. Nhưng điều chắc chắn là, một mặt, chương trình này dù không có lợi đi nữa không gây thiệt hại gì cho cuộc vận động dân chủ cả và, mặt khác, chính quyền cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ không dung túng một cơ quan truyền thông như thế ở trong nước; vậy phải hiểu rằng, không nhiều thì ít, chương trình Việt Ngữ BBC cũng bất lợi cho chế độ.

Sự thiệt hại có thể còn lớn hơn là người ta có thể nghĩ, vì tuy trang Web Việt Ngữ của BBC vẫn còn, nó khó giữ được vị thế trước đây khi nó mặc nhiên được coi là một tờ báo điện tử lớn và thu hút được rất nhiều độc giả nhờ có chương trình phát thanh. Việt Nam bắt đầu một giai đoạn nhiều chuyển biến. Đảng cộng sản đang gia tăng đàn áp, điển hình như vụ án Vi Đức Hồi mới đây, nhưng càng đàn áp, nó càng gây phẫn nộ và kích thích sự chống đối.

Giai đoạn sắp tới sẽ rất gay go, và chúng ta sẽ càng cần hơn nữa những nguồn thông tin độc lập với chính quyền cộng sản.

* Ông Nguyễn Gia Kiểng tốt nghiệp kỹ sư tại Pháp trước 1975, từng là Thứ trưởng Kinh tế của chính phủ VNCH. Hiện ông Nguyễn Gia Kiểng là một trong những người lãnh đạo Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên có trụ sở tại Paris, Pháp.

Friday, 7 January 2011

Rat quan trong

Đại hội 11 đảng CSVN: Những gì đang diễn ra trong cung đình?

Đối Thoại kính gửi tới độc giả một số thông tin liên quan tới nội tình hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam:

1. Văn bản đề ngày 19/12/2010 của các ông Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải, Nguyễn Đức Bình, Đồng Sỹ Nguyên, Lê Xuân Tùng và Phạm Thanh Ngân.

2. Văn bản đề ngày 28/12/2010 của các ông Huỳnh Đắc Hương (Thiếu tướng), Nguyễn Hữu Anh (Thiếu tướng), Nguyễn Nam Khánh (Thượng tướng), Nguyễn Quốc Thước (Trung tướng), Lê Hữu Đức (Trung tướng).

3. Văn bản đề ngày 12/12/2010 của các ông Lê Khả Phiêu, Nguyễn Đức Bình.

A1.gif

A2.gif

_________________________________

B-1.gif

B-2.gif

B-3.gif

B-4.gif

_________________________________

D1.gif

D2.gif

D3.gif

D4.gif

Admin gửi hôm Thứ Sáu, 07/01/2011

Một nửa của ba một nửa của mẹ...


Thực ra thì tôi đã nghe về chị từ lâu, đã từng đọc một bài báo rất cảm động của chị viết về cha mình, in trong tập "Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Nhà lãnh đạo lỗi lạc, một danh tướng thời đại Hồ Chí Minh" do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2007.

Với anh Lê Việt Bắc, phu quân của chị, tôi cũng có những quan hệ đồng đội và đồng nghiệp nhất định, không quá thường nhật nhưng cũng khá thân tình - anh Bắc từng là một cựu sĩ quan phòng không không quân, cách đây không lâu còn ngồi trên ghế Phó tổng biên tập tạp chí Heritage của Vietnam Airlines, một người đàn ông rất thích văn nghệ…

Tôi với anh Bắc đã có không chỉ một dịp ngồi với nhau theo kiểu người lính, cùng uống cạn không chỉ một vò rượu… Thế nhưng, với chị, trưởng nữ của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thì chỉ tới đầu tháng 12 này, vào trong Huế dự đêm thơ "Về quê mẹ" của nhà thơ Tố Hữu, tôi mới được tiếp xúc gần gụi.

Hôm đó, chị đi cùng với các thành viên gia đình mình và gia đình nhà thơ Tố Hữu vào Huế, vừa thăm quê, vừa dự đêm thơ. Mới gặp nhau lần đầu thôi nhưng giữa chị và tôi đã không có gì cách biệt vì đã "kỳ thanh" nhau nhiều rồi. Tôi đã xin chị một cái hẹn ở Hà Nội; chị đã gật đầu dù, như sau này chính chị tâm sự, chị rất ngại gặp các nhà báo.

Tôi, kẻ rất không thích làm ngoại lệ, đã phải trở thành ngoại lệ trong cách nhìn của chị Nguyễn Thanh Hà. Đơn giản là vì chị nghĩ rằng, tôi có thể nói mọi việc theo cách chân tình, chân thành và chân thực nhất… Cá nhân tôi không dám nghĩ về mình như thế…

Cuộc trò chuyện với chị Nguyễn Thanh Hà đã diễn ra vào sáng 22/12/2010 tại khu nhà trên phố Phan Đình Phùng, được quân đội dành làm chỗ để giữ những kỷ vật về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Chị nói với tôi rằng, vì đã hứa gặp tôi nên chị đã phải bỏ một số cuộc gặp mặt ở các đơn vị quân đội cũ nhân ngày Quốc phòng Toàn dân năm nay.

Hồng Thanh Quang: "Quê hương mỗi người chỉ một", đó là thơ của anh Đỗ Trung Quân. Trở về thăm quê vừa rồi, chị cảm thấy gì ạ?

Nguyễn Thanh Hà: Nói thực với Hồng Thanh Quang, mỗi năm mình về thăm quê tới 4-5 lần cơ, chứ không chỉ lần vừa rồi. Mà, mình thấy người Việt Nam mình cũng lạ, đấy là mình suy từ mình ra. Mình không sinh ra ở quê, mà mình được sinh ra ở Nghệ Tĩnh, trưởng thành ở Việt Bắc, rồi ở nhiều nơi khác, ấy vậy mà mình thấy rất gắn bó với quê hương. Bọn mình thường mỗi năm về mấy lần để thăm họ hàng, để góp gì đó cho quê…

Lần vừa rồi về thì cũng rất đặc biệt, đó là vì có đêm thơ của Tố Hữu. Chú Tố Hữu với ba mình đã gắn bó với nhau từ thời trẻ, khi mới khoảng 16-17 tuổi. Lúc ấy, ông Nguyễn Chí Thanh đi vận động ông Tố Hữu vào Đảng và ông Tố Hữu cũng đi vận động ông Nguyễn Chí Thanh vào Đảng. Rồi cả hai mới vỡ lẽ ra rằng, cả hai đều đã là người của Đảng (cười)…

Hồng Thanh Quang: Đều là người của đằng mình rồi…

Nguyễn Thanh Hà: Đều là người của đằng mình rồi (cười)… Bọn mình rất xúc động khi dự đêm thơ. Thời buổi bây giờ, làm được một đêm thơ tác giả đâu có dễ gì. Mình rất hạnh phúc vì trong đêm thơ có cả những vần thơ mà chú Tố Hữu viết về ba mình. Mình vẫn nghĩ rằng, con cháu bây giờ phải nhớ đến những người xưa…

Hồng Thanh Quang: Khi nhớ ba mình, chị nghĩ gì? Khi về lại quê mình, chị cảm thấy gì?

Nguyễn Thanh Hà: Tôi nói thật với Hồng Thanh Quang, tôi đã viết điều này rồi: ở trong tôi, ba tôi đã trở thành một ký ức thiêng liêng. Trong tôi, ông không còn là một con người trần tục nữa, mà đã trở thành một khái niệm, một đạo lý về con người, về nhân cách, về niềm vui, nỗi buồn…

Còn ở quê thì bao giờ cũng chỉ có cảm giác rất là xúc động. Tại vì thế nào? Quê mình rất đẹp, có dòng sông rất đẹp, làng quê rất đẹp. Mình hiểu tại sao ba mình là người rất yêu văn nghệ, là con người rất lãng mạn, đủ cả thơ ca hò vè… Mà văn ba mình viết thì giọng rất là dí dỏm. Đấy, khi nào Hồng Thanh Quang đọc những bài của ông thì thấy rất là dí dỏm, rất là hay… --PageBreak--

Hồng Thanh Quang: Tôi cũng đã đọc rồi, không nhiều nhưng cũng không ít. Và thực sự tôi cảm thấy trong cốt cách của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn hiển hiện một tình thần lãng mạn rất lôi cuốn. Tôi muốn nói tới một việc. Người ta vẫn cho rằng, tinh thần lãng mạn của những người thanh niên trong xã hội cũ, rất dễ hòa nhập với tư tưởng cách mạng, vì cách mạng lúc ấy là sự hứng khởi, là một chủ nghĩa lãng mạn.

Thế nhưng, tại sao sau này người ta lại cứ nghĩ rằng tính lãng mạn ấy sẽ khiến các chàng trai trẻ cũ khi ở tuổi trung niên rồi sẽ trở nên không kiên định? Có thể, với trường hợp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thì mọi sự có khác, đó là một tấm gương cực kỳ kiên định, kiên định tới cùng, dù rất lãng mạn, lúc nào cũng lãng mạn, như chị vừa nói…

Nguyễn Thanh Hà: Mình nghĩ vấn đề gì cũng có hai mặt của nó. Nếu một người lãng mạn được tắm mình trong một môi trường tốt và tìm được đúng hướng đi của mình rồi thì sẽ càng ngày càng trở nên kiên định hơn. Còn nếu không tìm được đúng hướng đi thì, như Hồng Thanh Quang vừa nói, dễ bị chung chiêng theo thời cuộc.

Hồng Thanh Quang: Tôi đôi lúc lại nghĩ rằng, cuộc cách mạng nào cũng đều có những giai đoạn phát triển khác nhau của nó. Khi mới bắt đầu thì tinh thần lãng mạn rất cần thiết để thắp lửa lên một phong trào mới, một hào khí mới, một thể chế mới.

Nhưng rồi tới một giai đoạn nào đó, thì mọi sự lại phải trở về với những "khuôn vàng thước ngọc" muôn đời với những cái căn bản nghìn năm và sự lãng mạn thời thanh xuân ấy bỗng chốc lại trở thành non trẻ so với yêu cầu của thời đại?

Nguyễn Thanh Hà: Không phải, không phải thế…

Hồng Thanh Quang: Vậy là sao?

Nguyễn Thanh Hà: Mình nghĩ là không phải thế. Trong thời đại nào cũng vậy, kể cả ngay bây giờ, sự lãng mạn sẽ chỉ trở thành yếu ớt nếu không hòa đồng được với thời cuộc, với môi trường xung quanh. Thí dụ như mình với Hồng Thanh Quang, chúng ta từng được trưởng thành trong môi trường quân đội và chúng ra rất hợp với môi trường ấy, nên chúng ta có những sự phát triển tốt.

Còn nếu ai đó rơi vào một môi trường khác không thể thích hợp được thì tất yếu sẽ nảy sinh những hiện tượng tiêu cực và tự dưng mình cảm thấy chán cuộc đời, mình buông xuôi… Những chuyện như thế thì thời nào cũng có…

Hồng Thanh Quang: Trong gia đình của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thì chị là trưởng nữ; sau chị, như tôi biết, còn có ba người em, hai người em gái và một người em trai. Khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967, chị đã 17 tuổi và hiển nhiên ở trong nhà, chị là người con giữ được nhiều ký ức về ba mình nhất. Bây giờ nhìn lại, chị cảm thấy chị đã tiếp thu được gì nhiều nhất từ ba mình?

Nguyễn Thanh Hà: Mình nghĩ là cái từ "tiếp thu" ở đây chưa chuẩn. Tiếp thu - đó là ở cơ quan, ở đơn vị. Còn trong gia đình, có lẽ nên nói là thẩm thấu…

Hồng Thanh Quang: Tôi xin lỗi, chị nói đúng. Xin hỏi lại là, chị đã thẩm thấu được những gì từ ba mình, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh?

Nguyễn Thanh Hà: Rất tự nhiên thôi. Mình nhớ là ba mình luôn có một tinh thần lạc quan, ông lúc nào cũng vui vẻ, lúc nào cũng cười đùa và lúc nào cũng nói chuyện tiếu lâm. Thí dụ, mình rất nhớ những buổi ông đi xuống hợp tác xã về, mà hợp tác xã ở nông thôn thời ấy thì có rất nhiều chuyện nghịch lý, buồn cười lắm. Ông về, ông kể chuyện cho mình nghe, ông cười sảng khoái lắm, cười to…

Cậu Vịnh (tức Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, con út và cũng là con trai duy nhất của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - HTQ) không phải lúc nào cũng có được điệu cười sảng khoái như ông đâu. Ông cười rất là sảng khoái, ông là con người rất lạc quan…

Hồng Thanh Quang: Tôi vẫn hình dung Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một người không xa lạ với nông thôn và mặc dù đã làm một chức vụ rất cao, nhưng vẫn là người không xa lạ với bất cứ biểu hiện gì của đời thường, bình dân…

Nguyễn Thanh Hà: Ông là người không xa lạ với ai. Ông về nông thôn thì từ người nông dân trở đi đều thấy gần với ông. Đầu năm nay, mình vừa về hợp tác xã Đại Phong, vì mình làm ở đấy một cái thư viện nhỏ. Mình luôn nghĩ rằng, cái quan trọng nhất để giúp cho người nông dân là cung cấp cho họ tri thức, cho nên mình mới đề nghị với họ là cho mình giúp lập một thư viện nhỏ, để hằng năm mình đưa sách về, sách nông nghiệp, sách văn học, sách đọc tham khảo...

Mình về hợp tác xã Đại Phong thì đã nghe một số người kể lại, buổi chiều ông mặc quần nâu sồng, đi đôi dép lê, ra đường thì chẳng ai biết là ông Nguyễn Chí Thanh cả. Ông xuống với nông dân, ông cấy ruộng, xong ông hỏi chuyện rất giản dị, thân mật. Mãi tới khi các đồng chí bảo vệ bổ đi tìm ông thì mọi người mới biết, đấy là đồng chí Nguyễn Chí Thanh (cười).

Hồng Thanh Quang: Tìm xem lãnh đạo ở đâu thì hóa ra lãnh đạo đang cấy lúa…

Nguyễn Thanh Hà: Thế đấy. Mình còn nhớ, ông cũng là một người rất thân của các văn nghệ sĩ… Nếu mà Hồng Thanh Quang có đọc thì sẽ thấy là nhà thơ Hoàng Cầm viết rất hay về ông…

Hồng Thanh Quang: Tôi có đọc… Tôi có nhớ một đoạn. Nhà thơ Hoàng Cầm đã viết về chuyện bác Nguyễn Chí Thanh đi chiến dịch Hoàng Hoa Thám như sau: "Anh đã đi bộ như anh binh nhì, bộ quần áo nâu đã sờn rách với cái áo trấn thủ nâu nổi lên nhiều hình quả trám, với cái mũ nan phủ vải xanh rêu, chùm lưới gài lá ngụy trang. Trừ người đã quen mặt quen tên anh, còn ai cũng nhìn anh như một anh lính dã chiến bình thường vô danh…

Hồi ấy, ngay cả báo chí ở bên Pháp, báo chí ở vùng tạm chiếm (Hà Nội, Sài Gòn) cũng đã kể đến tên anh, gọi anh là vị cứu tinh của Bình - Trị - Thiên (le sauveur de Binh - Tri -Thien). Anh đã lập chiến công hiển hách nhất trong sổ tay chiến đấu của cả nước. Mà linh hồn của mọi chiến tích ấy lại là chính sách đoàn kết - yêu thương, gắn bó với dân"… Để một nhà thơ như Hoàng Cầm cảm nhận như thế chắc phải có mối quan hệ cực kỳ thân thiết, gần gụi…

Nguyễn Thanh Hà: Ba mình luôn cảm thấy sự gắn bó máu thịt với nhân dân, với người dân, với các văn nghệ sĩ. Mình nhớ, hồi mình nhỏ, đã có rất đông các văn nghệ sĩ đến nhà mình chơi. Các cô các chú đến suốt ngày để nói chuyện với ba mình. Như Chế Lan Viên chẳng hạn…--PageBreak--

Hồng Thanh Quang: Toàn là dân tập kết mà (cười).

Nguyễn Thanh Hà: Không chỉ dân tập kết mà nhiều văn nghệ sĩ khác nhau cũng tới chơi với ba mình ở nhà. Ba mình là con người không hề xa lạ với bất cứ ai. Dễ hòa đồng, với ai cũng có cách nói chuyện để người ta thân thiện với mình. Ông có một khả năng mà rất ít người khác có. Đó là sự hấp dẫn...

Hồng Thanh Quang: Thu hút….

Nguyễn Thanh Hà: Thu hút người nghe…

Hồng Thanh Quang: Thu hút người nghe, tức là khẩu khiếu bẩm sinh của nhà tuyên truyền.

Nguyễn Thanh Hà: Mình còn nhớ, có lúc ông đã phê phán thói trưởng giả của một số gia đình cán bộ, tức là nêu rõ tên của một số bà vợ cán bộ, về thành phố rồi, có những tác phong trưởng giả, đeo nhẫn nọ kia... Vậy mà họ không giận mà vẫn đến nhà và nói là sẽ rút kinh nghiệm…

Hồng Thanh Quang: Tức là phê bình người ta một cách tinh tế để người ta không tự ái mà tiếp thu và sửa chữa…

Nguyễn Thanh Hà: Người ta không giận, mình vẫn nhớ chuyện đấy, thế mình mới thấy rất là lạ…

Hồng Thanh Quang: Xin phép được hỏi, gia đình chị chỉ có một người con út là con trai. Chắc là Đại tướng đã rất vui khi sinh được "một trai con thứ rốt lòng"?

Nguyễn Thanh Hà: Vui chứ, sau ba cô con gái mới có một cậu con trai… Vậy nên chiều lắm, tới tuổi học lớp một rồi vẫn không cho tới trường mà luôn mang đi theo mình, tự mình dạy con trai học…

Hồng Thanh Quang: Theo chị, người con trai độc nhất của đồng chí Nguyễn Chí Thanh có được thừa hưởng những nét gì từ cha mình? Chị cứ nhận xét với tư cách người chị cả trong nhà…

Nguyễn Thanh Hà: Nói chung không phải chỉ riêng cậu Vịnh đâu mà cả nhà mình đều sống theo cách của ông đã truyền vào bọn mình, tức là sống rất chân thành…

Hồng Thanh Quang: Chân thành, hồn nhiên, trong bất cứ giai đoạn nào của cuộc đời cũng vẫn rất hồn nhiên…

Nguyễn Thanh Hà: Chân thành, hồn nhiên và rất là đơn giản, sống đơn giản, không bon chen…

Hồng Thanh Quang: Cuộc sống đến đâu thì mình cứ làm việc đến đấy và nó cứ thế…

Nguyễn Thanh Hà: Thế thôi!

Hồng Thanh Quang: Tôi có đọc đoạn chị viết về bà nội của mình, về Mệ, theo cách nói của quê nội chị…

Nguyễn Thanh Hà: Bà nội mình là người rất đặc biệt, rất là kiên cường. Bà đã nuôi con đi làm cách mạng và bị địch nó chặt mất một ngón tay. Một con người kiên cường, rất là kiên cường. Và ở với gia đình thì cũng phong cách như vậy.

Hồng Thanh Quang: Thẳng thắn…

Nguyễn Thanh Hà: Thẳng thắn, cứng rắn và nhiều khi là... Khi còn sống với bà thì bọn mình còn nhỏ quá, nên bây giờ nhớ lại cũng không được nhiều… Nhưng mình chỉ buồn cười là, mỗi một lần bà đòi cái gì hay có cái gì mà ba mình không đồng ý thì trong các buổi họp gia đình, ba mình lại nhờ các cô các chú phát biểu, nói rằng mẹ phải thế này, mẹ phải thế kia, mẹ không được thế này, không được thế kia. Thế là bà cũng nghe theo… Chứ ba mình nói thì lắm khi bà không chịu đâu. Bà luôn thích mình muốn thứ gì thì con trai phải chiều thứ ấy…

Hồng Thanh Quang: Vì mẹ đã mang nặng đẻ đau… Với tôi bây giờ, mẹ tôi muốn gì thì tôi cũng sẵn sàng chiều, chỉ sợ sau này không còn thời gian mà chiều mẹ nữa…

Nguyễn Thanh Hà: Ai mà chẳng thế...

Hồng Thanh Quang: Bà mất năm bao nhiêu tuổi chị nhỉ?

Nguyễn Thanh Hà: Bà mất năm 97 tuổi, sau ngày giải phóng miền Nam khoảng 3 năm. Về Huế ở rồi mới mất…

Hồng Thanh Quang: Ở Huế, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh còn anh chị em gì nữa không?

Nguyễn Thanh Hà: Ngày ấy còn đến 3 người, chứ bây giờ mất hết rồi…

Hồng Thanh Quang: Sau khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh qua đời, gia đình chị như thế nào?

Nguyễn Thanh Hà: Lúc ba mình mất, mẹ mình bị sốc đột ngột quá nên cũng ốm luôn, cho đến năm 1980 thì cũng qua đời. Suốt thời gian ấy, mẹ mình cứ phải đi nằm viện mãi, hết từ 103 lại đến 108…

Hồng Thanh Quang: Thế chị và các em đã sống như thế nào?

Nguyễn Thanh Hà: Bây giờ mấy chị em cũng hay ngồi với nhau và đôi khi có người đã hỏi, tại sao hồi ấy bọn mình khổ thế nhỉ? Mình mới bảo, không phải chỉ riêng chị em mình khổ, mà cả đất nước cũng khổ.

Hồng Thanh Quang: Cái khổ của chị như thế nào?

Nguyễn Thanh Hà: Thì cũng phải bươn chải như mọi người. Nhà bọn mình hồi ấy là ở 34 Lý Nam Đế, rộng lắm. Bọn mình cùng nhau đào ao thả cá, rồi phải nuôi lợn, rồi phải làm que hương... ở khu nhà ấy, hồi ba mình còn sống, ông già đã trồng 10 cây dừa và 1 cây khế. Nói có vẻ khó tin, nhưng chính những quả dừa ở 10 cái cây ấy đã là nguồn thu nhập cho bọn mình vào những ngày giỗ ông, giỗ bà, phải bán đi để có tiền làm giỗ…

Hồng Thanh Quang: Xem ra, các anh chị cũng không được ưu đãi gì mấy so với những người bình thường…

Nguyễn Thanh Hà: Mình nghĩ rằng, thời ấy, mọi người đều vất vả, chị em mình cũng như mọi người thôi, ai cũng phải bươn chải, ai cũng phải cố gắng để sống.

Hồng Thanh Quang: Giai đoạn ấy cũng đâu có ngắn…

Nguyễn Thanh Hà: Cả chục năm đấy chứ…

Hồng Thanh Quang: Chục năm… Cả thời bao cấp…

Nguyễn Thanh Hà: Nhưng rồi mọi sự cũng trôi qua thôi. Mình nghĩ, không có gì nặng nề cả.

Hồng Thanh Quang: Con của Đại tướng cũng phải phấn đấu nỗ lực thì mới khá lên được, chứ không thể chỉ dựa vào những điều kiện thuận lợi…

Nguyễn Thanh Hà: Thực ra thì điều kiện thuận lợi của mình là gì? Là đã có một tư duy tốt, là đã được sống trong một gia đình trang bị cho mình hiểu biết về cuộc sống và mình có ý thức sống cùng với thời cuộc, dù khó khăn đến đâu một cách xứng đáng chứ không than vãn...

Hồng Thanh Quang: Mình chấp nhận mọi sự như tự nhiên phải thế...

Nguyễn Thanh Hà: Như mọi sự tự nhiên trên cuộc đời này… Mình nói ví dụ với Hồng Thanh Quang về chuyện mẹ mình nhé. Dạo đó, tới niên hạn, mẹ mình được đề bạt lên cấp thiếu tá, tất cả những người đồng lứa với mẹ đều được đề bạt như thế. Nhưng khi ba mình ký quyết định thì ba mình lại nói, tôi ký cho những người khác nhưng trường hợp này (trường hợp của mẹ mình) thì tôi để lại, tôi sẽ tự làm công tác tư tưởng với bà ấy…--PageBreak--

Hồng Thanh Quang (cười): Có vẻ bắt nạt vợ quá nhỉ…

Nguyễn Thanh Hà (cũng cười): Chỉ khi ba mình mất rồi, mẹ mình mới được thăng lên cấp thiếu tá rồi về hưu…

Hồng Thanh Quang: Ông làm thế cũng là để gương mẫu ấy chứ…

Nguyễn Thanh Hà: Gương mẫu mà… Mình còn nhớ, hồi ấy, mỗi tháng mẹ mình có 18 cân tem gạo, nếu cuối tháng ăn không hết thì mẹ mình lại mang số tem phiếu còn lại trả cơ quan…

Hồng Thanh Quang: Chứ không bán ra ngoài cho "con phe"?

Nguyễn Thanh Hà: Không! Tính bà là thế. Vậy nên sau khi ba mình mất, mẹ mình mới nói rằng, cái nhà này là tiêu chuẩn của ba, ba mất rồi, các con phải mang trả lại quân đội đi… Lúc đó, bà đang ốm nên bọn mình chưa trả. Sau khi bà qua đời, bọn mình đã đem trả lại cho quân đội ngôi biệt thự 34 Lý Nam Đế.

Hồng Thanh Quang: Tôi biết, bây giờ đó là trụ sở Hội Cựu chiến binh Việt Nam… Thế là từ đó, các anh chị mỗi người phải ở một nơi nhỉ?

Nguyễn Thanh Hà: Mỗi người mỗi nơi. Thì cũng chả sao… Sau này có một người bạn của ba mình khi đến thắp hương cho ba mình thấy nhà bọn mình ở chật quá, có nói, sao các cháu lại trả biệt thự, cứ giữ mà ở có hơn không? Giữ lại làm gì một khi mẹ mình đã bảo như thế… Thực ra làm thế mới phải vì ba mẹ mình đã sống đơn giản như thế thôi, cái gì không phải của mình thì không bao giờ giữ…

Hồng Thanh Quang: Mà chính như thế mới tạo cho các anh chị một cái hồng phúc đấy… Đời cha không ăn mặn…

Nguyễn Thanh Hà: Mình nghĩ thế này, tất cả 4 chị em mình đều sống độc lập

Hồng Thanh Quang: Mỗi người một công việc, đúng không chị?

Nguyễn Thanh Hà: Mỗi người một công việc… Hai cô em gái của mình, khi mới chuyển vào thành phố HCM, cũng phải bươn chải lắm. Thậm chí có lúc phải đi bán cháo lòng tiết canh… Mình còn nhớ, có hôm, em mình bán không hết hàng, mời chị đến ăn giúp... Nhưng ăn thì chỉ một hai bữa thôi chứ ngày nào cũng thế thì làm sao mà nuốt được (cười).

Hồng Thanh Quang: Chị có thể nói ra cảm nhận của chị về cậu em út, cậu con trai duy nhất trong nhà?

Nguyễn Thanh Hà: Mình vẫn nghĩ rằng, con người muốn trưởng thành thì cái thứ nhất là, phải có tố chất; và thứ hai, cái tố chất ấy phải được đưa vào môi trường thích hợp để phát huy được nó. Ba mình mất khi cậu Vịnh mới 7-8 tuổi, lớn lên trong nhà thì rất là vất vả, cũng bướng bỉnh, nghịch ngợm…

Hồng Thanh Quang: Con bộ đội thời chiến, tôi biết điều này vì tôi cũng là con bộ đội, bố tôi thời ấy cũng ở chiến trường...

Nguyễn Thanh Hà: Thì cũng chỉ là những thứ học trò…

Hồng Thanh Quang: Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò…

Nguyễn Thanh Hà: Tới một thời điểm nào đó, mình thấy là cần phải có một môi trường thích hợp để em mình tu dưỡng, phấn đấu… Và cậu Vịnh đã có được môi trường đó ở chiến trường K. Lúc cậu ấy đi sang đó, nhiều cô chú, nhất là các cô, các bà mẹ, cứ bảo với mình, sao cháu lại để em đi vào chỗ khó khăn nguy hiểm thế? Và mình đã trả lời rằng, nhưng đấy có lẽ là cách tốt nhất để thử xem cậu ấy có đứng được không…

HồngThanh Quang: Và em trai chị đã đứng được, đã trưởng thành…

Nguyễn Thanh Hà: 9 năm cậu ấy ở chiến trường K, say mê công việc, không chịu về sớm, và nói, chỉ khi nào xong việc mới về… Mình nghĩ, con người đúng là có tố chất nhưng mà phải có môi trường. Và đúng là...

Hồng Thanh Quang: Phải được đào luyện.

Nguyễn Thanh Hà: Phải được đào luyện bằng thực tế…

Hồng Thanh Quang: Phải được đào luyện bằng những khó khăn, gian khổ, cuộc sống đâu có đơn giản, đúng không chị?

Nguyễn Thanh Hà: Đúng, đúng là như thế.

Hồng Thanh Quang: Bây giờ nhìn lại, chị có thấy đã bao giờ những người em của chị làm chị phiền lòng chưa?

Nguyễn Thanh Hà: Đến hôm nay thì mình nghĩ là, gia đình mình không có gì mình phải phiền lòng vì các em mình vì chúng nó đã sống đúng với cái nghĩa là sống tự lập, có bản lĩnh và mình nghĩ đó là một cuộc sống tốt. Đấy, chỉ cần thế thôi. Bọn mình thì thế này, nếu có gì không hài lòng thì mấy chị em mình ngồi lại với nhau, "mắng mỏ" nhau mấy câu…

Hồng Thanh Quang: Chị là trưởng nữ, có quyền "thế phụ"…

Nguyễn Thanh Hà: Không, mình vẫn nói với các em mình, các em nghe chị không chỉ vì chị là cả, mà là vì chị…

Hồng Thanh Quang: Có đúng hay không…

Nguyễn Thanh Hà: Là ở vấn đề mà chị đặt ra có đúng hay không…

Hồng Thanh Quang: Chị thấy chị có thừa hưởng một nét tính cách nào của bà nội không?

Nguyễn Thanh Hà: Mình thừa hưởng tính cách một nửa của ba, một nửa của mẹ. Của mẹ là chu đáo, của ba là kiên quyết. Cậu Vịnh nói thế chứ cũng "sợ" mình lắm…

Hồng Thanh QuangH.T.Q.

Tuesday, 4 January 2011

Một số sách

Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina - Marina Lewycka
Ảnh của Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina - Marina Lewycka

Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina - Marina Lewycka


Đem lại một cái nhìn hài hước thú vị về cuộc sống của những người di cư Đông Âu tại phương Tây, giải Bollinger Everyman Wodehouse dành cho tiểu thuyết hài hước đã được trao tặng xứng đáng cho nhà văn Anh gốc Ucraina Marina Lewicka.

Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina

Marina Lewycka

lich su may keo bang tieng ukraina


Ở tuổi tám mươi tư, ông kỹ sư già góa vợ tuyên bố đã tìm thấy tình yêu đích thực của đời mình. Tình yêu ấy mang hình hài một cô nàng ngực to tóc vàng đã ly dị chồng mà ông gặp ở Câu lạc bộ Ukraina. Hai cô con gái ông nhảy dựng lên, vất sạch những hằn học cá nhân để hợp lực tống cổ bằng được cô ả đào mỏ về nước. Tình huống bi hài ấy chẳng ngờ lại khiến những ký ức xúc động về người mẹ đã khuất, những phong tục của quê hương Ukraina từ lâu bị lãng quên cùng những sự thật không hề dễ chịu về quá khứ gia đình dần dần sống dậy.

Đem lại một cái nhìn hài hước thú vị về cuộc sống của những người di cư Đông Âu tại phương Tây, giải Bollinger Everyman Wodehouse dành cho tiểu thuyết hài hước đã được trao tặng xứng đáng cho nhà văn Anh gốc Ucraina Marina Lewicka. Câu chuyện, thoạt tiên, chỉ như một hài kịch vui nhộn. Nhưng nếu cảm nhận bằng trái tim, đó sẽ là một tấn bi kịch được thể hiện dí dỏm và sâu lắng, dưới một nhan đề có vẻ nghiêm túc đến độ cường điệu như Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina….

Lời Tự Thú Của Một Nhà Báo Mỹ - Những Gì Người Ta Không Dạy Bạn Ở Các Trường Báo Chí - Tom Plate

Ảnh của Lời Tự Thú Của Một Nhà Báo Mỹ - Những Gì Người Ta Không Dạy Bạn Ở Các Trường Báo Chí - Tom Plate

Lời Tự Thú Của Một Nhà Báo Mỹ - Những Gì Người Ta Không Dạy Bạn Ở Các Trường Báo Chí - Tom Plate


Vô số những câu chuyện hấp dẫn bên lề các bài báo của Tom Plate: những "mánh khóe" thông minh để tiếp cận được với các nguyên thủ quốc gia, cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn để có những bài báo độc quyền gây sốc, những câu chuyện đậm dấu ấn cá nhân.


Những bố già châu Á - Joe Studwell

Ảnh của Những bố già châu Á - Joe Studwell

Những bố già châu Á - Joe Studwell


Cuốn sách xoay quanh câu chuyện về một nhóm khoảng vài chục ông trùm – hay đại gia - ở Đông Nam Á mà tác giả gọi là các "bố già".

Những bố già châu Á

Joe Studwell

Giới thiệu sách : Nhung bo gia chau a

Cuốn sách xoay quanh câu chuyện về một nhóm khoảng vài chục ông trùm – hay đại gia - ở Đông Nam Á mà tác giả gọi là các "bố già".

Trong số họ, có 8 doanh nhân được Tạp chí Forbes ghi tên trong danh sách 25 người giàu nhất thế giới, và 13 người ở trong danh sách 50 người giàu nhất thế giới. Họ đều là người “Đông Nam Á”, nhưng lại có thể đại diện cho toàn “châu Á” rộng lớn. Và có một hiện tượng thật đáng ngạc nhiên: 90% đều là người gốc Trung Quốc – những người “ngoại quốc” đến làm ăn tại các nước Đông Nam Á, trải qua một quá trình “tiếp biến văn hóa” bằng bản năng của những con “tắc kè hoa”, trở thành công dân địa phương, rồi trở thành các “bố già” thống trị nền kinh tế quốc nội, và thậm chí khuynh đảo nền chính trị của nước sở tại.



Friday, 31 December 2010

Ba văn bản liên quan đến vụ án Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ

Đăng bởi bvnpost on 30/12/2010

Kính gửi BBT Bauxite Việt Nam,

Tôi, Cù Thị Xuân Bích, em gái TS Cù Huy Hà Vũ vừa nhận được đơn đề nghị của anh Vũ gửi tới Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tôi trân trọng đề nghị BVN cho đăng để những người quan tâm đến vụ án đuợc biết.

Cám ơn,

Cù Thị Xuân Bích

clip_image002

clip_image004

clip_image006

clip_image008

clip_image010

Wednesday, 29 December 2010

Cao Việt Dũng bình chọn 5 cuốn hay nhất 2010

12/27/10

Tóp mỡ 2010

Bị đề nghị đưa ra top 5 sách 2010 :(


“Istanbul. Hồi ức và thành phố” (Orhan Pamuk, Nguyễn Quốc Trụ dịch, Nhã Nam & NXB Văn học)

Không có nhiều hồi ký nhà văn được dịch ra và đón nhận nồng nhiệt ở Việt Nam. Sau “Sống để kể lại” của Gabriel García Marquéz và “Hội hè miên man” của Ernest Hemingway, “Istanbul” của Orhan Pamuk đã kịp thời đến để bổ khuyết cho thiếu hụt này. Istanbul của Pamuk không chỉ là một bức tranh, một câu chuyện kể, mà còn là một tâm hồn sống ngập ngừng thở trên những hoang phế điêu tàn mà chỉ một nhà văn đặc biệt nhạy cảm mới có thể nắm bắt và miêu tả được.



“Vắng mặt” (tiểu thuyết của Đỗ Phấn, Bách Việt & NXB Hội Nhà văn)

Văn học Việt Nam lại thất bát thêm một mùa 2010. Đã lâu lắm rồi các nhà văn Việt Nam nhớn nhác với những cách tân mà dường như quên đi mất rằng văn chương có thể không nằm về “phương ấy”. Khi các giải thưởng văn học chính quy đều gắng gượng mà trao, một nỗ lực nho nhỏ về kể chuyện giản dị như “Vắng mặt” của họa sĩ Đỗ Phấn hoàn toàn xứng đáng được coi là một điều có ý nghĩa cho một năm buồn bã của văn học trong nước.


“Oh boy!” (Marie-Aude Murail, Trần Anh Thư dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn)

Một tác phẩm thuộc dòng nhiều người đọc nhưng ít khi thực sự được đánh giá cao: văn học thiếu nhi. “Oh boy!” bắt đầu đưa đến Việt Nam loạt tác phẩm của Murail, một nhà văn chắc hẳn rồi đây sẽ được xếp vào hàng kinh điển của lịch sử văn học thiếu nhi thế giới. Năm 2010 cũng chứng kiến một sự tăng tiến nhảy vọt của dòng sách văn học thiếu nhi ở rất nhiều tiểu thể loại và với sự tham gia của rất nhiều cơ sở xuất bản.


“Tình và rác” (Ivan Klíma, Bạch Phương dịch, Bách Việt & NXB Văn học)

Cuốn tiểu thuyết xuất bản vào cuối năm củng cố thêm cho sự thắng thế trở lại của một số nền văn học lâu nay ít được quan tâm như văn học Hungari, Ba Lan, Ý… Klíma, một nhà văn lớn người Séc, đưa chúng ta quay về với một bầu không khí chính trị ngột ngạt tại các nước thuộc khối Đông Âu trước đây với một giọng văn buồn bã bậc thầy rất hiếm thấy.



Trong dòng sách nghiên cứu, đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình nhìn lại lịch sử Việt Nam từ những khía cạnh mới, xuất phát từ các nguồn tài liệu mới. Các Công ty Đông Ấn có một kho lưu trữ khổng lồ, trong đó có hàng vạn trang liên quan đến Việt Nam. Lịch sử Việt Nam, để có thể toàn diện, còn cần được đặc biệt quan tâm về phương diện thương mại. Dĩ nhiên, lịch sử không chỉ gồm có những nhà chính trị và quân sự kiệt xuất, cùng những câu nói lừng danh và các âm mưu xảo quyệt được hậu thế say mê.

Uyên Linh bị nói hát thường, khán giả phản đối


(VietNamNet) - Ý kiến riêng của ca sĩ Thanh Lam về quán quân Việt Nam Idol 2010 đã khiến nhiều khán giả bất bình.


Rất nhanh chóng bài viết trở thành tiêu điểm, nhận được phản hồi nhiều nhất trên các trang báo mạng. Trên trang Tintuconline, trong 100 phản hồi thì chỉ có khoảng 2-3 bài đồng ý với ý kiến của Diva đương đại, còn lại là phản đối từ từ tốn đến gay gắt.

Khá nhiều ý trong phần phát biểu của diva Thanh Lam khiến người nghe không đồng tình và cho rằng nhận xét của Diva 42 tuổi này là cảm tính, cá nhân và không công bằng với Uyên Linh.


Không chỉ có vậy, trong Top 5 bài được phản hồi nhiều nhất
cũng đều có cái tên Uyên Linh. (trang TTOL)
Chưa từng có một nghệ sĩ nào có một lượng fan ủng hộ hùng hậu đến như vậy


Thanh Lam cho rằng: "Nhiều người cho rằng Uyên Linh giống như một hiện tượng của âm nhạc Việt Nhưng theo tôi 22 tuổi không phải là hiện tượng nữa. Nếu cô ấy mới 15 tuổi thì điều đó đúng, còn 22 tuổi vào nghề cũng là muộn rồi"

Thanh Lam cũng nhận xét "Những tình cảm ban đầu mà Linh đang nhận được có vẻ rất dễ dàng nhưng quan trọng là được đặt vào vị trí đó rồi thì việc có thể xây dựng được đẳng cấp của mình hay không, không phải là ai cũng làm được"

Tuy nhiên có lẽ Diva này đã quên mất hiện tượng Susan Boyle - một phụ nữ ngoài 50 tuổi, già, béo, lôi thôi và không được đào tạo đã trở thành hiện tượng Âm nhạc trên toàn thế giới - là á quân cuộc thi Britian's Got Talent năm 2009 . Thậm chí album I Dreamed A Dream của Susan Boyle đã đi vào lịch sử với thành tích là album đầu tay có lượng bán cao nhất toàn cầu. Hơn nữa, những tình cảm mà Uyên Linh 22 tuổi của Việt Nam đã dành được từ khán giả cũng không phải là một thứ đạt được dễ dàng. Phải chăng Lam đã quá đặt nặng đẳng cấp của một ngôi sao mà không cho rằng sự đánh giá từ trái tim, xúc cảm là quan trọng?


Tự nhận là những độc giả "không còn là teen để có cảm nhận thiếu chín chắn", Phương Anh từ địa chỉ phuonganh6367@yahoo.com cho biết:

Tôi đã đừng thích nghe giọng hát của Thanh Lam qua bài hát “Chia tay hoàng hôn” của ngày xưa, nhưng sau này thì thật sự cứ mỗi lần thấy chị hát, rú… là cả nhà tôi chuyển kênh ngay lập tức vì không ai đủ kiên nhẫn để nghe hết bài. Tôi nghĩ có lẽ do “trình” cảm nhận âm nhạc của tôi kém quá (cho dù gia đình tôi cũng có 3 người em học Nhạc viện HN) nên tôi đã không thể “tiêu hóa” nổi những bài hát quá kỹ thuật… Tôi chỉ biết rằng, sau buổi biểu diễn Gala cuối của Vietnam Idol thì cả hai vợ chồng tôi và con gái 5 tuổi của tôi trở nên mê đắm tiếng hát của Uyên Linh. Tôi đã nghe đi nghe lại không dưới 15 lần/ bài của Uyên Linh và sau mỗi lần nghe xong thì tâm trạng của chúng tôi vẫn dạt dào xúc động như nghe lần đầu. Cách hát đầy xúc cảm khiến khán giả như hòa mình vào nhân vật và những giai điệu của bài hát… tôi không biết diễn tả thế nào cho đúng tâm trạng. Nhưng quả thật, rất ấn tượng và thân quen. Từ những tình cảm tự nhiên đấy, lần đầu tiên chúng tôi bỏ thời gian và nhiệt huyết để bầu chọn cho Uyên Linh tới tận giây cuối cùng. Lưu ý, tôi không còn là teen để có cảm nhận thiếu chín chắn. Cái chúng tôi mong muốn là người ca sĩ hát và truyền cảm xúc yêu nhạc cho khán giả.

Không phải bỗng dưng Thanh Lam được coi là một Diva của làng nhạc, cô có nội lực nhất định, thành công nhất định và một cá tính mạnh mẽ, nhưng với "làn sóng mới", khán giả cũng đã nhận thấy các ca khúc của đàn chị đã được thế trẻ thể hiện mới mẻ, sáng tạo với những xúc cảm riêng. Lam nói: "Uyên Linh theo tôi về mặt ca hát thì cũng bình thường thôi và tôi không thích lắm. Cô ấy không được đào tạo bài bản nên vẫn còn nhiều hạn chế như khi hát lên cao xuống thấp rất là kém"....

Ngọc Anh - phloan75@yahoo.com chia sẻ

Sau khi nghe khoảng 30 lần bài hát "Sao chẳng về với em" do Uyên Linh thể hiện trong VN Idol, mình có tìm nghe bài hát này do Thanh Lam và Hồng Nhung hát. Không biết kỹ thuật của TL cao đến mức nào nhưng bài hát nghe chẳng có cảm xúc và không hay một tí nào cả, rất khó nghe. Hồng Nhung hát thì mình còn có thể nghe được hết bài, nhưng chỉ nghe được 1 lần thôi, không thể nghe thêm. Cũng là 1 bài hát đó nhưng Uyên Linh đã làm được 1 việc phi thường là thổi hồn và cảm xúc vào bài hát khiến nó chở nên vô cùng hay. Nghe rất da diết, khắc khoải, đúng như tên bài hát. Mình có thể nghe thêm 300 lần nữa mà không chán. Đâu cần phải kỹ thuật quá cao đâu, 1 ca sĩ thành công là ca sĩ làm cho khán giả cảm nhận được ý nghĩa của bài hát và yêu bài hát đó. Uyên Linh đã rất thành công ở tất cả các bài hát. Cảm ơn Uyên Linh.

Nguyễn Khánh - tuanhaonguyen@yahoo.com.vn

Tôi không rành về kỹ thuật thanh nhạc, nhưng nghe UL hát tôi cảm thấy xúc động, mà người nghệ sỹ cũng chỉ cần đến thế thôi, khi người nghệ sỹ cất giọng hát lên mà làm cho khán giả rơi nước mắt là quá thành công rồi.


Thay cho lời kết là ý kiến của Nhạc sĩ Quốc Trung, người đã chứng kiến Uyên Linh suốt chặng đường 6 tháng của VietnamIdol, là người có hiểu biết đa dạng về kỹ thuật thanh nhạc và chất giọng của nhiều ca sĩ

Nhạc sĩ Quốc Trung: Trên đường đi taxi đến đây, tôi đã kịp đọc bài phỏng vấn ca sĩ Thanh Lam. Thanh Lam, như mọi người đều biết là một người rất cảm tính. Tất nhiên, mỗi người nghệ sĩ đều có cách làm việc và quan điểm riêng mà chúng ta phải tôn trọng. Ở Việt Nam hiện nay, trong mọi lĩnh vực, chúng ta còn nặng về thành tích, danh hiệu, chức tước… nhưng tôi nghĩ, trong nghệ thuật, điều quan trọng nhất là thẩm mỹ của người nghệ sĩ. Khán giả người ta không cần quan tâm cô ca sĩ đó đến từ học viện nào, có được đào tạo hay không, quan trọng nhất là làm cho khán giả xúc động và chuyển tải cảm xúc được đến người nghe. Và tôi đánh giá điều đấy rất cao ở Uyên Linh.

Tuesday, 28 December 2010

HỒI KÍ TRẦN VĂN GIÀU (I)


Trần Văn Giàu Cập nhật : 28/12/2010 11:06

Diễn Đàn và Viet-Studies khởi đăng HỒI KÝ của nhà cách mạng & học giả Trần Văn Giàu (1911-2010).



Tài liệu


HỒI KÝ TRẦN VĂN GIÀU

ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU

Ở nước ta, từ hai mươi, ba mươi năm nay, có hai cuốn hồi kí mà người ta tin rằng tác giả đã viết xong, nhưng chưa biết bao giờ mới được công bố. Người dân thường và các nhà sử học thì mong mỏi sớm được đọc toàn văn hai chứng từ lịch sử. Nhà cầm quyền, hay đúng hơn, công cụ chuyên chính của chính quyền, thì ra sức theo dõi việc biên soạn, lùng tìm những người đánh máy, tàng trữ, với hi vọng thu hồi được bản thảo, để hoặc thủ tiêu, cấm đoán xuất bản, hoặc cắt xén, thay đổi (dịch nôm hai tiếng « biên tập » -- (tiếng) nước ta nó thế) trước khi cho xuất bản.

Tình cờ hay không, tác giả hai tập hồi kí huyền thoại ấy, hai cá tính rất khác nhau, lại có những điểm tương đồng kì lạ. Họ đều là những nhân vật lịch sử, đã góp phần làm nên lịch sử Việt Nam thế kỉ XX. Do số phận trắc trở, sinh thời họ đã trở thành những nhân vật huyền thoại, trong tưởng tượng của những người hâm mộ hay tò mò, thù ghét hay quý mến. Cả hai đều ra đời trên đất nước Việt Nam đau thương, người tháng trước, kẻ tháng sau, vào cùng năm 1911, cách đây gần đúng một trăm năm. Mỗi người một cách, cả hai đã làm nên lịch sử. Lại đã từng dạy sử (một người dạy sử trước khi làm nên lịch sử, một người ngược lại), hơn nữa, cả hai, về cuối đời, đều trở thành chủ tịch danh dự của Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Thêm một trùng hợp nữa, cách đây tám thập niên, ở xa nhau vạn dặm, họ đều viết về « vấn đề dân cày », vấn đề của những vấn đề Việt Nam thế kỉ XX -- mà ngày nay vẫn còn nóng bỏng. Nhưng nếu có một lí do quan trọng hơn mọi lí do khiến mọi người mong muốn tìm đọc hồi kí của họ, thì đó là : tên tuổi đã đi vào lịch sử, quyền bính có lúc ở tột đỉnh, nhưng họ đã trải qua những oan khuất kì bí vì họ không được lên tiếng giãi bày, còn người gây ra oan khuất lại nắm giữ quyền cao chức trọng, chỉ nhỏ giọt những lời lên án, vu khống họ bằng lời rỉ tai, xì xầm (cùng lắm thì « phổ biến miệng trong họp tổ »).

Hai nhân vật ấy, không nói, nhiều người cũng đoán ra : Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu.

Từ đầu năm 2010, bước sang tuổi bách niên, hai ông đã phải nằm bệnh viện. Lễ mừng thọ (truyền hình) của họ diễn ra trên giường trắng, trong tháng 8 và tháng 9. Ông Trần Văn Giàu vừa từ trần ngày 16.12.2010.

Đêm hôm ấy, viết đôi dòng về cuộc đời giáo sư họ Trần, tôi ước mong sớm được đọc trên mạng tập hồi kí của ông trong một văn bản toàn vẹn, không bị cắt đục, vo tròn hay bóp méo. Bài viết đưa lên mạng Diễn Đàn, anh Trần Hữu Dũng đưa tiếp lên trang Viet-Studies và gửi thư hỏi tôi : chưa có bản hồi kí sao ? Hóa ra anh cũng đã nhận được một ấn bản « số hóa » mà Trần Văn Giàu nói tới trong Lời nói đầudưới đây). Không phải là văn bản điện tử, nên chúng tôi phải tổ chức đánh máy lại. Tác giả chưa rà lại bản in này, mà sự việc kể lại trong đó lại xảy ra cách đây hơn 60 năm, nhân vật nhiều khi được gọi bằng bí danh, nên nhất thiết phải sửa lỗi chính tả và lỗi đánh máy, thêm chú thích và nếu cần, chú giải (việc này đòi hỏi nhiều công phu, mà những hiểu biết của chúng tôi không đủ). May thay, ý muốn được đọc một văn bản hoàn chỉnh không phải chỉ chúng tôi mới có. Anh Trần Hữu Dũng vừa « hô » trên mạng, đã có ngay năm bảy bạn đọc, người ở trong nước, người ở đôi bờ Đại Tây Dương, sốt sắng hưởng ứng. (

Nhờ vậy, ban biên tập Viet-Studies và ban biên tập Diễn Đàn vinh dự công bố Hồi kí Trần Văn Giàu.

Chúng tôi bắt đầu, kỳ này, bằng Lời nói đầu của tác giả (viết năm 1995), và chương Câu chuyện mười năm kết thúc (trong phần V, tức là phần cuối cùng, của Hồi kí).

Trong những tuần tới, chúng tôi sẽ lần lượt công bố theo thứ tự toàn văn tác phẩm. Đương nhiên, bản điện tử này sẽ tôn trọng nguyên tác, chỉ sửa những lỗi đánh máy và lỗi chính tả ; trong phạm vi cho phép, sẽ thêm chú thích và chú giải cần thiết. Tất cả các bình chú ấy là của những người biên tập (trừ trường hợp của tác giả thì chúng tôi sẽ chua rõ). Vì đây là một chứng từ lịch sử, tuy biết bạn đọc nóng lòng, chúng tôi sẽ cố gắng làm nhanh nhưng không vội, theo đúng tiêu chí nói trên. Tuy nhiên, công việc này không khỏi có sai sót, rất mong nhận được sự chỉ dẫn của bạn đọc. Bản đã lên mạng rồi, chúng tôi vẫn tiếp tục hoàn chỉnh và cập nhật, những thay đổi (nếu có) về nội dung sẽ được ghi rõ ngày tháng để tiện việc tra cứu. Đây cũng là dịp để tập hợp những hình ảnh liên quan tới tác giả và những nhân vật nói tới trong hồi kí (trong chừng mực có thể, sẽ ghi rõ nguồn gốc).

Thay mặt hai ban biên tập, chúng tôi xin thành thực cảm ơn tất cả các bạn xa gần đã góp phần vào việc chuyển giao bản thảo, đánh máy, chỉ dẫn... để tập Hồi kí Trần Văn Giàu này đến tay bạn đọc năm châu.

Nguyễn Ngọc Giao

19.12.2010

Lời nói đầu


Tôi viết tập « hồi ký » này từ cuối những năm 1970. Viết xong, tôi nhờ anh em ở Long An ̶ tỉnh nhà ̶ đánh máy ; ý muốn viết hồi ký để con cháu xem chớ không phải để in ra thành sách, vì trong hồi ký có lắm chuyện « không lấy gì làm hay », buồn nữa là khác. Nhưng vài ba anh em Long An, không xin phép tôi, tự ý đánh máy thêm mấy bản, chỉ giao lại cho tôi hai bản, họ giữ mấy bản tôi không biết, nhưng tôi được biết họ đã chuyền tay đọc khá rộng. Nhiều bạn bảo tôi cứ phát hành tập hồi ký này đi. Tôi không ưng. Có lý do.

Tôi thấy rằng không ít hồi ký đã được in ấn kể sự việc rất hay mà cũng chen vào một ít điều hoặc tác giả bịa hoặc lúc nghe kể đã thất thiệt. Viết hồi ký trước hết là viết những điều mình mắt thấy tai nghe và tự làm là chính, mà viết về mình thì dễ « chủ quan » : bớt cái dở thêm cái hay là điều khó tránh khỏi ; tôi ngập ngừng khi định viết hồi ký là vì vậy. Nhưng có một số việc, nếu mình không kể lại thì không ai biết, không ai nhớ, không ai viết, không ai làm sáng tỏ cho mình bằng mình. Thành ra viết hồi ký vừa là đóng góp sử liệu vừa là yên ủi mình. Trong lịch sử dù là lịch sử của một khoảng đời ngắn ngủi, mình chỉ là một tiếng của ngàn trùng ngọn sóng trên biển sôi động : ghi lại một tiếng, thật ra có nghĩa lý gì lớn lắm đâu, có thêm bớt gì lắm đâu ? Nhiều lắm thì làm cho một số người mất thì giờ đọc, hay mất tiền mua. « Cọp chết để da, người ta chết để tiếng » ; tục ngữ thì như vậy. Song, da, dầu là da cọp, nhiều năm rồi sâu mọt đục cũng hết. Tiếng, trừ ra tiếng của một số ít vĩ nhân, làm sao mà còn mãi với thời gian ? Năm trăm năm sau cách mạng tháng Tám, dân ta sẽ còn nhớ chỉ tên của một mình cụ Hồ, mình ông Giáp. Cho nên, viết hồi ký này, tôi chỉ mong cho cháu một đời sau mình biết được rằng ông nó đã gắng sức làm tròn trách nhiệm ở đời, đã sống có nhân cách. Thế là đủ.

Tôi chỉ viết hồi ký khoảng thời gian 1940-1945 vì đó là thời gian tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, xấp xỉ 90 năm. Tôi viết « Lời nói đầu » này ngày 27 tháng 10 năm 1995, sau khi tôi đọc lại bản hồi ký lần thứ ba.

Trần Văn Giàu



Câu chuyện mười năm đã kết thúc


Việc gì rồi cũng phải có kết thúc, duy kết thúc hay dở, đúng sai là vấn đề khác. Một ngày, tôi nhớ đâu là đầu năm 1988, tốt trời, tôi được Lê Đức Thọ (1) mời dự buổi chiêu đãi ở T.78 (2) với một số đồng chí. Tôi lấy làm lạ : là bởi vì, ở Hà Nội từ 1954 đến 1976, anh Thọ chưa hề đến nhà riêng tôi, chưa hề gọi tôi lên văn phòng hay nhà riêng của anh. Còn tôi thì tôi quen cái tánh “ mọi rợ ” là chưa bao giờ tự mình đến thăm bất cứ ai có chức, có quyền lớn hơn tôi – trừ trường hợp duy nhất là cụ Tôn Đức Thắng mà tôi thỉnh thoảng lên thăm, trước hết là vì anh Hai Thắng cứ vài ba tháng thì xuống thăm hai vợ chồng tôi một lần.

Bữa chiêu đãi hôm đó của anh Thọ, có mặt bốn người được mời : chị Năm Bi (3), Tào Tỵ (4), Tô Ký (5), và tôi – Trần Văn Giàu.

Ăn uống, trò chuyện thân mật. Không có riêng bàn về vấn đề gì cả.

Lúc buổi tiệc tàn, anh em sắp chia tay, thì tôi xin nói một tâm sự, nói với Thọ, giữa Bi, Tỵ, Ký :

“ Tôi cảm ơn anh Sáu mời cơm với các bạn đều là quen thân từ lâu. Tôi có việc tâm sự cần nói với anh Sáu, có các anh chị nghe, nghe tôi và nghe anh Sáu sẽ nói sau. Các đồng chí cho phép tôi nói lối nói ở trong tù, tôi và Thọ cùng ở banh 1, khám 8; Côn Lôn những năm 1935/1936. Đồng ý chứ ?

– Tao là Giàu, mày, ở khám 8, banh 1 <*>, là Khải, Phan Đình Khải (6) ; hôm nay chúng ta nói chuyện thân mật như cách đây mấy mươi năm, khi còn ở ngoài Côn Lôn. (Tới đây, thì Thọ liền nói với các đồng chí khách kia : hồi ở khám, ở banh tụi mình gọi nhau bằng mày tao như vậy đó, không khi nào có thưa anh, thưa chú ; hồi ở Côn Lôn chính Giàu dạy tôi học chủ nghĩa Mác-Lênin, chớ trước đó mình có học gì bao nhiêu đâu !).

Tôi nói với Thọ : “ Chúng ta là những người quá 70 tuổi, xấp xỉ 80 rồi, sắp đi theo cụ Hồ rồi. Mấy mươi năm nay, tao chịu những cái hàm oan mà mày, Khải, mày biết hết, biết rõ trắng đen. Chúng ta đều muốn đi theo cụ Hồ một cách thanh thản. Vậy lần này, Thọ về Hà Nội hãy có quyết định rõ, bằng văn bản của Ban Tổ chức Trung ương về tất cả những điều người ta vu cáo cho Giàu, được không ? ” Thọ hứa, hứa trước mặt chị Năm Bi, anh Tào Tỵ, chú Ba Tô Ký.

Chủ khách chia tay nhau trong vui vẻ, thân ái nữa.

Một tháng sau, ủy viên thường vụ Thành ủy là Bảy Dự (7) đến nhà tôi, đem cho tôi một bức thơ, mở ra, thấy cái quyết nghị của Ban Tổ chức Trung ương mà tôi chờ đợi mấy chục năm nay. Người ký tên không phải là Lê Đức Thọ mà là Nguyễn Đức Tâm, đương chức bí thư phụ trách tổ chức như Thọ trước đây. Tôi đọc lên cho Dự nghe. Vả lại bức thư không niêm, chỉ chuyển tải quyết nghị. Chắc ở Trung ương có bản lưu : bốn việc tố cáo, vu cáo, quyết nghị này cho là không căn cứ ; còn một vụ là Deschamps 1935 thì quyết nghị nói rằng tôi, Giàu, có chịu trách nhiệm.

Tôi tuyên bố ngay với Bảy Dự rằng tôi không bằng lòng và tôi sẽ cãi. Dự bảo với tôi rằng, như thế này thì tốt lắm rồi, cãi làm gì nữa. Tôi nói lại rằng tôi sẽ nhờ Thành ủy gởi cho Ban Tổ chức một bức thơ để tỏ rõ lại mọi việc. Tôi đã viết và gởi bức thơ đó, trong ấy không có gì lạ hơn là hai bức thơ trả lời cho tôi của đồng chí Nguyễn Văn Trân (Prigorny) (8) và đồng chí trưởng ban Lịch sử Đảng thành phố – đã chép lại bên trên và đã photocopy. (Xin xem Phụ lục dưới đây).

Một tháng sau nữa, tôi được giấy của Ban Tổ chức Trung ương cho đi Liên Xô nghỉ hè ở Sotchi (Hắc Hải).

Tôi gởi lại cho Ban Tổ chức cái giấy mời ấy với lời cảm ơn thành thật và lời cắt nghĩa vì sao tôi không đi nghỉ mát ở Hắc Hải, dù ý thì rất muốn (mấy chục năm nay tôi chưa được cho đi nghỉ mát ở Liên Xô lần nào). Tôi trình bày lý do là: Từ năm 1930, tôi để vợ trẻ (9) của tôi ở nhà một mình, đi mãi, đi miệt, đi làm “cách mạng chuyên nghiệp”. Từ 1930 đó cho đến sau Genève, tôi chỉ được về nhà hai lần, một lần hơn tháng, một lần 9 ngày ; hoạt động bí mật, ở tù, có vợ mà bỏ vợ ở nhà mãi ; tôi kháng chiến ở Bắc, vợ kháng chiến ở Nam, hai đứa không ở gần nhau như vậy là gần một phần tư thế kỷ, hết tuổi trẻ. Nay, hoà bình lập lại, tôi không đi nghỉ hè đâu xa mà không có vợ tôi cùng đi. Vậy xin gởi lại giấy mời với lời cảm ơn thành thật chớ không phải là chút hờn mát nào, xin các đồng chí ở tổ chức biết cho.

Không tới một tuần sau, Ban Tổ chức Trung ương gởi vào giấy cho vợ tôi cùng đi nghỉ mát hơn một tháng ở Hắc Hải, viếng Moscou, Lêningrad. Đó là vào năm 1988 thì phải, tôi nhớ không rõ. Kiểm lại, tôi thấy trong hơn ba, bốn mươi năm bị hàm oan, tôi không hề rời công tác, việc gì giao cho dầu nhỏ tôi cũng làm tròn, không giao việc gì thì tôi viết sách, viết báo, dạy học và tôi đã đạt những thành tựu tôi mong muốn, giữ vững tư cách đảng viên, giữ vững nhân cách Việt Nam.

Phụ Lục :



Thư của Trần Văn Giàu
gởi cho Ban Tổ chức Thành ủy
và Ban Tổ chức Trung ương


Kính gửi : Ban Tổ chức Thành ủy

Đồng kính gửi : Ban Tổ chức Trung ương



Ngày 13 tháng 5 năm 1988, đồng chí Bảy Dự trao cho tôi, tại 70 Phạm Ngọc Thạch, bản « Kết luận một số vấn đề tồn tại về lịch sử đồng chí Trần Văn Giàu » (số 182 – CV/TW) do đồng chí Nguyễn Đức Tâm ký.

Thế là « chung thẩm » rồi ! Song tôi thấy cần nói vài lời :

1) Rất buồn là việc đã xảy ra từ 1945 đến 1988 mới có kết luận. Kết luận mà không có tranh biện giữa bên tiên cáo và bên bị cáo. Dù sao, vẫn có kết luận và tôi xin thành thật cảm ơn các đồng chí đã quan tâm đến việc của tôi trong lúc trăm công ngàn việc bối rối, đã kết luận căn cứ vào một phần lớn sự thật khách quan, và đã giải quyết phần lớn các vấn đề làm cho tôi đỡ tủi phận.

2) Về vụ vượt ngục Tà Lài. Bản kết luận viết : « Chưa có chứng cớ gì là Pháp tổ chức cho đồng chí Giàu vượt ngục ». Đáng lẽ phải nói : « Không có chứng cớ gì… » ; việc đã xảy ra từ 1941, đợi tới bao giờ mới có bằng cớ mà nay hãy còn nói là chưa ? Không phải một mình tôi vượt ngục, có cả Tô Ký, Năm Đông (10) v.v.… họ còn sống, có Tào Tỵ biết rõ mọi việc. Đáng lẽ phải hỏi tội vu cáo của kẻ nào cố ý bày chuyện hại người ngay trong lúc làm khởi nghĩa tháng Tám, có hậu quả ghê gớm hơn 40 năm trường. Hỏi tội cho biết vậy thôi, chớ cũng sống chết cả rồi, còn hơn thua làm chi.

3) Về vụ Deschamps (11) : « việc khai nhận (của đồng chí Giàu) gây tổn thất cho phong trào cách mạng Nam Bộ và gây tổn thất cho đường giao liên quốc tế ». Đúng là tôi không được anh hùng như Trần Phú : Trần Phú không hở môi. Tôi có hở môi, nhận một số việc đã rồi, nghĩa là có trách nhiệm trong sự tổn thất. Song, Nguyễn Văn Trân (Prigorny) còn sống, làm chứng rằng người khai ra Deschamps không phải là tôi, không một ai bị bắt vì tôi khai, cả chỗ ở tôi, ở Phú Lạc (xóm của Trân – tôi ở hai kỳ, rất lâu) không ai thấy Giàu dắt Tây về bắt người tra khảo. Nay tôi về đó, bà con vẫn còn quý mến như xưa. Mà người khai Deschamps cũng không phải là người phát giác. Kẻ phát giác là thợ Sáu, chồng giả của chị Mười Tốt, chánh hiệu mật thám, mà một đồng chí trong Xứ ủy đưa vào Thành ủy phụ trách liên lạc quốc tế ! Tay này không bị bắt trong cuộc lại còn đi thăm anh em, rồi sau đó đã có lần toan đánh lừa chị Bảy Huệ (12) nữa, may chị Huệ sanh nghi nên thoát khỏi. Ta bị địch vào cấp ủy. Mà ta cứ đổ cho nhau, đáng tiếc thay ! (chánh thằng thợ Sáu đó đón tôi ở Hồng Kông về, gởi ở nhà một sốp-phơ, hai ngày sau, tôi bị bắt, cả sốp-phơ kia và Sáu an toàn). Tôi làm việc liên lạc quốc tế từ 1933 đến cuối 1934, với Ba Nhâm (thành ủy viên thời Minh Khai). Nhâm (13) nay còn sống, gần 80 tuổi. An toàn tuyệt đối. Tôi đã giao việc cho anh khác từ tháng 12/1934.

4) Điểm 5 của Kết luận nói tôi làm sai đường lối Trung ương. Sai với đường lối, thì sai thật. Nhưng mà tôi có biết đường lối của Trung ương là thế nào đâu ? Trung ương có gửi ai vào trực tiếp với tôi đâu ?



CHÚ THÍCH
(của biên tập viên)

(1) Lúc này, hơn một năm sau Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, ông Lê Đức Thọ không còn ở trong Bộ chính trị Trung ương nữa. Trong những ngày trước Đại hội, ông đã lèo lái mọi cách để ông Trường Chinh không ở lại tiếp tục làm tổng bí thư, tạo thêm đà cho cuộc đổi mới (ông Phạm Văn Đồng bị lung lạc, đã dùng nước mắt để thuyết phục ông Trường Chinh, nhân danh sự « đoàn kết nội bộ »). Ba người rút ra làm cố vấn Ban chấp hành Trung ương khóa VI. Với thế lực của bộ máy tổ chức, an ninh, đối ngoại, quân đội, Lê Đức Thọ tiếp tục nắm giữ nhiều quyền hạn, cho đến ngày ông mất (tháng 10.1990).

(2) Khu trụ sở các ban trung ương của ĐCSVN ở thành phố Hồ Chí Minh (phường 7, quận 3) tiếp giáp các đường Trần Quốc Thảo và Lý Chính Thắng. T.78 là tên gọi của Cục quản trị, phụ trách các cơ ngơi của ĐCSVN. Nhà ở « phía nam » của các ủy viên Bộ chính trị nằm ở đây.

(3) Tức là bà Hồ Thị Bi (Hồ Thị Hoa). Thành lập và chỉ huy « Chi đội 12 » (tiền thân của Trung đoàn 312) đã lập nên những chiến công hiển hách từ cuối năm 1945 ở vùng Hóc Môn. Lúc này bà mới tập đọc, tập viết, ký tên BI trông như ba con số 131, nên quân đội Pháp ở vùng này gọi bà là « Madame 131 ». Có thể đọc thêm Nguyên Hùng : Nam Bộ - Những nhân vật một thời vang bóng.

(4) Nhà cách mạng lão thành, hoạt động cách mạng từ những năm 1930 ở Bạc Liêu. Làm nghề họa đồ, nên còn có tên là « Họa đồ Lý ». Có thể đọc tiểu truyện của ông trong Tuyển Tập Nguyên Hùng : Tà Lài tụ nghĩa (Hồi thứ nhất : Vì Việc Nghĩa Tào Tỵ Thọ Nạn Tới Gia Định Gặp Bạn Công Trung).

(5) Thiếu tướng Tô Ký sinh năm 1922 (Wikipédia viết 1919), tại làng Bình Lý, Hóc Môn (nay là xã anh hùng Bình Mỹ, huyện Củ Chi). Ông tham gia cách mạng từ năm 12 tuổi, năm 17 tuổi bị bắt giải đi căng Tà Lài (1940). Đầu năm 1942, ông cùng 7 đồng chí vượt ngục và bị bắt giải lên Bà Rá cho tới ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3. 1945. Ông là một trong những người lập Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, sau là Chi đội 12. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, được thăng thiếu tướng, Chính ủy quân khu. Ông mất mùng 2 Tết năm Kỷ Mão (1999). Theo Nguyên Hùng : Nam Bộ - Những nhân vật một thời vang bóng (“TIỂU TƯỚNG” TÔ KÝ CHINH PHỤC “NGƯU MA VƯƠNG”)

(6) Phan Đình Khải là tên thật của ông Lê Đức Thọ. Cả hai đều sinh năm 1911 : Trần Văn Giàu ngày 6 tháng 9, Lê Đức Thọ ngày 14 tháng 10.

(7) Bảy Dự : bí danh của Nguyễn Võ Danh, từng giữ chức phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP HCM, phó bí thư Thành ủy Đảng bộ TP HCM của ĐCSVN.

(8) Tức Bảy Trân (đừng nhầm với Nguyễn Văn Trấn « ông già Chợ Đệm »), sinh năm 1908, sang Pháp (Marseille) năm 15 tuổi. 19 tuổi, sang Liên Xô học trường Stalin (1927-1930), cùng khóa Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Trần Phú, Bùi Lâm, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai, Trần Đình Long, Bùi Ái. Bí mật về nước năm 1930. Một trong những đảng viên cộng sản hiếm hoi đã tranh thủ được cảm tình và sự ủng hộ của đạo Cao Đài và hàng ngũ Bình Xuyên. Cũng đã từng làm liên lạc giữa bí thư xứ ủy Trần Văn Giàu với những trí thức yêu nước như Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Thiều... Xem thêm : Nguyễn Văn Trân, người cảm hóa giang hồ Bình Xuyên trong Nguyên Hùng (sách đã dẫn).

(9) Bà Đỗ Thị Đạo. Khi Trần Văn Giàu bị trục xuất từ Pháp về (19 tuổi, năm 1930), cha mẹ ông buộc phải cưới vợ « cho tròn chữ hiếu ». Cuốn hồi ký này, ông đề « tặng vợ tôi, bà Đỗ Thị Đạo, người vợ trung thành, người đàn bà theo đúng truyền thống Việt Nam và truyền thống gia đình ».

(10) Năm Đông : tức Dương Quang Đông, tức Dương Văn Phúc (1902-2003). Ông Năm Đông là nhà cách mạng lão thành đã tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí hội của lãnh lụ Nguyễn Ái Quốc và sớm hoạt động trong Công hội Đỏ của cụ Tôn Đức Thắng. Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Kì. Trong thời kháng Pháp, ông là Phó phòng Hàng hải Nam Bộ, phụ trách văn phòng thường trực của ta ở thủ đô Xiêm quốc, Bangkok. Ông đóng vai doanh thương có cửa hàng xuất nhập cảng lớn tại thủ đô Bangkok, mua sắm tàu biển chở súng đạn, hóa chất, máy móc về nước đánh Tây. Trong cuộc sống đầy gian nguy giữa hàng ngũ mật vụ Pháp bố trí dày đặc ở Xiêm, dưới cái tên Xiêm là Nai Chran ông vẫn bình tĩnh làm tròn sứ mạng của mình cho tới ngày bị phe đảo chính bắt. Xem tiểu sử đầy đủ trong cuốn Dương Quang Đông xuyên Tây của Nguyên Hùng (sách đã dẫn). Những năm cuối đời, tuy tuổi cao, ông vẫn lên tiếng chống tiêu cực và sự lưu manh hóa hàng ngũ đảng (như tố cáo sự gian trá của tướng Lê Đức Anh).

(11) Deschamps là đảng viên Đảng cộng sản Pháp, làm thuyền trưởng. Trong cương vị này, ông làm giao liên giữa hai đảng, và cung cấp sách báo tài liệu cho ĐCSVN. Deschamps bị bắt năm 1935 cùng với Trần Văn Giàu. Các nhân chứng ông Giàu kể trong thư này, và nhiều người khác đều cho biết ai là người tố giác và khai báo về Deschamps và Trần Văn Giàu (xem Nguyên Hùng, sách đã dẫn).

(12) Bảy Huệ tức Ngô Thị Huệ hoạt động cách mạng từ những năm 1930, hai lần tù. Bà kết hôn với ông (Mười Cúc) Nguyễn Văn Linh (tổng bí thư tương lai) năm 1948. Hai người gặp nhau lần đầu trước đó ba năm, khi Bảy Huệ thay mặt tỉnh ủy Sóc Trăng ra đón đoàn tù trở về từ Côn Đảo.

(13) Ba Nhâm tức Trương Văn Nhâm hay Trương Quang Nhâm. Từng làm bí thư tỉnh ủy Trà Vinh. Một trong tám người vượt ngục Tà Lài (đợt 2) năm 1942, cùng với Trần Văn Giàu, Dương Văn Phúc (tức Dương Quang Đông), Châu Văn Giác, Trần Văn Kiết (Kiệt), Nguyễn Công Trung, Nguyễn Hoàng Sính (Đức), Tô Ký.

<*> Banh (từ tiếng Pháp bagne) : trại giam. Ở Côn Đảo, có nhiều banh, mỗi banh gồm nhiều khám. Thời Pháp, có 4 banh : banh 1 (trại Phú Hải), banh 2 (trại Phú Sơn), banh 3 (trại Phú Thọ), banh 3 phụ (trại Phú Tường), Chuồng Cọp, Chuồng Bò. Thời Mỹ, thêm trại 5 (Phú Phong), trại 6 (Phú An), trại 7 (Phú Bình, còn gọi là Chuồng Cọp Mĩ, phân biệt với Chuồng Cọp Pháp), trại 8 (Phú Hưng). Tổng cộng 127 phòng giam, 42 xà lim, 504 phòng biệt lập Chuồng Cọp. Các tên « Phú… » được đặt ra dưới thời Nguyễn Văn Thiệu sau Hiệp định Paris, khi quần đảo Côn Sơn được gọi tên là Phú Hải.

Một bất ngờ mới về dự đoán vị trí lãnh đạo trong tương lai của Việt Nam


27-12-2010 22:57
Một bất ngờ mới về dự đoán vị trí lãnh đạo trong tương lai của Việt Nam
Quang cảnh đại hội Đảng CSVN. Nguồn Internet

Ít ngày nay, trên các trang mạng trong và ngoài nước hé lộ thông tin không chính thức về các nhà lãnh đạo tương lai của Việt Nam sau khi Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành TW ĐCS Việt Nam họp hôm 13/12/2010.

Đặc biệt trên BBC đăng tải nhiều bài phân tích khá chi tiết về sự kiện này. Tuy nhiên thông tin do báo này đưa không hẳn đã chính xác về danh sách 4 vị đứng đầu nhà nước. Vấn đề nhân sự luôn được coi là nhạy cảm và cần được giữ bí mật tới phút chót, điều đó tạo nên nhiều phỏng đoán và bình luận đa chiều trong xã hội. Để bạn đọc điểm lại tên tuổi những vị đã được bầu thông qua tại Hội nghị 14 vừa qua, Vietinfo chuyển tới các bạn những phỏng đoán không chính chức về nhân sự cho ĐH XI tháng 1/2011.

1. Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội khóa XII sẽ lên làm Tổng bí thư thay thế Nông Đức Mạnh. Điều này là đương nhiên đối với một người từng nắm giữ cương vị Chủ tịch hội đồng lý luận TW của ĐCS, người được coi sẽ lái con thuyền ý thức hệ chính trị độc đảng giữa biển sóng dân chủ trên thế giới. Thêm vào đó, ông còn nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ phương Bắc để giữ vững 16 chữ “vàng” và tinh thần 4 "tốt".

2. Ông Trương Tấn Sang, nhân vật dư luận xã hội từng đồn đại là Tổng Bí thư sẽ thay thế ông Nguyễn Minh Triết để lên ghế Chủ tịch nước.

3. Ông Nguyễn Tấn Dũng, đương kim Thủ tướng Chính phủ sẽ tiếp tục ở lại đảm nhiệm thêm một nhiệm kỳ Thủ tướng như đã nói ở trên.

4. Còn chức danh Chủ tịch Quốc hội sẽ do ai đảm nhận?

Có phải ông Phạm Quang Nghị (ảnh trái), Bí thư thành ủy Hà Nội thay thế ông Trọng như thông tin rò rỉ ra gần đây hay với phỏng đoán khác là ông Hồ Đức Việt, (ảnh sau -phải) người từng xuất thân từ một Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội sẽ rời chức Trưởng ban Tổ chức TW quay trở lại nơi ông từng ra đi?

Thế nhưng tất cả những suy đoán đó đều không phải, người thay thế ông Trọng lại là đồng chí Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng (ảnh trên). Đây chính là một sự bất ngờ “thú vị” mà Trung ương ĐCS, Bộ chính trị muốn dành tặng cho tất cả những ai quan tâm tới chính sự Việt Nam. Quả là chưa hẳn đúng như báo chí nước ngoài loan tin ban đầu dự kiến ông Phạm Quang Nghị sẽ lên làm Chủ tịch Quốc hội. Thế nhưng giả sử khi ông Nghị ra đi thì phải có một người thay thế ông để quản lý cái đô thị đang hết sức rối ren về mọi mặt này.

Người được quan tâm thay thế ông Nghị để tiếp quản cái ghế nóng ở Hà Nội là ông Nguyễn Bá Thanh (ảnh bên), Bí thư thành ủy Đà Nẵng với nhiều kinh nghiệm về quản lý đô thị. Tuy nhiên đến phút chót số phiếu bầu cho ông vào Bộ Chính trị không đủ, vậy là ông không vào được BCT thì cũng không lấy đâu ra người thay thế ông Nghị.

Kế hoạch bổ sung được đưa ra vào phút chót, ông Hùng sẽ về Quốc hội. Có lẽ người “thắng” nhất trong vụ này là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người vừa “thoát hiểm” ngoạn mục trong vụ đắm tàu Vinashin, đồng thời đạt luôn nguyện vọng một mũi tên trúng hai đích. Thứ nhất vẫn giữ được “chiến hữu” của mình, thứ hai điều động ông Nguyễn Sinh Hùng sang làm Chủ tịch Quốc hội, nơi ông thường tranh đấu với những ý kiến phát biểu không đúng lúc đúng chỗ. Trong tương lai Chính phủ sẽ mạnh thêm, còn Quốc hội trở về đúng nghĩa của nó là nơi thể chế hóa các nghị quyết.

Người “thất vọng” nhất trong "cuộc đua" này có lẽ là đồng chí Trưởng ban Tổ chức TW Hồ Đức Việt,. Ông sinh năm 1947, còn đang sung sức và khá trẻ so với các đồng chí khác, vốn là hậu duệ của các bậc cách mạng tiền bối từ nay sẽ từ giã chính trường. Thay thế ông Việt sẽ là ông Ngô Văn Dụ, ̣(ảnh bên) Chánh văn phòng TW hiện nay.

Nói thêm một chút về chức danh Phó Chủ tịch nước, bà Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội đang trên đà thăng tiến với số phiếu đủ vào BCT và sẽ thay thế bà Doan trong thời gian tới. Xuất thân từ dân tộc Thái, BCT muốn đưa bà vào vị trí này cũng là để cơ cấu vùng miền - “coi trọng phụ nữ và đề cao người dân tộc thiểu số”.

Như vậy, đến giờ phút này về nhân sự chiến lược mà bấy lâu nay chúng ta phỏng đoán có thể đã sáng tỏ. Nhìn vào danh sách nhân sự không thấy có sự đột phá, vẫn cũ.

Với dự đoán này liệu có còn ngạc nhiên về nhân sự nữa hay không?

Hai Tê tổng hợp