Wednesday, 15 December 2010

Toàn văn phát biểu của Chủ tịch Thorbjørn Jagland tại lễ trao Giải Nobel Hòa bình 2010

Đăng bởi bvnpost on 15/12/2010

imageỦy ban Nobel Na Uy đã tổ chức lễ trao Giải thưởng Nobel Hòa bình hôm Thứ Sáu (10/12) mà người nhận giải – nhà hoạt động nhân quyền Lưu Hiểu Ba (Trung Quốc) – không thể có mặt do đang phải thụ án tù tại quê nhà.

Dưới đây là toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch Uỷ ban Nobel Thorbjørn Jagland tại buổi lễ.

Tâu bệ hạ và hoàng hậu, kính thưa quý bà, quý ông,

“Ủy ban Nobel Na Uy đã quyết định trao giải Nobel Hòa bình năm 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba, cho cuộc tranh đấu trường kỳ bất bạo động của ông ấy đòi các quyền cơ bản của con người ở Trung Quốc. Ủy ban Nobel Na Uy từ lâu đã tin rằng có sự liên quan mật thiết giữa các quyền con người và hòa bình. Các quyền đó là điều kiện tiên quyết cho ‘tình huynh đệ giữa các quốc gia’, là điều mà Alfred Nobel đã viết trong di chúc của mình”.

Tôi xin mượn những lời trên được trích trong đoạn đầu tiên thông cáo của Ủy ban Nobel Na Uy ký ngày 08/10 vừa qua khi công bố Giải thưởng Nobel Hòa bình năm nay, để mở đầu bài phát biểu này.

Chúng ta rất lấy làm tiếc là người đoạt giải lại không có mặt ở đây hôm nay. Ông đang bị cô lập trong một nhà tù ở phía đông bắc Trung Quốc. Ngay cả người thân cận nhất là vợ ông, bà Lưu Hà, cũng không thể đến đây với chúng ta. Do đó, hôm nay, sẽ không có huân chương hay chứng chỉ nào được trao tại đây cả.

Chỉ riêng thực tế đó, đã cho thấy giải thưởng này là quá cần thiết và xứng hợp. Chúng tôi xin chúc mừng ông Lưu Hiểu Ba, người đoạt Giải Nobel Hòa bình năm nay.

Trước đây, đã từng có những trường hợp người được nhận giải bị ngăn cản đến dự lễ trao giải. Ngay cả khi đã được đến, người nhận giải cũng còn nhiều lần bị lên án nặng nề bởi nhà chức trách ở quê hương mình. Tất cả đã được minh chứng trong ánh sáng của lịch sử rằng hầu hết các trường hợp đó đều là những giải thưởng thực sự quan trọng và xứng đáng.

Chúng ta đã từng gặp khó khăn cực lớn trong năm 1935, khi ủy ban quyết định trao giải thưởng này cho Carl von Ossietzky. Hitler đã vô cùng tức giận và cấm tất cả người Đức không được nhận bất kỳ giải thưởng Nobel nào. Vua Haakon đã không tham dự lễ trao giải. Bản thân Ossietzky cũng không đến Oslo và chết hơn một năm sau đó.

Moscow cũng đã giận dữ không kém khi Andrej Sakharov được trao giải vào năm 1975. Ông cũng bị ngăn cản đến nhận giải thưởng. Vợ ông phải nhận thay. Điều tương tự cũng đã xảy ra với Lech Walesa (Ba Lan) năm 1983. Các nhà chức trách Miến Điện cũng điên tiết khi bà Aung San Suu Kyi được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1991. Một lần nữa, người đoạt giải đã không thể đến được Oslo.

Năm 2003, Shirin Ebadi nhận Giải Nobel Hòa bình. Bà đã đến lễ trao giải. Người ta có thể nói khá nhiều về phản ứng của các quan chức Iran nhưng rốt cuộc Đại sứ Iran đã tham dự buổi lễ.

Ủy ban Nobel Na Uy đã từng trao bốn giải cho Nam Phi. Tất cả những người đoạt giải đã đến Oslo. Tuy nhiên, các giải thưởng dành cho Albert Lutuli vào năm 1960 và Desmond Tutu năm 1984 đã chọc tức chế độ phân biệt chủng tộc apartheid ở Nam Phi và chịu sự phẫn nộ lớn từ chế độ này, trước khi đón nhận những tràng pháo tay nồng nhiệt bởi giải thưởng được trao cho Nelson Mandela và Frederik Willem de Klerk năm 1993.

Tất nhiên, quan điểm khi trao các giải thưởng này không bao giờ có ý xúc phạm bất cứ ai. Mục đích của Ủy ban Nobel là muốn nêu lên mối liên hệ giữa nhân quyền, dân chủ và hòa bình. Và điều quan trọng là để nhắc nhở thế giới rằng các quyền mà chúng ta được hưởng rộng rãi ngày hôm nay là thành quả của sự chiến đấu và giành chiến thắng của những con người đã dám liều mình xông pha, chấp nhận những rủi ro rất lớn.

Họ đã làm tất cả điều đó cho tha nhân. Đó là lý do tại sao Lưu Hiểu Ba xứng đáng nhận được sự ủng hộ của chúng ta.

Mặc dù không ai trong số các thành viên của ủy ban đã từng gặp Lưu, chúng tôi vẫn cảm thấy rằng chúng tôi quen biết ông. Chúng tôi đã nghiên cứu ông cách chặt chẽ trong một khoảng thời gian dài.

Lưu sinh ngày 28 tháng 12 năm 1955 tại Trường Xuân thuộc tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc. Ông lấy bằng Cử nhân văn chương tại Đại học Cát Lâm, rồi bằng thạc sĩ và tiến sĩ tại Đại học Sư phạm Bắc Kinh, nơi ông cũng đã tham gia giảng dạy. Ông từng ra nước ngoài với tư cách giáo sư thỉnh giảng ở các Đại học Oslo, Đại học Hawaii và Đại học Columbia ở New York.

Năm 1989, ông quyết định trở về Trung Quốc để tham gia phong trào dân chủ buổi sơ khai. Vào ngày 02 tháng 6, ông và một số người bạn bắt đầu cuộc tuyệt thực tại quảng trường Thiên An Môn để phản đối tình trạng thiết quân luật đã được ban bố. Họ đưa ra một tuyên ngôn dân chủ 6 điểm, do Lưu viết, chống đối chế độ độc tài và ủng hộ dân chủ. Ông Lưu cũng đã phản đối bất kỳ cuộc đấu tranh sử dụng bạo lực nào chống lại chính quyền của một bộ phận sinh viên, ông đã cố gắng tìm một giải pháp hòa bình cho sự căng thẳng giữa sinh viên và chính phủ. Bất bạo động đã được định hình rõ nét trong thông điệp của ông. Vào ngày 04 tháng 6, ông và bạn bè đã cố gắng để ngăn chặn một cuộc đụng độ giữa quân đội và các sinh viên. Nỗ lực của ông chỉ thành công một phần. Nhiều người đã chết, hầu hết ở bên ngoài Thiên An Môn.

Lưu đã nói với vợ rằng ông muốn Giải Nobel Hòa bình năm nay sẽ được dành riêng cho “những linh hồn đã mất từ ngày 04 tháng 6”. Đây là một niềm vui cho chúng ta khi giúp ông hoàn thành mơ ước của mình.

Lưu nói: “Sự vĩ đại của tranh đấu bất bạo động là ngay cả khi phải đối mặt với bạo quyền chuyên chế gây ra bao đau khổ, nạn nhân sẽ đáp lại sự thù ghét bằng tình yêu, định kiến bằng lòng khoan dung, kiêu ngạo bằng sự khiêm nhường, đáp lại tình trạng hạ nhục nhân phẩm bằng phẩm giá và trả lời bạo lực bằng lẽ phải”.

Thiên An Môn đã trở nên một bước ngoặt trong cuộc đời Lưu Hiểu Ba.

Năm 1996, ông Lưu bị kết án ba năm lao động cải tạo cho tội “gây rối trật tự công cộng”. Từ 2003–2007, ông là chủ tịch của Trung tâm văn bút Trung Hoa – một tổ chức độc lập. Ông Lưu đã viết gần 800 bài tiểu luận, trong đó có 499 bài ra đời từ năm 2005. Ông là một trong những kiến trúc sư trưởng của Hiến chương 08 – được thực hiện và phổ biến rộng rãi vào ngày 10 tháng 12 năm 2008 – trong lời nói đầu của tài liệu này có đoạn “nhân dịp kỷ niệm đệ nhất bách chu niên Hiến pháp đầu tiên của Trung Quốc ra đời, kỷ niệm 60 năm việc ban hành Tuyên ngôn về Nhân quyền, kỷ niệm 30 năm xây dựng Bức tường Dân chủ và kỷ niệm lần thứ 10 việc chính phủ Trung Quốc ký Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị”. Hiến chương 08 bảo vệ các quyền cơ bản của con người và được hàng nghìn người Trung Quốc cả trong và ngoài nước ký tên hưởng ứng.

Ngày 25 tháng 12 năm 2009, ông Lưu đã bị kết án 11 năm tù giam và 2 năm bị tước các quyền chính trị vì tội "kích động lật đổ chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa và nền chuyên chính dân chủ của nhân dân". Ông đã liên tục tuyên bố bản án này vi phạm chính hiến pháp Trung Quốc và những quyền cơ bản của con người.

Có nhiều nhà bất đồng chính kiến ở Trung Quốc và quan điểm của họ có nhiều chỗ khác biệt. Các hình phạt nặng đối với ông Lưu làm cho ông ngày càng trở nên như một phát ngôn nhân đáng chú ý của phong trào đòi các quyền con người. Thực tế trong một sớm một chiều, ông đã trở thành biểu tượng lớn – ở cả Trung Quốc và trên bình diện quốc tế – của cuộc đấu tranh cho các quyền đó ở Trung Quốc.

Tâu bệ hạ và hoàng hậu, thưa quý bà, quý ông,

Trong thời chiến tranh lạnh, người ta tranh cãi về các mối liên kết giữa hòa bình và nhân quyền. Tuy nhiên, kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh, các nhà nghiên cứu hòa bình và các nhà khoa học chính trị hầu như đã thiếu nhấn mạnh thường xuyên cách mà các liên kết đó liên hệ mật thiết với nhau như thế nào. Đây được cho là một trong những phát hiện "mạnh mẽ" nhằm đạt được các giá trị trên. Các nền dân chủ có thể đi đến chỗ chiến tranh chống lại các chế độ độc tài, và tất nhiên phải tiến hành các cuộc chiến thuộc địa, nhưng hình như không có tiền lệ nào cho thấy một nền dân chủ đã phải đi tới chiến tranh chống lại nền dân chủ khác.

Cần hiểu sâu sắc hơn "tình huynh đệ giữa các quốc gia" mà Alfred Nobel đã đề cập trong di chúc của mình và đó là một điều kiện tiên quyết để có hòa bình thực sự – điều khó có thể được tạo ra mà không có nhân quyền và dân chủ.

Lịch sử thế giới hiếm có ví dụ nào tương tự về một siêu cường đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng như vậy trong một khoảng thời gian như Trung Quốc. Bắt đầu từ 1978, cứ mỗi năm, mỗi thập kỷ, tỷ lệ tăng trưởng của đất nước này giữ vững ở mức 10% hoặc cao hơn. Một vài năm trước đây, sản lượng quốc gia của Trung Quốc đã lớn hơn của Đức và năm nay nó vượt cả Nhật Bản. Trung Quốc đã đạt được vị trí số hai thế giới về tổng sản phẩm quốc gia. Sản phẩm quốc gia của Hoa Kỳ vẫn còn lớn gấp 3 lần Trung Quốc, nhưng trong khi Trung Quốc đang tiếp tục con đường tăng trưởng của mình thì Hoa Kỳ lại là một trong những khó khăn nghiêm trọng.

Kinh tế thành công đã giúp cho hàng trăm triệu người Trung Quốc thoát cảnh đói nghèo. Đối với việc giảm số người nghèo trên thế giới, Trung Quốc phải có được sự tín nhiệm hoàn toàn.

Chúng ta có thể đi đến mức khẳng định rằng Trung Quốc với 1,3 tỷ dân của mình, chính là nó đang mang số phận của nhân loại trên vai. Nếu nước này chứng tỏ có khả năng phát triển một nền kinh tế thị trường xã hội với đầy đủ các quyền dân sự, điều này sẽ hứa hẹn một triển vọng rất lớn tác động đến cả thế giới. Bằng không, tồn tại nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trong đất nước này, mà hậu quả tiêu cực sẽ giáng lên tất cả chúng ta.

Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta lý do để tin rằng việc tiếp tục phát triển kinh tế nhanh chóng bao hàm những cơ hội cho tự do tư tưởng, tự do nghiên cứu và tự do tranh luận. Hơn thế nữa, không có tự do ngôn luận, thì tham nhũng, lạm quyền và vô tổ chức sẽ tràn lan. Mỗi hệ thống quyền lực phải tạo được thế đối trọng dưới sự kiểm soát của người dân qua bầu cử, truyền thông tự do và quyền biểu tình, phản biện của công dân.

Không ít thì nhiều các nước dưới chế độ độc tài có thể tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, nhưng không phải ngẫu nhiên mà gần như tất cả các quốc gia giàu nhất thế giới đều theo chế độ dân chủ. Dân chủ mới có thể huy động các nguồn lực mới từ con người và công nghệ.

Vị thế mới đòi hỏi Trung Quốc phải gia tăng trách nhiệm. Trung Quốc phải được chuẩn bị cho những tiếng nói phản biện và phải coi đó là điều tích cực – như là một cơ hội để ngày càng tiến bộ. Bất cứ cường quốc nào cũng phải thực hiện theo cách này. Điển hình, chúng ta có đầy đủ, cụ thể các đánh giá về vai trò của Hoa Kỳ trong những năm qua. Bạn bè và đồng minh đã chỉ trích siêu cường này trong cả cuộc chiến Việt Nam lẫn việc phân biệt đối xử với người da màu trong các quyền dân sự. Nhiều người Mỹ đã phản đối Giải Nobel Hòa bình được trao cho Martin Luther King năm 1964. Nhìn lại, chúng ta có thể thấy Hoa Kỳ càng lớn mạnh hơn khi những người Mỹ gốc Phi có được quyền của họ.

Nhiều người sẽ đặt câu hỏi về sự yếu kém của Trung Quốc – thay vì là tất cả sức mạnh quốc gia hiện có – không cho thấy sự cần thiết phải bỏ tù một con người những 11 năm chỉ vì anh ta đã thể hiện ý kiến của mình về cách thức mà anh ta nghĩ rằng đất nước của mình nên đi theo.

Có thể tìm thấy điểm yếu này thể hiện rõ ràng trong bản án dành cho ông Lưu, điểm được nhấn mạnh là đặc biệt nghiêm trọng chính là vì ông đã phát tán ý kiến của mình trên Internet. Nhưng điều đó còn khiến những người lo lắng cho sự tiến bộ công nghệ có mọi lý do để lo sợ cho tương lai. Công nghệ thông tin không thể bị xóa sổ. Nó sẽ tiếp tục mở ra các giai tầng xã hội. Như Tổng thống Nga Dmitrij Medvedev đã phát biểu về nó trên trang web của Viện Duma: "Công nghệ thông tin cho chúng ta cơ hội để kết nối với thế giới. Thế giới và xã hội vẫn cứ đang ngày càng cởi mở hơn ngay cả khi giới cầm quyền không thích nó".

Không còn nghi ngờ gì nữa, ông Medvedev đã luôn mang số phận của Liên Xô trong tâm trí. Sự thống nhất một cách cưỡng bách và kiểm soát tư tưởng hòng ngăn cản đất nước tham gia vào cuộc cách mạng công nghệ diễn ra trong những thập niên 1970 và 1980. Chế độ ấy đã sụp đổ. Đất nước vẫn đứng vững để đạt tới một vận hội lớn hơn khi bước vào giai đoạn đối thoại với những con người như Andrej Sakharov.

Tâu bệ hạ và hoàng hậu, thưa quý bà, quý ông,

Ngày nay, không phải chính phủ quốc gia cũng không phải phe đa số trong các chính phủ quốc gia ấy có quyền lực không giới hạn. Nhân quyền đã giới hạn những gì mà các chính phủ quốc gia hoặc phe đa số trong một chính phủ quốc gia có thể làm. Điều này phải được áp dụng cho tất cả các nước là thành viên của Liên Hiệp Quốc và những ai đã tán thành Tuyên ngôn về Nhân quyền. Trung Quốc đã ký kết và thậm chí phê chuẩn nhiều công ước quốc tế quan trọng về quyền con người của Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Điều thú vị nữa là Trung Quốc đã chấp nhận cơ chế giải quyết xung đột siêu quốc gia khi gia nhập WTO.

Bản thân Hiến pháp của Trung Quốc duy trì các quyền cơ bản của con người. Điều 35 của hiến pháp này chỉ ra rằng: “Công dân của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được hưởng tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, tuần hành và biểu tình”. Điều 41 bắt đầu rằng công dân “…có quyền phê bình và đóng góp ý kiến đối với bất kỳ cơ quan nhà nước hay cán bộ nhà nước nào”.

Ông Lưu đã thi hành quyền công dân của mình. Ông đã không làm gì sai cả. Do đó, ông ấy phải được trả tự do ngay lập tức!

Trong 100–150 năm qua, nhân quyền và dân chủ đã giành được một vị trí mạnh mẽ hơn bao giờ hết trên thế giới. Và cùng với các giá trị này, là hòa bình. Điều này có thể trông thấy rõ ở châu Âu, nơi từng có rất nhiều cuộc chiến tranh đã diễn ra, và là nơi khởi đầu của các thế lực thực dân gây ra nhiều cuộc chiến khắp thế giới. Cả châu Âu ngày nay là một lục địa của “hòa bình”. Phi thực dân hóa sau Thế chiến thứ hai đã giúp cho một số quốc gia, đầu tiên ở châu Á và sau đó ở Châu Phi, có cơ hội tự trị với cam kết tôn trọng các quyền cơ bản của con người. Nhiều quốc gia đã nắm chắc lấy cơ hội, trong đó Ấn Độ dẫn đầu. Qua những thập kỷ gần đây nhất, chúng ta đã thấy các nền dân chủ đã củng cố vị thế của mình ở châu Mỹ Latinh, ở Trung và Đông Âu như thế nào. Nhiều quốc gia thuộc thế giới Hồi giáo đều đang bước đi cùng một con đường (dân chủ): Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Malaysia. Một số nước khác cũng đang trong tiến trình mở cửa hệ thống chính trị của họ.

Các nhà hoạt động nhân quyền tại Trung Quốc là những người bảo vệ trật tự quốc tế và các xu hướng chính trong cộng đồng toàn cầu. Với cái nhìn trong ánh sáng như vậy, thì họ không còn là các nhà bất đồng chính kiến, nhưng là đại diện cho hàng ngũ tiên phong cho công cuộc phát triển thế giới hôm nay.

Ông Lưu phủ nhận sự chỉ trích nhắm vào đảng Cộng sản đồng nghĩa với sự xúc phạm đến đất nước và nhân dân Trung Quốc. Ông cho rằng: “Ngay cả nếu đảng Cộng sản đang là đảng cầm quyền, nó không thể được đánh đồng với đất nước, nó phải tách biệt với quốc gia và nền văn hóa dân tộc”. Sự thay đổi ở Trung Quốc có thể mất thời gian, một thời gian rất dài để cải cách chính trị, như ông Lưu nói “được dần dần hòa bình, trật tự và kiểm soát”. Trung Quốc đã có đủ các nỗ lực nhằm thay đổi cách mạng. Chúng chỉ dẫn đến sự hỗn loạn. Tuy nhiên, như ông Lưu cũng viết: “Một biến đổi to lớn hướng tới tính đa nguyên trong xã hội đã xảy ra, và nhà cầm quyền không còn có thể hoàn toàn kiểm soát toàn xã hội”. Tuy nhiên, sức mạnh của chế độ có thể còn lớn, mỗi cá nhân riêng lẻ phải làm hết sức mình để sống “một cuộc sống trung thực với tất cả phẩm giá của mình”, nguyên văn lời nói của Lưu Hiểu Ba.

Đáp lại, nhà chức trách Trung Quốc tuyên bố rằng Giải Nobel Hòa bình năm nay làm nhục Trung Quốc và cung cấp những mô tả hết sức xúc phạm về ông Lưu.

Lịch sử cho thấy nhiều ví dụ về các nhà lãnh đạo chính trị lợi dụng xúc cảm dân tộc và cố gắng “biến thành… quỷ” tất cả những ai có ý kiến ngược lại với mình. Họ nhanh chóng trở thành “tay chân” của các thế lực nước ngoài. Điều này đôi khi còn diễn ra nhân danh tự do và dân chủ, nhưng hầu như luôn luôn có một kết cục bi thảm.

Chúng ta thừa nhận điều này trong luận điệu của cuộc chiến chống khủng bố: “Chỉ có thể theo ta hoặc là chống lại ta”. Các cách thức không dân chủ như là tra tấn và bỏ tù mà không xét xử đã từng được sử dụng nhân danh tự do. Việc này chỉ khiến cho thế giới phân cực lớn hơn và làm hại cuộc chiến chống khủng bố.

Lưu Hiểu Ba là một người lạc quan, mặc dù nhiều năm sống trong tù. Trong kháng cáo gửi cho tòa ngày 23 tháng 12 năm 2009, ông nói: “Tôi, với tất cả sự lạc quan, trông mong sự ra đời của một tương lai tự do cho Trung Quốc. Cho không có lực lượng nào có thể chấm dứt cuộc tìm kiếm nhân lực cho nền tự do và cuối cùng Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia pháp quyền, nơi mà quyền con người mới là sự cai trị tối cao”.

Isaac Newton đã từng nói: “Nếu tôi có nhìn thấy xa hơn, đó là bằng cách đứng trên vai những người khổng lồ”. Khi chúng ta có thể nhìn về phía trước ngày hôm nay, đó là nhờ chúng ta đang đứng trên vai của nhiều người đàn ông và đàn bà, những người trong những năm qua – thường đang trong tình thế rất nguy hiểm – đã dám đứng vững trên những gì họ tin vào và do đó, nền tự do của chúng ta mới có thể được thực hiện.

Vậy thì, trong khi những người khác vào lúc này đang bận đếm tiền, đang tập trung hoàn toàn vào những lợi ích quốc gia ngắn hạn của họ, hoặc đang còn thờ ơ, thì Ủy ban Nobel Na Uy đã một lần nữa chọn cách ủng hộ những chiến binh – cho tất cả chúng ta.

Chúng tôi chúc mừng ông Lưu Hiểu Ba, người nhận Giải Nobel Hòa bình năm 2010. Quan điểm của ông sau cùng sẽ đưa Trung Quốc trở nên vững mạnh. Chúng tôi xin gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến ông và Trung Quốc trong những tháng năm phía trước.

Quốc Ngọc dịch từ Ibtimes

Đường sống của Tolstoi – một thời khó sống

SGTT.VN - Nước Nga ngày nay đã lãng quên Lev Tolstoi. Ngày giỗ thứ 100 của Lev Tolstoi trôi qua giữa mùa đông lạnh lẽo của nước Nga và sự hờ hững của nhiều người.

Chân dung Tolstoi qua nét vẽ của Repin.

Đó là ghi nhận của AFP ngày 20.11. Trong khi đó thì cả thế giới, đặc biệt những người được thừa hưởng những giá trị giáo dục từ nền văn hoá Nga trong quá khứ, đang có nhiều hoạt động tưởng nhớ đại văn hào này.

Tại Hà Nội, nơi mà diện mạo xã hội một thời (và cho đến hôm nay) được định hình từ những nhóm trí thức được đào tạo từ Nga, đã có nhiều hoạt động hội thảo, triển lãm quan trọng về Tolstoi. Một trong những ý tưởng quan trọng xuyên suốt mọi hoạt động tưởng nhớ ngày mất của Tolstoi tại Việt Nam: muộn màng ghi nhận Tolstoi không chỉ trong tư cách văn hào, tác giả của những tiểu thuyết kinh điển đồ sộ như Chiến tranh và hoà bình, Anna Karenina… mà còn là một nhà tư tưởng.

Cuốn sách gần 1.200 trang có tên Đường sống (*), tập hợp những văn thư và nghị luận chọn lọc được viết vào những năm cuối cuộc đời suy tưởng, khắc kỷ và khép kín của đại văn hào này đã kịp dịch và cho ra mắt độc giả Việt Nam, cung cấp thêm cái nhìn về một “Tolstoi-ism” (trước đây, tại Việt Nam đã từng xuất hiện bản dịch cuốn Tự thú, do Đỗ Tư Nghĩa chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh Confession của David Patterson cũng là một bổ sung về khía cạnh này).

Trong Đường sống, độc giả nhận ra Tolstoi là một nhà lý thuyết về giáo dục vĩ đại. Nhiều tư tưởng của ông có tính tiên tri về xu hướng mà những nhà dân chủ giáo dục theo đuổi về sau. Ông chống lại những chính sách giáo dục cưỡng bách mà các nhà nước áp đặt trên dân chúng. Theo ông, nhà trường trong trường hợp này trở thành nơi truyền dạy đạo đức giả, giết chết niềm hứng thú tiếp nhận tri thức và sáng tạo nơi người học, “làm méo mó trường kỳ những năng lực trí tuệ”, làm cho trẻ em bị “tách biệt khỏi những điều kiện cần thiết để phát triển mà chính thiên nhiên ban cho nó”.

Nhìn thấy ở nhà trường là công cụ “ngu dân dễ trị” cũng như nhồi sọ tư tưởng mà một số chính phủ thời đó tiến hành, biến người học thành những “bán sinh vật”, Tolstoi viết: “Cái trạng thái tâm lý kỳ quặc mà tôi gọi là trạng thái học đường của tâm hồn, chúng ta rất đáng tiếc đều biết rõ là cái trạng thái khi mà mọi năng lực cao cấp như tưởng tượng, sáng tạo, suy luận đều nhường chỗ cho những năng lực nào đó khác bán sinh vật: phát ra những âm không liên quan gì đến tưởng tượng, đếm những con số đứng liền nhau 1, 2, 3, 4, 5, cảm nhận những từ ngữ không liên tưởng với bất kỳ hình tượng nào; tóm lại, nó là một năng lực đàn áp ở trong bản thân mọi năng lực cao cấp chỉ để phát triển những năng lực phù hợp với trạng thái nhà trường như nỗi sợ sệt, sự căng thẳng đầu óc và thói chăm chú”.

Ông đề xuất một chế độ giáo dục tôn trọng thiên hướng tự nhiên của con người, đó là tự do chọn lựa tri thức và yêu thương. Một chế độ giáo dục tạo nên những con người khác biệt, có trang bị để chủ động trong cuộc sống.

Một trong những thông điệp quan trọng của cuốn sách này bên cạnh giáo dục, là bàn về khả năng ứng phó với những áp chế chính trị, cái ác, bạo lực. Ông chủ trương hành xử bất hợp tác trong một tương giao bất bạo động, tuân thủ một lương tâm hoà bình “mà thượng đế đặt vào” trong mỗi người (tư tưởng này gần với Gandhi).

Nhưng cũng chính tinh thần Kitô giáo đậm đặc trong những luận thuyết về tự do, chân lý, cứu cánh cuộc sống đó, mà triết thuyết của Tolstoi đã trở thành mục tiêu tấn công của nhiều triết gia, văn nghệ sĩ đương thời, có lẽ nặng nề nhất là Friedrich Nietzsche (trong tác phẩm Antichrist, Nietzsche cho rằng cùng với Wagner, Tolstoi là biểu hiện của sự suy đồi trong nền văn học nghệ thuật).

Đối lập tư cách là một nhà văn được toàn thế giới ngưỡng mộ, Tolstoi là nhà tư tưởng rất đơn độc, với nghĩa “kẻ đi đường hẹp” (theo cách nói của Kinh Thánh) khi cánh tả lẫn cánh hữu đều có lý do để chống ông. Có một điều, những kẻ chống ông từ nhỏ nhẹ đến hung hăng nhất, từ tế nhị đến hồ đồ nhất đều quên rằng, tư tưởng vốn là một hành trình, không phải là một đích đến đã được định vị, bất di bất dịch; tư tưởng chính là dấn thân đặt ra những câu hỏi gợi mở chứ không phải là những câu trả lời tất định. Thật đáng quý, chúng ta tiếp nhận được thái độ khiêm tốn thông tuệ của ông qua tương tác thư từ của Tolsoi với những người cùng thời như Gandhi, Soloviev, Turgenev, Henrik Sienkiewicz hay Romain Rolland…

Đứng trong viễn tượng của một kỷ nguyên hỗn loạn, đa nguyên để nhìn về Tolstoi, chúng ta nhận ra vẻ hiền minh, nhỏ nhẹ của một nhà nhân văn sâu sắc, mang cái lý tưởng về một nhân loại hoà bình, bình đẳng, biết tôn trọng điều thiện, sự thật, những giá trị lương tâm. Ở khía cạnh này, Tolstoi với tư cách một nhà tư tưởng, dù bị đâu đó lãng quên, vẫn không là kẻ “cô đơn trên con đường hẹp” khi mà nhân loại đang không ngừng phản tư trên con “đường sống”, chứ không chỉ biết “mê tín” văn minh hay quyền lực.

Nguyễn Vĩnh Nguyên

(*) Phạm Vĩnh Cư tuyển dịch, giới thiệu và chú giải, với sự tham gia của nhóm dịch giả Lã Nguyên, Vũ Thế Khôi, Từ Thị Loan, Nguyễn Thị Kim Hiền, NXB Tri Thức, 2010

Monday, 13 December 2010

Bài này ly kì

Những trò thay trắng đổi đen của Trần Đại Quang – Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công An, ứng cử viên hàng đầu cho vị trí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao khóa tới

Nhóm Nhà Báo vì Công Lý - Những ngày gần đây, dư luận xã hội xôn xao về một thông tin, chiếc xe Bentley (có giá trị gần 6 tỷ đồng, được xếp vào hàng “siêu xe”) biển số 80B-6986 lại do một đơn vị kinh doanh là Công ty cổ phần Bia Sài Gòn đứng tên. Vấn đề mà dư luận quan tâm là chiếc xe này thuộc ngạch kinh doanh, theo quy định đeo biển trắng, lại nghiễm nhiên đeo biển xanh – 80B- biển số cơ quan nhà nước. Vì sao, xe của Chủ tịch một công ty cổ phần lẽ ra phải gắn biển trắng của dân thương trường lại được gắn biển xanh 80 B của cơ quan Nhà nước?

Luật quy định chỉ xe công của các cơ quan trung ương mới có biển số xanh, tại sao, và bằng con đường nào, chiếc xe một công ty cổ phần lại cũng có tấm biển xanh “quyền quí” ấy. Không chỉ có siêu xe này, còn rất nhiều những chiếc xe bạc tỷ khác cũng được ưu ái như vậy, mà chủ nhân của chúng không ai khác, là các đại gia lắm tiền nhiều của. Sự “thay trắng” đổi “ra xanh” ở đây của các siêu xe phải chăng đã dễ dàng thành hiện thực bởi cái nạn “lót tay” “chạy biển số” hay không? Vậy ai đã tiếp tay cho hành vi sai trái này?

Đến tháng 10/2010, Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng đã chính thức ra tay, ra văn bản đề nghị Ban Thường vụ Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương chỉ đạo kiểm tra việc cấp biển số xanh 80B. Tuy nhiên, vụ việc lại một lần nữa rơi vào quên lãng. Điều đáng nói, sau các bài báo phanh phui sự thật này, một số phóng viên lại nhận được những lời “khuyến nghị” từ một số cán bộ an ninh, không nên tiếp tục đăng bài về “siêu xe biển xanh”. Dư luận thực sự hoang mang, nhân vật quyền lực nào đang đứng đằng sau, dám coi thường kỷ cương phép nước, dám qua mặt cả Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Bộ Công An.

Trần Đại Quang

Việc “đổi trắng ra xanh” công khai sai trái lần này gây sự phản ứng bất bình trong làng báo phóng sự cả nước. Đương nhiên, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, sự thật dần dần hé lộ về nhân vật quyền lực đứng trong bóng tối. Và người đã trực tiếp phê tay cấp biển xanh cho hàng trăm doanh nghiệp, không ai khác chính là Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công An, ứng cử viên hàng đầu cho vị trí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao khóa tới, ông Trần Đại Quang.

Nhắc đến ông Trần Đại Quang, các đại gia, các doanh nghiệp cỡ lớn không ai là không biết đến, bởi ông Trần Đại Quang là người chịu chơi, sòng phẳng và “biết” sử dụng quyền lực của mình. Điều đáng nói ở đây là mối quan hệ của ông với các doanh nghiệp là ở chổ “đôi bên cùng có lợi”. Ông ra tay tạo điều kiện, chạy đất, chạy dự án cho doanh nghiệp, đổi lại, các đại gia lắm tiền nhiều của phải ra sức vận động hành lang cho con đường hoạn lộ trong sự nghiệp chính trị của ông. Năm 2007, giới bất động sản bất ngờ trước việc Tập đoàn Keangnam của Hàn Quốc vượt qua đối thủ nặng ký từ Nhật Bản là tập đoàn Riviera của Nhật Bản giành lấy dự án khách sạn 500 triệu đô tại khu đất vàng gần Trung tâm hội nghị quốc gia. Ít ai biết được rằng ông Trần Đại Quang chính là người đứng đằng sau hỗ trợ cho Trần Đăng Khoa (tức Khoa Khàn, đối tượng bị truy nã quốc tế được ông Quang làm sạch hồ sơ), tổ chức lo lót vận động mang dự án này về cho phía Hàn Quốc. Chính Khoa Khàn đã từng tuyên bố với mọi người rằng, để lấy được dự án này, đã phải chi cho “ông anh kết nghĩa” cả triệu đô.

Đinh Văn Hùng

Tên tuổi của ông Trần Đại Quang còn gắn liền với một vị bí thư tỉnh ủy vừa mới bị kỷ luật cách chức, đó là ông Đinh Văn Hùng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình. Người dân Ninh Bình vô cùng thắc mắc và bất bình, tại sao trong gần 2 nhiệm kỳ lãnh đạo tỉnh của mình (một nhiệm kỳ chủ tịch tỉnh, một nhiệm kỳ bí thư), ông Hùng có rất nhiều sai phạm nặng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, có nhiều quyết định sai trái tư lợi cá nhân về đất đai mà không hề bị xử lý. Đã có hàng trăm đơn thư khiếu nại tố cáo được gửi ra Trung ương, trong đó có Bộ Công An, mà sự việc vẫn bị chìm xuồng cho đến tận ngày nay. Ai đã tiếp tay bao che cho sự lộng hành của Đinh Văn Hùng?

Không còn ai khác, chính ông Trần Đại Quang là người lo lót bao che cho ông Hùng ở Trung ương, lý do bí ẩn đằng sau chính là việc ông Hùng có công ơn với ông Trần Đại Quang, khi ký văn bản xác nhận một cách sai nguyên tắc, “phù phép” ông Quang “trẻ ra” 6 tuổi, nhằm tiếp tục đủ điều kiện được đề bạt lên các vị trí cao hơn.

Năm 2004, các cán bộ Tổng cục An ninh – Bộ Công An hoàn toàn bất ngờ khi biết tin ông Trần Đại Quang ngang nhiên thay đổi hồ sơ lý lịch của mình, từ sinh năm 1950 thành sinh năm 1956, mục đích cuối cùng là “đủ trẻ” để được xét đề bạt vào vị trí Thứ trưởng Bộ Công An. Toàn bộ việc thay đổi lý lịch được ông Đại Quang lo lót che chắn, hợp lý hóa bằng các văn bản xác nhận của địa phương.

Tuy nhiên, văn bản xác nhận của UBND tỉnh Ninh Bình do ông Chủ tịch Đinh Văn Hùng ký không hề căn cứ trên một cơ sở xác minh nào của cơ quan chức năng, cũng không kèm với bất cứ giấy tờ gốc nào, và dĩ nhiên, văn bản xác nhận này là hoàn toàn sai nguyên tắc và không có giá trị pháp lý. Người dân ở xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình hoàn toàn biết về tuổi thật của ông Quang. Sau quá trình thay tên đổi tuổi, có một nghịch lý diễn ra trong gia đình ông Quang khi vợ già hơn chồng vài tuổi, con cháu trong nhà phải thay đổi cách xưng hô. Việc này người dân xung quanh không ai là không biết.

Điều mâu thuẫn là, nếu căn cứ vào hồ sơ gốc để khẳng định ông Quang sinh năm 1956, thì ông Quang đã căn cứ vào hồ sơ nào để có thể tồn tại ở Bộ Công An đến gần ba chục năm. Nhóm phóng viên thực hiện phóng sự điều tra này hoàn toàn có đủ hồ sơ giấy tờ khẳng định rằng ông Trần Đại Quang sinh năm 1950 chứ không phải 1956 như ông sửa đổi trong lý lịch hiện nay. Bên cạnh đó, một câu hỏi được đặt ra là tại sao thời điểm ông thực hiện thay đổi năm sinh của mình không phải là vài chục năm trước, phải chăng là vì chạy tuổi, tâm lý sợ về hưu, tham quyền cố vị, ham hố lợi ích cá nhân. Chỉ bằng một văn bản không có căn cứ để thay tên đổi tuổi một con người, thử hỏi còn đâu là kỷ cương phép nước.

Coi thường pháp luật, chạy tuổi, chạy đất, không những thế, ông Quang còn sử dụng các doanh nghiệp lắm tiền nhiều của để vận động cho mình được đề bạt vào các vị trí cao hơn. Theo các nguồn tin tin cậy chúng tôi nhận được, ông Quang là ứng cử viên hàng đầu cho chức Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao khóa tới. Ở vị trí quyền cao chức trọng đó, ông Quang sẽ còn thay trắng đổi đen, thao túng luật pháp đến mức nào nữa.

Những kẻ cơ hội, thoái hóa biến chất như ông Trần Đại Quang, Đinh Văn Hùng cần phải được loại bỏ, nếu tiếp tục chui sâu leo cao trong chính quyền, thì thử hỏi đất nước này sẽ đi về đâu.

Nhóm Nhà Báo vì Công Lý

Thursday, 9 December 2010

Chủ nghĩa xã hội là gì?

Leszek Kolakowsi - Trần Quốc Việt dịch

Chúng tôi định nói cho bạn biết chủ nghĩa xã hội là gì. Nhưng trước tiên chúng tôi phải nói cho bạn biết chủ nghĩa xã hội không phải là gì đã – và quan điểm của chúng tôi ngày xưa về vấn đề này đã rất khác với quan điểm hiện nay.

Vậy sau đây chủ nghĩa xã hội không phải là:

- xã hội nơi người không phạm tội gì ngồi ở nhà chờ công an đến;
- xã hội nơi người ta có tội vì là anh chị em, con, hay vợ của tội phạm;
- xã hội nơi nhiều người đau khổ vì họ nói ra điều họ nghĩ còn những người khác lại đau khổ vì họ không nói;
- xã hội nơi có nhiều người khá lên nhờ họ hoàn toàn chẳng suy nghĩ gì;
- xã hội nơi nhiều người đau khổ vì họ là người Do Thái còn những người khác hạnh phúc hơn vì họ không phải là người Do Thái;
- nhà nước nơi bộ đội là những người đầu tiên đặt chân lên lãnh thổ nước khác;
- nhà nước nơi người ta khá lên nhờ họ biết khen ngợi lãnh đạo;
- nhà nước nơi người ta có thể bị kết án mà không cần xét xử.
- xã hội nơi các nhà lãnh đạo tự phong lẫn nhau;
- xã hội nơi mười người sống trong một phòng;
- xã hội có những cơn dịch bệnh và dịch mù chữ;
- nhà nước không cho phép đi ra nước ngoài;
- nhà nước có nhiều gián điệp hơn y tá và nhà tù có nhiều chỗ trống hơn bênh viện;
- nhà nước nơi số lượng cán bộ tăng nhanh hơn số lượng công nhân viên;
- nhà nước nơi người dân buộc phải nói láo;
- nhà nước nơi người dân buộc phải ăn cắp;
- nhà nước nơi người dân buộc phải phạm tội;
- nhà nước sở hữu thuộc địa;
- nhà nước nơi nước láng giềng của họ nguyền rủa địa lý;
- nhà nước sản xuất ra máy bay phản lực siêu phàm và những đôi giày quá tệ;
- nhà nước nơi những kẻ hèn nhát lại khá hơn những người can đảm;
- nhà nước nơi luật sư biện hộ thường đồng ý với công tố;
- nhà nước độc đoán, nhà nước do nhóm nhỏ cầm quyền, nhà nước quan liêu;
- xã hội nơi đại đa số nhân dân hướng về Chúa để an ủi họ trong cảnh khổ;
- nhà nước trao các giải văn học cho những nhà văn quèn bất tài và là nhà nước biết rõ hơn các hoạ sĩ tranh nào là kiệt tác;
- quốc gia thống trị quốc gia khác;
- quốc gia bị quốc gia khác thống trị;
- nhà nước muốn tất cả các công dân của mình đều có cùng quan điểm về triết học, chính sách ngoại giao, kinh tế, văn học, và đạo đức;
- nhà nước quyết định các quyền của công dân nhưng các công dân không được quyết định các quyền của nhà nước;
- nhà nước nơi người ta chịu trách nhiệm về tổ tiên của mình;
- nhà nước nơi có người có thu nhập cao hơn bốn mươi lần người khác;
- là hệ thống chính quyền bị đa số người dân ghét;
- một quốc gia bị cô lập;
- nhóm các quốc gia kém phát triễn;
- nhà nước xử dụng các khẩu hiệu đề cao dân tộc;
-nhà nước nơi chính quyền tin rằng không có gì quan trọng bằng việc mình phải nắm được quyền hành;
- nhà nước ký kết hiệp ước với các tội phạm và thay đổi thế giới quan của nhà nước theo các hiệp ước này;
- nhà nước muốn bộ ngoại giao hình thành thế giới quan cho tất cả nhân loại ở một thời điểm nhất định;
- nhà nước không phân biệt giỏi lắm giữa nô lệ và giải phóng;
- nhà nước hoàn toàn cho phép ủng hộ kỳ thị chủng tộc,
- nhà nước hiện đang tồn tại;
- nhà nước có quyền tư hữu phuơng tiện sản xuât;
- nhà nước coi mình là nhà nước xã hội chủ nghĩa vì nhà nước đã xoá bỏ tư hữu phương tiện sản xuất;
- nhà nước không phân biệt giỏi lắm giữa cách mạng xã hội và xâm lược vũ trang;
- nhà nước không tin rằng nhân dân dưới chủ nghĩa xã hội nên hạnh phúc hơn nhân dân ở các nơi khác;
- xã hội rất buồn;
- hệ thống các giai cấp;
- nhà nước nơi chính quyền luôn luôn biết ý muốn của nhân dân trước khi hỏi ý kiến của nhân dân;
- nơi người dân có thể bị xô đẩy, bị nhục mạ, và bị bạc đãi mà nhà nước không bị trừng phạt;
- nhà nước nơi áp đặt quan điểm nhất định về lịch sử thế giới,
- nhà nước nơi các triết gia và nhà văn luôn luôn nói những điều giống như các vị tướng và bộ trưởng nói, nhưng luôn luôn nói sau khi các vị tướng và bộ trưởng đã nói trước;
- nhà nước nơi các bản đồ thành phố là bí mật quốc gia;
- nhà nước nơi kết quả các cuộc bầu cử quốc hội có thể luôn luôn được tiên đoán không bao giờ sai;
- nhà nước nơi lao động như nô lệ tồn tại;
- nhà nước nơi các mối quan hệ phong kiến tồn tại;
- nhà nước độc quyền cho người dân biết tất cả những gì họ cần biết về thế giới;
- nhà nước nghĩ tự do có nghĩa là phục tùng nhà nước;
- nhà nước không thấy sự khác biệt giữa những gì là sự thật và những gì vì quyền lợi của nhà nước nhân dân phải tin theo;
- nhà nước nơi người ta có thể tuỳ tiện chuyển toàn bộ quốc gia từ nơi này đến nơi khác;
- nhà nước nơi công nhân không có ảnh hưởng gì đối với chính quyền;
- nhà nước cho rằng chỉ có nhà nước mới có thể cứu được nhân loại;
- nhà nước cho rằng nhà nước luôn luôn đúng;
- nhà nước nơi lịch sử phục vụ chính trị;
- nhà nước nơi công dân không được phép đọc các kiệt tác văn học đương thời, hay xem các kiệt tác nghệ thuật đương thời, hay nghe kiệt tác âm nhạc đương thời;
- nhà nước cực kỳ tự mãn;
- nhà nước tuyên bố thế giới rất phức tạp, nhưng thật ra lại tin rằng thế giới rất đơn giản;
- nhà nước nơi ta phải trải qua rất nhiều đau đớn trước khi ta gặp được bác sĩ;
-nhà nước có kẻ ăn xin;
- nhà nước tin tưởng chắc chắn rằng không có ai đã từng có thể phát minh ra được điều gì tốt hơn;
- nhà nước tin rằng tất cả mọi người đều tôn sùng nhà nước, mặc dù ngược lại mới đúng;
- nhà nước cai trị theo nguyên tắc dân ghét cũng chẳng sao miễn là dân phải sợ;
- nhà nước quyết định ai có thể phê bình và phê bình như thế nào;
- nhà nước nơi ta mỗi ngày được yêu cầu nói ngược lại điều ta đã nói ngày hôm trước nhưng vẫn tin rằng ta luôn luôn nói cùng một điều;
- nhà nước hoàn toàn không thích khi công dân đọc báo cũ;
- nhà nước nơi kẻ dốt thành học giả;
- nhà nước nơi nội dung của tất cả các tờ báo đều giống y như nhau;
-nhà nước nơi chính quyền muốn kiểm soát tất cả các hình thức tổ chức xã hội;
- nhà nước nơi có nhiều người ngay thẳng và can đảm, nhưng nghiên cứu về chính trị của chính quyền sẽ không cho phép ta khám phá ra điều này;
- nhà nước hoàn toàn không thích khi các học giả phân tích chế độ, nhưng lại rất vui khi các kẻ nịnh hót phân tích chế độ;
- nhà nước luôn luôn biết rõ hơn các công dân hạnh phúc của mỗi công dân nằm ở đâu;
-nhà nước, dù không hy sinh bất kỳ điều gì cho những nguyên tắc cao hơn, lại tin rằng nhà nước là ánh sáng soi đường cho sự tiến bộ.

Thế là xong phần thứ nhất. Bây giờ, hãy chú ý, vì chúng tôi sẽ cho bạn biết chủ nghĩa xã hội là gì. Chủ nghĩa xã hội là như thế này:
Chủ nghĩa xã hội là hệ thống mà… Nhưng có ích gì khi đi sâu vào tất cả các chi tiết này? Thôi nói thế này với nhau cho dễ hiểu: chủ nghĩa xã hội quả thực là quá tuyệt.

*

Lời người dịch: Leszek Kolakowsi (1927-2009) là một triết gia Ba Lan nổi tiếng thế giới, có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào phản kháng ở Đông Âu, đặc biệt tại Ba Lan. Ông bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Ba Lan năm 1966 và bị cấm dạy tại Đại học Warsaw năm 1968, sau khi ông phê phán chủ nghĩa Stalin qua các bài viết được lưu hành bí mật. Từ đó ông bắt đầu cuộc đời lưu vong, và lần luợt giảng dạy tại các đại học như Berkeley, Yale, Chicago, và cuối cùng Oxford. Trong năm thập niên, ông viết hơn 30 cuốn sách, chủ yếu về triết học, nổi bật nhất và có tầm ảnh hưởng lớn nhất là bộ sách 3 tập, Main Currents of Marxism: Its Rise, Growth and Dissolution (1976). Tác phẩm này là “giấy khai tử” về trí thức của tư tưởng Mác-xít viết ra 13 năm trước khi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu đi vào nghĩa trang lịch sử năm 1989. Các nhà lãnh đạo phong đoàn Công đoàn Đoàn kết tranh đấu bền bỉ dựa trên các tư tưởng chống Mác-xít của ông. Ông nhận được rất nhiều giải thưởng lớn, là người đầu tiện nhận Giải thưởng John W. Kluge, trị giá 1 triệu đô-la, được xem như là Giải Nobel cho các ngành nhân văn và xã hội. Ông là “người đánh thức hy vọng của con người” và là một Socrates của Ba Lan trong thế kỷ hai mươi.

Tác phẩm dưới đây được tác giả viết vào năm 1956 cho tờ tuần báo sinh viên. Toàn bộ bài bị kiểm duyệt. Sau đó báo bị đình bản. Sinh viên liền dán bài trên bản thông báo của trường đại học Warsaw, nhưng liền bị gỡ xuống ngay. Từ đấy bài được chép tay và lưu hành rộng rãi.

Tác giả nhận xét: ” Dù ngắn, tác phẩm châm biếm này đủ dài để khích thích sự giận dữ của những nhà lãnh đạo đảng cộng sản – điều đáng tự hào.”

Độc giả có thể đọc bài viết khác của tác giả nhan đề ” Chủ nghĩa xã hội còn lại gì ” trên trang mạng Talawas blog cũng cùng người dịch.

_______________

Nguồn: Tác phẩm “My Correct Views on Everything“, nhà xuất bản St.Augustine’s Press, ấn bản năm 2010, trang 62-65

Wednesday, 8 December 2010

Vì sao Marx, Engels không dùng từ “xã hội chủ nghĩa”?

Đăng bởi bvnpost on 07/12/2010

Tống Văn Công

"Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta". Ý này trong Dự thảo văn kiện Đại hội 11 đã không được sự đồng thuận xã hội. Nhiều đảng viên cộng sản cũng tỏ ý không tán thành. Giáo sư, tiến sĩ Dương Phú Hiệp góp ý: Cương lĩnh chỉ nên nêu ra những việc phải thực hiện trong 20 năm. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa biết bao lâu mới tới, có thể cả 100 năm. Chủ nghĩa xã hội "bao gồm thực hiện chuyên chính vô sản, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tiến hành đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa 2 con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản để giải quyết vấn đề "ai thắng ai" đều là những nội dung mà hiện nay Đảng không dùng nữa, không còn nói nữa. Khi những nội dung cơ bản đó chúng ta không dùng thì tại sao vẫn dùng khái niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vì nhân dân đã khốn khổ về những nội dung nói trên". Theo ông Dương Phú Hiệp, nên bỏ cụm từ “xã hội chủ nghĩa” mà nhân dân đã vì nó mà khốn khổ và chỉ nên gọi là Cương lĩnh phát triển đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu.

Hóa ra vấn đề "đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng…" nếu không nói là không tưởng thì cũng vô cùng duy ý chí, vì nêu ra mà không biết bao giờ mới tới, vậy mà lại gây chia rẽ gay gắt trong Đảng và trong dân tộc.

Nếu "Đi lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa là khát vọng của dân tộc" thì tại sao từ 1940 đến 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ nêu ra để vận động nhân dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945? Cương lĩnh Mặt trận Việt Minh không hứa hẹn đáp ứng "khát vọng" đó? Mười lăm năm sau, Cương lĩnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cũng không hứa hẹn đáp ứng "khát vọng" đó?

Dân tộc ta không có một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng như dân tộc Pháp với Charles Fourier, như dân tộc Anh với A. Robert Owen. Ngay người Trung Hoa láng giềng nếu muốn nói về khát vọng xã hội chủ nghĩa không tưởng thì họ còn có tập sách Ghi chép ở suối Hoa Đào của Đào Tiềm miêu tả cuộc sống bình đẳng hạnh phúc do ông ấy tưởng tượng ra. Việt Nam ta chỉ có chuyện tình lãng mạn Từ Thức gặp tiên, nhưng cuối cùng Từ Thức nhớ trần gian quá phải bỏ tiên trở về trần!

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Di chúc: "Mong ước cuối cùng của tôi là thực hiện được một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Như vậy là Cụ Hồ chỉ coi xã hội chủ nghĩa chỉ là phương tiện chứ không phải cứu cánh, trong trái tim Cụ Hồ chỉ có độc lập, dân chủ.

Nhân đây xin kể chuyện vì sao Marx và Engels đã không dùng từ xã hội chủ nghĩa để đặt tên Cương lĩnh của phong trào công nhân (tức là bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản). Trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 ở Luân Đôn, Engels viết: "Chúng tôi không thể gọi nó là Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa được. Năm 1847, người ta thường dùng từ xã hội chủ nghĩa, một mặt để gọi những người theo các hệ thống không tưởng như phái A.R. Owen ở Anh, phái Ch. Fourier ở Pháp, là những phái hiện chỉ còn đang sống ngoắc ngoải. Mặt khác, người ta dùng để gọi những tên lang băm xã hội đủ các cỡ, chúng hứa sẽ không làm hại gì đến nhà tư bản và lợi nhuận của họ, mà vẫn chữa khỏi mọi tệ nạn xã hội bằng đủ mọi biện pháp vá víu". Năm 1890, trong một bài viết khác, Engels lặp lại gần như nguyên văn đoạn vừa kể trên và nói thêm: "Trong cả hai trường hợp, họ đều là những kẻ sống ngoài phong trào công nhân và thật ra họ chỉ đi tìm chỗ dựa ở phía các giai cấp "có văn hóa"”, và "Năm 1847, chủ nghĩa xã hội có nghĩa là một phong trào tư sản, còn chủ nghĩa cộng sản là một phong trào công nhân. Chủ nghĩa xã hội đã "ra mắt thiên hạ" rồi, ít ra là ở trên lục địa, còn chủ nghĩa cộng sản thì trái hẳn lại".

Vì sao hai ông lấy từ cộng sản để đặt tên cho Tuyên ngôn đảng cộng sản? Engels cho biết, "có một bộ phận công nhân tự mệnh danh là những người cộng sản". Ông cho rằng "Đó là một chủ nghĩa cộng sản mới phát họa ra, hoàn toàn bản năng, đôi khi còn thô kệch, nhưng nó cho thấy được cái căn bản và tỏ ra mạnh mẽ…".

Như vậy năm 1848, Marx và Engels không dùng từ chủ nghĩa xã hội để đặt tên cho Tuyên ngôn là vì nó hàm chứa nội dung không thích hợp, không được số đông công nhân lao động tin theo. Từ cộng sản chỉ do một bộ phận tự xưng, chưa được phổ biến rộng rãi, nhưng không có tì vết hoen ố. Ngày nay, từ chủ nghĩa xã hội và cả từ cộng sản đều hàm chứa nội dung không thích hợp, cả hai từ này đều đã bị hoen ố nhiều lần: Cả nhân dân Liên Xô và nhân dân các nước Đông Âu vùng lên xóa bỏ nó. Ở nước ta, đúng như ông Dương Phú Hiệp nhận định, chủ nghĩa xã hội gợi lên những cuộc đấu tố trong cải cách ruộng đất, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong vụ Nhân văn, Giai phẩm, những vụ án xử tù Vua lốp ngoài Bắc, bà Tuyết Minh trong Nam. Nó khiến cho hằng triệu người Việt vượt biển rời bỏ Tổ Quốc! Có những người chủ trương tìm cho chủ nghĩa xã hội một nội dung mới để cố duy trì nó, nhưng hằng chục năm vẫn chưa thể tìm ra! Tuy nhiên, mỗi từ ngữ khi ra đời đều mang khái niệm mà nó đã hàm chứa nội dung miêu tả cuộc sống của thời ấy, không thể hồi sinh nó bằng cách đánh tráo một khái niệm khác!

Nội dung lớn của Tuyên ngôn cộng sản do hai bộ óc vĩ đại viết cũng không phải có thể thích hợp với mọi thời đại. Ngay từ năm 1872, trong Lời nói đầu cho bản Tuyên ngôn tiếng Đức, Marx và Engels đã viết "Chính ngay Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đó không nên quá câu nệ những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối Chương II. Đoạn này, nếu ngày nay viết lại thì về nhiều mặt cũng phải viết lại khác đi. Vì đại công nghiệp đã có những tiến bộ hết sức lớn trong hai mươi lăm năm qua và giai cấp công nhân cũng đạt được những tiến bộ song song…". Ở Chương IV, hai ông cũng cho rằng "trong chi tiết, những nhận định ấy đã cũ rồi, vì tình hình chính trị đã hoàn toàn thay đổi".

Năm 1890, kể lại chuyện chuẩn bị cho việc thành lập Hội Liên hiệp Lao động quốc tế, Engels viết: "Hội có mục đích đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân có tinh thần chiến đấu ở Âu châu và Mỹ châu thành một đạo quân to lớn duy nhất. Cho nên Hội không thể xuất phát trực tiếp từ những nguyên lý trong bản Tuyên ngôn cộng sản được. (Bởi vì) Hội cần phải có một Cương lĩnh không đóng cửa đối với những Hội Công liên ở Anh, đối với phái Pierre Joseph Proudhon ở Pháp, Bỉ, Ý và Tây Ban Nha và đối với cả phái F. Lassalle ở Đức nữa. Cương lĩnh ấy – tức là lời nói đầu trong Điều lệ của Quốc tế – là do Marx thảo ra với một biệt tài mà ngay cả Bacunin và những người vô chính phủ cũng phải khâm phục".

Qua những câu chuyện kể trên, chúng ta thấy Marx và Engels coi trọng thực tiễn và lòng người biết chừng nào trong việc soạn thảo các bản Tuyên ngôn và Cương lĩnh. Dù vậy, các ông vẫn cho rằng mỗi bước tiến của thực tế còn hơn một tá Cương lĩnh. Ngày nay, chúng ta những kẻ hậu sinh hơn 150 năm, sao vẫn muốn nhìn thế giới vừa mới xảy ra Cách mạng năm 1917?!

Nhiều văn kiện của Đảng đều nhắc rằng phải Đổi mới toàn diện và Đổi mới chính trị phải theo kịp Đổi mới kinh tế. Tuy nhiên cho đến nay hệ thống chính trị hầu như không có gì khác trước đổi mới! Đó chính là nguyên nhân đẻ ra đủ thứ tệ nạn làm suy yếu nhà nước và mất uy tín của Đảng. Xin nhắc lại một ý kiến của Engels viết ngày 28-6-1883 cho Lời tựa bản Tuyên ngôn in bằng tiếng Đức, khi Marx vừa mất mấy tháng: "Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của Tuyên ngôn là: Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy".

Ý kiến đó giúp chúng ta nhận thức rằng, nền kinh tế thị trường lớn mạnh đang từng ngày phá bung chiếc áo "cơ cấu xã hội" đã cũ nát!

Ngày 5 -12 – 2010

Tương lai quyền lực Mỹ


Đăng bởi bvnpost on 08/12/2010

(Một cái nhìn toàn cảnh về sức mạnh khống chế và sự suy yếu của Hoa Kỳ)

Joseph S. Nye Jr.

imageForeign Affairs, Nov/Dec 2010

JOSEPH S. NYE, JR. là giáo sư đại học Harvard. Nhiều phần trong bài tiểu luận này được rút ra từ sách sắp xuất bản, Tương lai quyền lực (The Future of Power) do nhà xuất bản Public Affairs, năm 2011.

Thế kỷ 21 bắt đầu với sự phân bố không đồng đều các nguồn lực. Với năm phần trăm dân số thế giới, Hoa Kỳ tạo ra khoảng một phần tư sản lượng kinh tế thế giới, có ngân sách quốc phòng gần bằng một nửa chi phí quân sự toàn cầu, và nắm các nguồn quyền lực mềm về văn hóa và giáo dục rộng lớn nhất. Tất cả điều này vẫn còn đúng, nhưng tương lai quyền lực của Hoa Kỳ đang được tranh luận sôi nổi. Nhiều nhà quan sát thời cuộc lý giải rằng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đánh dấu bước khởi đầu cho sự xuống dốc của Hoa Kỳ. Hội đồng Tình báo Quốc gia [của chính phủ Hoa Kỳ] dự kiến rằng vào năm 2025, "Hoa Kỳ vẫn còn là siêu cường, nhưng sức mạnh khống chế của Hoa Kỳ sẽ suy giảm nhiều".

Quyền lực là khả năng đạt được những thành quả mong muốn, và các tài nguyên tạo ra quyền lực thay đổi trong những bối cảnh khác nhau. Tây Ban Nha trong thế kỷ 16 lợi dụng quyền kiểm soát các thuộc địa và vàng nén, Hoà Lan trong thế kỷ 17 hưởng được lợi thế thương mại và tài chính, Pháp trong thế kỷ 18 nhờ vào dân số đông và các đội quân hùng mạnh, và Vương quốc Anh trong thế kỷ 19 xây dựng quyền lực từ ưu thế của mình trong cuộc Cách mạng công nghiệp và lực lượng hải quân. Thế kỷ này được đánh dấu bằng một cuộc cách mạng bùng phát trong công nghệ thông tin và toàn cầu hóa, và để hiểu rõ cuộc cách mạng này, ta cần phải tránh một số cạm bẫy lý luận.

Trước hết, ta phải cảnh giác những ẩn dụ lệch lạc về một cuộc thoái hóa hữu cơ (organic decline). Các quốc gia không giống như những con người, với tuổi thọ có thể tiên đoán được. Đế quốc La Mã vẫn còn giữ được ưu thế suốt hơn ba thế kỷ sau khi kinh qua đỉnh cao quyền lực, và kể cả lúc đó họ cũng không chịu khuất phục trước sự vươn dậy của một quốc gia khác. Dù có những tiên đoán thời thượng về khả năng Trung Quốc, Ấn Độ hay Brazil có thể vượt qua Hoa Kỳ trong thập niên tới, nhưng một mối đe dọa lớn hơn có thể đến từ bọn man rợ hiện đại (modern barbarians) và các tác nhân phi nhà nước. [vụ Wikileaks gần đây là một trường hợp điển hình, ND.] Trong một thế giới dựa trên sức mạnh thông tin, sự phân tán quyền lực (power diffusion) có thể đặt ra một nguy cơ lớn hơn sự chuyển dịch quyền lực (power transition). Cứ lẽ thường, quốc gia nào có đội quân mạnh nhất thì sẽ chiến thắng, nhưng trong thời đại thông tin, quốc gia nào (hoặc tác nhân phi nhà nước nào) có thông tin hấp dẫn nhất đôi khi lại chiến thắng.

Quyền lực ngày nay được phân bố theo một mô hình giống như một ván cờ diễn ra trên ba chiều phức tạp. Ở bàn cờ cao nhất, quyền lực quân sự chủ yếu là đơn cực (unipolar), và Hoa Kỳ có khả năng giữ được địa vị siêu cường quân sự trong một thời gian khá dài. Ở bàn cờ chính giữa, quyền lực kinh tế đã trở nên đa cực trong hơn một thập niên qua, với Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc thủ các vai chính và các nước khác đang trở nên quan trọng hơn. Bàn cờ thấp nhất là lãnh vực của các quan hệ xuyên quốc gia. Nó bao gồm các tác nhân phi nhà nước đa dạng như các chủ ngân hàng chuyển ngân khoản bằng điện tử, bọn khủng bố buôn lậu vũ khí, bọn tin tặc đe dọa an ninh mạng và các thách thức như dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Trên bàn cờ thấp nhất này, quyền lực được phân tán rộng rãi và thật là vô nghĩa khi ta nói đến đơn cực, đa cực hay bá quyền.

Trong lãnh vực chính trị giữa các quốc gia, yếu tố quan trọng nhất sẽ là sự phục hồi địa của châu Á trên sân khấu thế giới. Năm 1750, châu Á đã chiếm hơn một nửa dân số thế giới và sản lượng kinh tế thế giới. Khoảng trước năm 1900, tiếp theo sau cuộc Cách mạng công nghiệp ở châu Âu và Hoa Kỳ, sản lượng kinh tế của châu Á giảm xuống còn một phần năm của thế giới. Đến năm 2050, châu Á sẽ vững bước trên con đường khôi phục lại sản lượng mà nó từng đạt được trong lịch sử. Sự vươn dậy của Trung Quốc và Ấn Độ có thể tạo ra bất ổn, nhưng đây là một vấn đề đã có tiền lệ, và lịch sử cho thấy các chính sách có thể ảnh hưởng tới thành quả.

Sự suy yếu của bá quyền?

Đem sức mạnh của Hoa Kỳ ra ví với sức mạnh của Vương quốc Anh một thế kỷ trước để rồi tiên đoán một sự suy tàn bá quyền tương tự là cách nói thời thượng hiện nay. Một số người Mỹ đang phản ứng đầy cảm tính trước ý niệm về một sự xuống dốc của đất nước mình. Nhưng nếu tin rằng Hoa Kỳ sẽ mãi mãi sở đắc vượt trỗi các nguồn lực, thì đó là một quan điểm vừa phi lý vừa phi lịch sử. Từ "suy yếu" (decline) làm lẫn lộn hai ý niệm khác nhau: suy yếu tuyệt đối, theo nghĩa tan rã (decay), và suy yếu tương đối, theo nghĩa là các tài nguyên tạo ra quyền lực của các nước khác tăng lên hoặc được sử dụng hiệu quả hơn.

Đem so sự suy yếu của Hoa Kỳ với sự xuống dốc của Anh là sai lầm. Vương quốc Anh đã là một siêu cường hải quân và là một đế quốc trên đó mặt trời không bao giờ lặn, nhưng trong khoảng Thế chiến thứ nhất, nước này chỉ đứng thứ tư trong các đại cường về quân số, đứng thứ tư về GDP, và thứ ba về chi tiêu quốc phòng. Với sự vùng lên của chủ nghĩa dân tộc, việc bảo vệ một đế quốc rộng lớn đã trở thành một gánh nặng hơn là một sản nghiệp. Dù người ta có nói về một đế quốc Mỹ chăng nữa, Hoa Kỳ vẫn có nhiều tự do hành động hơn Vương quốc Anh trước đây. Và trong khi Anh phải đối phó với các nước láng giềng đang trổi dậy, đó là Đức và Nga, thì Hoa Kỳ có lợi thế được hai đại dương bao bọc và những nước láng giềng yếu kém hơn.

Dù có những khác biệt như vậy, người Mỹ vẫn trải qua những chu kỳ trong đó họ đã tin rằng sự xuống dốc của Hoa Kỳ đã gần kề. Những vị cha già lập quốc (the Founding Fathers) đã từng lo lắng vì những đặc tính tương đồng với cộng hòa La Mã. Một thế kỷ rưỡi về trước, Charles Dickens đã nhận xét: “Nếu lời của từng cá nhân người Mỹ đáng để cho ta tin, thì Hoa Kỳ luôn luôn bị trầm cảm, luôn luôn bế tắc, luôn luôn ở trong một cuộc khủng hoảng đáng báo động, và chẳng bao giờ khác hơn”. Trong nửa thế kỷ qua, có thêm nhiều người Mỹ đã tin vào sự xuống dốc của Hoa Kỳ sau khi Liên Xô phóng tàu vũ trụ Sputnik năm 1957, sau những điều chỉnh chính sách kinh tế của tổng thống Richard Nixon và các cú sốc dầu lửa trong thập niên 70 của thế kỷ trước, và sau loạt đóng cửa nhiều công nghiệp ở vùng đông và đông bắc Hoa Kỳ (the rust belt) và tình trạng thâm thủng ngân sách dưới thời Reagan. Nhưng 10 năm sau đó, người Mỹ lại tin rằng nước Mỹ là siêu cường duy nhất, và bây giờ các cuộc thăm dò lại cho biết nhiều người Mỹ nghĩ rằng Hoa Kỳ đang suy yếu trở lại.

Giới học giả than phiền việc chính quyền Washington không kiểm soát được những quốc gia như Afghanistan hay Iran. Nhưng họ đã để ánh hào quang của dĩ vãng chi phối sự đánh giá tình hình hiện nay. Sức mạnh của Hoa Kỳ không còn như trước, nhưng thực sự sức mạnh đó chẳng bao giờ vĩ đại như người ta tưởng. Sau Thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ có vũ khí hạt nhân và một ưu thế khống chế bằng sức mạnh kinh tế nhưng lại không thể ngăn cản được “sự mất” nước Trung Hoa vào tay cộng sản, không thể đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, không thể vượt qua bế tắc trong chiến tranh Triều Tiên, không thể ngăn chặn “sự mất” Miền Bắc Việt Nam, hay lật đổ chế độ Castro ở Cuba. Quyền lực được đo bằng tài nguyên hiếm khi tương đồng với quyền lực được đo bằng những thành quả mong muốn, và các chu kỳ của niềm tin tưởng cho rằng một quốc gia đang xuống dốc nói lên một sự kiện tâm lý hơn là các biến đổi thực sự trong các nguồn tài nguyên tạo ra quyền lực. Đáng tiếc là, những tin tưởng lệch lạc về sự xuống dốc này – cả trong nước và ngoài nước – có thể dẫn tới những sai lầm nguy hiểm trong chính sách.

Trung Quốc đang trổi dậy

Hơn một thập niên nay, nhiều người đã coi Trung Quốc là địch thủ có khả năng nhất để quân bình lực lượng với Hoa Kỳ hay vượt qua Hoa Kỳ. Một số người đã rút ra những tương đồng với sự thách thức mà đế chế Đức đã đặt ra cho Vương quốc Anh vào đầu thế kỷ trước. Một cuốn sách mới xuất bản (của Martin Jacques) thậm chí lấy tựa đề Khi Trung Quốc cai trị thế giới: Sự kết thúc của thế giới phương Tây và sự ra đời của một trật tự toàn cầu mới. Goldman Sachs đã tiên đoán rằng toàn bộ kinh tế Trung Quốc sẽ vượt trổi hơn toàn bộ kinh tế Hoa Kỳ vào năm 2027.

Tuy nhiên, còn lâu Trung Quốc mới có được các nguồn lực ngang hàng với Hoa Kỳ, và Trung Quốc vẫn còn đối diện với nhiều chướng ngại trên con đường phát triển. Cho dù toàn bộ GDP của Trung Quốc có vượt qua GDP của Hoa Kỳ vào năm 2030 chăng nữa, thì hai nền kinh tế, mặc dù tương đương về tầm cỡ, cũng không hề tương đương về cấu trúc. Trung Quốc vẫn còn một vùng nông thôn rộng lớn kém phát triển và còn phải bắt đầu đối diện với các vấn đề dân số do hậu quả đến chậm của chính sách một con. Chỉ có lợi tức đầu người (per capita income) mới cung cấp được một thước đo về sự tinh vi của một nền kinh tế. Cứ giả định mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc là 6 phần trăm và của Hoa Kỳ là 2 phần trăm sau năm 2030, thì mãi đến khoảng giữa thế kỷ này Trung Quốc mới ngang hàng với Hoa Kỳ về lợi tức đầu người. Nói thế khác, mức tăng trưởng kinh tế rất ấn tượng và sự gia tăng dân số của Trung Quốc có khả năng giúp kinh tế Trung Quốc qua mặt kinh tế Hoa Kỳ về tổng sản lượng trong vài thập niên tới, nhưng điều này không đồng nghĩa với một sự bình đẳng.

Ngoài ra, những đự doán về một sự tăng trưởng đều đặn là có thể sai lầm, vì tốc độ tăng trưởng thường chậm lại khi một nền kinh tế đạt được mức phát triển cao hơn. Hệ thống chính trị độc tài của Trung Quốc đã chứng tỏ một khả năng ấn tượng trong việc sử dụng quyền lực quốc gia, nhưng liệu chính phủ có duy trì được khả năng này trong trường kỳ hay không thì vẫn còn là một điều bí ẩn đối với thế giới bên ngoài và với cả giới lãnh đạo Trung Quốc. Khác hẳn với Ấn Độ, một quốc gia được khai sinh với một bản hiến pháp dân chủ, Trung Quốc vẫn chưa tìm ra đường lối để giải quyết vần đề liên quan đến những đòi hỏi tham gia chính chị của người dân (nếu không muốn nói đến vấn đề dân chủ), những đòi hỏi này thường đi theo với lợi tức đầu người đang gia tăng. Liệu Trung Quốc có thể phát triển được một công thức để quản lý giai cấp trung lưu thành thị đang trở nên đông đảo, tình trạng bất quân bình giữa các vùng, nạn nghèo đói ở nông thôn, và sự bất mãn của các dân tộc ít người là một vấn đề cần phải chờ xem.

Một số người tranh luận rằng Trung Quốc quyết thách thức địa vị của Hoa Kỳ ở châu Á và, sau cùng, ở khắp thế giới. Cho dù đây là một đánh giá chính xác về các ý định của Trung Quốc đi nữa (và với sự kiện người Trung Quốc không biết được quan điểm của các thế hệ tương lai), thì vẫn không mấy ai tin được được rằng Trung Quốc có đủ khả năng quân sự để thực hiện ý định này trong một tương lai gần. Hơn nữa, lãnh đạo Trung Quốc còn phải đương đầu với phản ứng của những nước khác và với những hạn chế được đặt ra do nhu cầu của Trung Quốc cần phải tìm thị trường và nguồn lực ở nước ngoài. Một lập trường quân sự quá hung hăng của Trung Quốc có thể dẫn đến một liên minh gồm các nước láng giềng chống lại Trung Quốc, một liên minh có thể làm suy yếu cả quyền lực cứng lẫn quyền lực mềm của Trung Quốc.

Sự trỗi dậy của quyền lực Trung Quốc tại châu Á bị cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản (cũng như nhiều quốc gia khác) phản ứng lại, và bản thân việc này đã tạo cho Hoa Kỳ một lợi thế quyền lực quan trọng ở trong vùng. Liên minh Mỹ-Nhật và sự cải thiện quan hệ Mỹ-Ấn có nghĩa là Trung Quốc không thể trục xuất người Mỹ ra khỏi châu Á dễ dàng. Từ thế mạnh đó, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, cùng nhiều quốc gia khác, có thể đối thoại với Trung Quốc và đưa ra những quyền lợi nhằm khuyến khích Trung Quốc đóng một vai trò có trách nhiệm, đồng thời đề phòng khả năng Trung Quốc trở nên hung hăng khi thấy quyền lực của mình đủ mạnh.

Sự mục rã từ bên trong?

Một số người cho rằng Hoa Kỳ bị suy yếu vì “bành trướng đế quốc quá rộng”, nhưng cho đến nay, các sự thật diễn ra không chứng minh được lý thuyết này. Trái lại, trong nhiều thập niên qua, các chi phí quốc phòng và ngoại giao đã giảm bớt nếu xét như một tỉ lệ [phần trăm] của GDP. Tuy nhiên, Hoa Kỳ có thể suy yếu không phải vì bành trướng đế quốc quá rộng lớn, nhưng vì những bất cập nội bộ. Đế quốc La Mã bị mục nát từ bên trong, và một số nhà quan sát, vì nhận thấy tình trạng tồi tệ trong chính trị nội bội của Hoa Kỳ hiện nay, đã tiên đoán rằng Hoa Kỳ có thể mất khả năng ảnh hưởng lên các biến cố thế giới chỉ vì những tranh chấp về văn hóa, vì sự sụp đổ của các định chế chính trị và nạn đình đốn kinh tế. Người ta không thể loại trừ khả năng này, nhưng các chiều hướng của tình hình hiện nay không diễn ra rõ nét như tâm trạng u buồn của người dân cho thấy. Mặc dù Hoa Kỳ có nhiều vấn đề xã hội – và luôn luôn có vấn đề xã hội – nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy chúng luôn luôn trở nên tồi tệ theo một trình tự đường thẳng. Thậm chí một số vấn đề còn được cải thiện, như các tỉ lệ tội phạm, ly dị và thanh thiếu niên mang thai. Mặc dù có những tranh chấp văn hóa về các vấn đề như hôn nhân đồng giới tính và phá thai, nhưng các cuộc thăm dò cho thấy, nói chung, xã hội đang trở nên bao dung hơn. Xã hội dân sự sinh hoạt mạnh mẽ, và số người đi nhà thờ vẫn đông đảo, đến những 42 phần trăm. Những trận chiến văn hoá trong lịch sử Hoa Kỳ về các vấn đề như di dân, chế độ nô lệ, thuyết tiến hoá, cấm rượu, chủ nghĩa chống cộng cực đoan (McCarthyism), và các vấn đề dân quyền còn nghiêm trọng hơn các vấn đề hiện nay rất nhiều.

Một vấn đề nghiêm trọng hơn sẽ xuất hiện nếu quốc gia này bắt đầu có thái độ hướng nội và nghiêm khắc hạn chế số người nhập cư. Với mức độ di dân hiện nay, Hoa Kỳ là một trong vài quốc gia phát triển có thể tránh được nạn suy thoái dân số và duy trì được tỉ lệ so với dân số thế giới, nhưng điều này có thể thay đổi nếu thái độ bài ngoại hay những phản ứng chống lại chủ nghĩa khủng bố đưa đến việc đóng cửa biên giới. Tỉ lệ dân số sinh ở nước ngoài tại Hoa Kỳ đạt đỉnh cao của thế kỷ 20, vào năm 1910, là 14,7 phần trăm. Ngày nay, 11,7 phần trăm dân số Hoa Kỳ được sinh ra ở nước ngoài. Nhưng điều đáng nói là, vào năm 2009 có đến 50 phần trăm dân Mỹ ủng hộ việc cắt giảm số người nhập cư, nhảy lên từ con số 39 phần trăm năm 2008.

Mặc dầu một tốc độ nhập cư quá ào ạt có thể tạo ra nhiều vấn đề xã hội, nhưng qua trường kỳ, việc nhận người nhập cư lại tăng thêm quyền lực của Hoa Kỳ. Hiện nay, Hoa Kỳ là nước có dân số lớn thứ ba thế giới; 50 năm sau, rất có thể dân số Hoa Kỳ vẫn đứng thứ ba (sau Ấn Độ và Trung Quốc). Không những điều này liên quan tới sức mạnh kinh tế, nhưng trong bối cảnh hầu hết các quốc gia phát triển đều có dân số đang già nua và sẽ đối phó gánh nặng cấp dưỡng cho thế hệ già, thì việc thu nhận thêm người nhập cư lại có thể giảm bớt những gai góc trong vấn đề chính sách liên hệ. Ngoài ra, người ta thấy có một tương quan mật thiết giữ con số thị thực nhập cảnh H-1B [dành cho chuyên viên nước ngoài, ND] và số bằng sáng chế được đăng ký tại Hoa Kỳ. Năm 1998, các kỹ sư gốc Trung Hoa và Ấn Độ điều hành một phần tư số doanh nghiệp công nghệ cao tại Silicon Valley (Thung lũng điện tử), và năm 2005, tư liệu cho thấy một phần tư số hãng công nghệ mới khai trương tại Hoa Kỳ trong thập niên qua là do sự đóng góp của người di dân.

Những lợi điểm của chính sách nhập cư cũng quan trọng không kém đối với việc xây dựng quyền lực mềm của Hoa Kỳ. Được thu hút vì nhìn thấy sự thăng tiến xã hội của những người nhập cư tại Mỹ, nhiều người khác cũng muốn đến sinh sống tại Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là một tảng nam châm, và nhiều người có dự định trở thành công dân Mỹ. Nhiều người Mỹ thành công cũng có diện mạo giống như người của các nước khác. Thay vì làm suy giảm quyền lực cứng và quyền lực mềm, chính sách nhập cư tại Hoa Kỳ đã tăng cường cả hai. Khi Lý Quang Diệu của Singapore kết luận rằng Trung Quốc không thể vượt qua Hoa Kỳ để trở thành cường quốc lãnh đạo thế kỷ 21, ông ta đã dẫn chứng khả năng của Hoa Kỳ trong việc thu hút những người giỏi nhất và thông minh nhất từ những nơi khác trên thế giới và giúp họ hội nhập vào một nền văn hóa đa dạng đầy tính sáng tạo. Trung Quốc có một dân số lớn hơn, nhờ đó có thể tuyển mộ nhân tài từ trong nước, nhưng theo ông Lý Quang Diệu, cái văn hóa lấy Trung Quốc làm rốn của vũ trụ này sẽ làm cho Trung Quốc kém sáng tạo hơn Hoa Kỳ, một quốc gia thu hút nhân tài từ mọi nơi trên thế giới.

Mặt khác, một sự tê liệt trong sinh hoạt kinh tế Hoa Kỳ sẽ chấm dứt luôn sinh hoạt kinh tế toàn cầu. Nên nhớ rằng những dự báo kinh tế vĩ mô (cũng như dự báo thời tiết) là không đáng tin cậy, theo đó tiến độ tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ trong thập niên tiếp theo sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 có vẻ là chậm chạp hơn. Quĩ tiền tế quốc tế (IMF) dự kiến Hoa Kỳ có mức tăng trưởng kinh tế trung bình là 2 phần trăm vào năm 2014. Mức tăng trưởng này là thấp hơn tỉ lệ tăng trưởng trung bình trong nhiều thập niên qua nhưng suýt soát với tỉ lệ tăng trưởng trung bình trong 10 năm qua.

Trong thập niên 1980, nhiều nhà quan sát cho rằng kinh tế Hoa Kỳ đã hết năng lực và rằng Đức và Nhật Bản đang vượt qua Hoa Kỳ. Vào lúc đó, nước Mỹ có vẻ như đã mất lợi thế cạnh tranh. Ngày nay, Diễn đàn kinh tế thế giới (the World Economic Forum) đã xếp Hoa Kỳ đứng hạng tư (sau Thụy Sĩ, Thụy Điển, và Singapore) về khả năng cạnh tranh toàn cầu. (Trung Quốc, trong bản so sánh, được xếp hạng 27). Hoa Kỳ dẫn đầu nhiều khu vực phát triển mới mẻ, như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, và công nghệ nano (nanotechnology). Và cho dù những người lạc quan thường viện dẫn ưu thế của Hoa Kỳ trong việc sản xuất và sử dụng công nghệ thông tin, nhưng ngành này không phải là khu vực duy nhất tạo ra năng suất của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã có những sáng kiến nông nghiệp rất ý nghĩa, và thái độ cởi mở của Hoa Kỳ đối với tiến trình toàn cầu hóa, nếu tiến trình này còn tiếp tục, cũng sẽ đẩy mạnh năng suất cao hơn nữa. Các chuyên gia kinh tế tiên đoán rằng mức độ gia tăng năng suất của Hoa Kỳ sẽ nằm trong khoảng 1,5 đến 2,25 phần trăm trong thập niên tới.

Xét về nỗ lực đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới năm 2007, với ngân khoản 369 tỉ đôla, tiếp đến là toàn bộ châu Á (338 tỉ đôla) và Liên minh châu Âu (263 tỉ đôla). Hoa Kỳ chi tiêu 2,7 phần trăm GDP vào nghiên cứu và phát triển, gần gấp đôi tỉ lệ phần trăm GDP mà Trung Quốc đã chi tiêu (nhưng hơi ở dưới tỉ lệ 3 phần trăm GDP của Nhật Bản và Nam Hàn). Năm 2007, giới đầu tư Mỹ đăng ký khoảng 80.000 bằng sáng chế tại Hoa Kỳ, tức nhiều hơn tổng số của phần thế giới còn lại. Một số tin tức bày tỏ mối lo ngại về những những vấn đề như thuế suất đánh vào các công ty quá cao, nạn thất thoát vốn nhân lực, và số bằng sáng chế ở nước ngoài đang tăng lên, nhưng các hãng quản lý vốn kinh doanh (venture capital firms) đầu tư 70 phần trăm tiền của mình vào các công ty mới thành lập trong nước. Một nghiên cứu của Tổ chức theo dõi doanh nhân toàn cầu (Global Entrepreneurship Monitor) đã xếp Hoa Kỳ đứng trước các nước khác về cơ hội phát triển doanh nghiệp bởi vì Hoa Kỳ có một văn hoá doanh nghiệp thuận lợi, có công nghiệp vốn kinh doanh (venture capital industry) trưởng thành, quan hệ thiết thân giữa đại học và công nghiệp, và một chính sách nhập cư cởi mở.

Những quan ngại khác về tương lai kinh tế Hoa Kỳ tập trung vào nạn thâm thủng tài khoản hiện nay (mức thâm thủng hiện nay cho thấy dân Mỹ ngày càng thiếu nợ người nước ngoài) và nợ chính phủ đang gia tăng. Theo lời của sử gia Niall Ferguson: “Đây là cách các đế quốc trở nên suy yếu. Nó bắt đầu bằng sự bùng nổ nợ nần”. Không những gói cứu nguy ngân hàng và kích cầu kinh tế gần đây làm tăng thêm quốc trái của Hoa Kỳ, mà những chi phí ngày càng lên cao về y tế và các chương trình lợi ích công dân như An sinh xã hội, cùng với chi phí ngày càng lên cao của việc vay mượn và trả tiền lời, sẽ lấy mất những ngân khoản lớn trong lợi tức quốc gia tương lai. Những nhà quan sát khác thì ít báo động hơn. Họ cho rằng trường hợp Hoa Kỳ không giống như trường hợp Hy Lạp.

Phòng ngân sách quốc hội Hoa Kỳ tính rằng toàn bộ nợ chính phủ sẽ lên đến100 phần trăm GDP khoảng năm 2023. Cứ lẽ thường, nhiều nhà kinh tế bắt đầu lo lắng khi những mức nợ tại các nước giàu vượt quá 90 phần trăm GDP. Nhưng như tờ The Economist vạch ra vào tháng Sáu vừa qua, “Hoa Kỳ có hai lợi thế rất to lớn so với các nước khác, những lợi thế đã cho phép quốc gia này đối diện nợ nần tương đối bình thản: vừa sở hữu trữ kim thế giới [tức đồng đôla] vừa sở hữu thị trường tài sản có khả năng thanh toán nhất, dưới dạng thức trái phiếu của Bộ tài chính”. Và trái với những lo lắng về sự mất lòng tin vào đồng đôla, ngay trong cuộc khủng hoảng tài chính, giá trị đồng đôla lại lên cao và tiền lời của trái phiếu lại xuống thấp. Một cuộc khủng hoảng lòng tin đột xuất vẫn ít có vấn đề hơn sự kiện là một sự tăng dần trong các chi phí vay nợ có thể ảnh hưởng lên sự ổn định kinh tế lâu dài.

Chính trong ý nghĩa này, vấn đề nợ nần trở thành quan trọng, và các nghiên cứu cho thấy rằng lãi suất tăng 0,03 phần trăm cho mỗi gia tăng 1 phần trăm của tỉ số nợ-trên-GDP (debt-to-GDP ratio) qua trường kỳ. Lãi suất gia tăng có nghĩa là việc đầu tư trong khu vực tư doanh giảm thiểu và mức tăng trưởng kinh tế trở nên chậm hơn. Những hậu quả này có thể được cải thiện nhờ những chính sách đúng đắn nhưng cũng có thể trở thành xấu hơn do những chính sách tồi dở. Nợ gia tăng không nhất thiết dẫn đến sự suy yếu của Hoa Kỳ, nhưng chắc chắn nó sẽ nâng cao mức rủi ro trong trường kỳ.

Một lực lượng lao động có trình độ học vấn là một chìa khóa khác đưa đến thành công kinh tế trong thời đại thông tin. Thoạt nhìn, Hoa Kỳ có vẻ thành công trong lãnh vực này. Hoa Kỳ chi phí cho giáo dục đại học một tỉ lệ GDP gấp đôi tỉ lệ GDP mà Pháp, Đức, Nhật Bản, và Vương quốc Anh đã dành cho giáo dục đại học của họ. Bản liệt kê gồm 10 đại học đứng đầu thế giới năm 2009 của tạp chí Times Higher Education, xuất bản tại Luân Đôn, có đến 6 đại học Hoa Kỳ; và một nghiên cứu của đại học Shanghai Jiao Tong đã liệt kê 17 đại học Hoa Kỳ – không có đại học nào của Trung Quốc – vào danh sách 20 đại học hàng đầu thế giới. Người Mỹ được trao nhiều giải Nobel hơn và xuất bản nhiều bài nghiên cứu khoa học trong các tạp chí được chuyên gia cùng trình độ đánh giá (peer-reviewed journals) hơn công dân của bất cứ nước nào khác – và nhiều gấp ba lần người Trung Quốc. Những thành tựu này gia tăng cả quyền lực kinh tế lẫn quyền lực mềm của Hoa Kỳ.

Giáo dục Mỹ trong khả năng tốt nhất – được biểu hiện ở nhiều trường đại học và một số ít trường ưu tú trong hệ thống giáo dục trung học – hội đủ hoặc đặt ra tiêu chuẩn toàn cầu. Nhưng giáo dục Mỹ trong khả năng xấu nhất – được biểu hiện ở quá nhiều trường tiểu học và trung học, đặc biệt trong các khu nghèo – lại tụt hậu nghiêm trọng. Điều này có nghĩa là phẩm chất của lực lượng lao động sẽ không đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao được áp dụng trong một nền kinh tế được lèo lái bằng công nghệ thông tin. Không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy học sinh Mỹ ngày nay kém hơn ngày trước, nhưng ưu thế giáo dục của Hoa Kỳ đang bị xói mòn chỉ vì các quốc gia khác đang tiến bộ hơn bao giờ cả. Cải thiện hệ thống giáo dục quốc gia từ trường mầm non đến hết lớp 12 sẽ là một nỗ lực rất cần thiết nếu Hoa Kỳ muốn đáp ứng những tiêu chuẩn cần đến trong một nên kinh tế đặt cơ sở trên công nghệ thông tin.

Chính trị và các định chế chính trị

Bất chấp những vấn đề và những khả năng bấp bênh này, một điều gần như chắc chắn là, nếu có được những chính sách đúng đắn, kinh tế Hoa Kỳ vẫn có thể tiếp tục tạo ra quyền lực cứng cho quốc gia. Nhưng các định chế chính trị của Hoa Kỳ thì sao? Nhà báo James Fallows, qua nhiều năm sống ở Trung Quốc, khi về lại quê hương đã lo lắng về khả năng kinh tế của Hoa Kỳ thì ít, mà lo về bế tắc trong hệ thống chính trị thì nhiều. Theo quan điểm của ông: “Hoa Kỳ vẫn có đủ phương tiện để sửa đổi gần như bất cứ yếu kém nào trong cơ cấu…Đấy mới là bi kịch của Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 21: một mặt, Hoa Kỳ có một nền văn hóa sinh động, luôn luôn tự đổi mới, có sức hấp dẫn tài năng của thế giới; nhưng mặt khác là một hệ thống cai trị ngày càng trông giống như một trò đùa”. Mặc dù bế tắc chính trị trong một giai đoạn suy thoái kinh tế trông có vẻ tồi tệ, nhưng khó mà quả quyết tình hình ngày nay có tồi tệ hơn trong quá khứ hay không.

Chuyển đổi quyền lực – từ nguồn lực ra thành quả mong muốn – là một vấn đề lâu đời của nước Mỹ. Hiến pháp Hoa Kỳ dựa trên quan niệm tự do của thế kỷ 18, một quan niệm cho rằng quyền lực được kiểm soát hữu hiệu nhất bằng cách chia ra nhiều bộ phận khác nhau (phân quyền) và những bộ phận này kiểm soát và quân bình lẫn nhau. Trong chính sách đối ngoại, Hiến pháp luôn luôn khuyến khích Tổng thống và Quốc hội tranh nhau quyền kiểm soát. Các nhóm áp lực kinh tế và chủng tộc có thế lực thì tranh nhau để định nghĩa lợi ích quốc gia sao cho phù hợp với quyền lợi của nhóm mình, còn Quốc hội thì được thiết kế để chú ý đến nhóm nào đòi quyền lợi to tiếng nhất.

Một lý do khác để phải lo ngại là sự suy giảm lòng tin của dân chúng đối với các định chế chính phủ. Năm 2010, một cuộc thăm dò do Trung tâm nghiên cứu Pew tổ chức đã cho thấy rằng có đến 61 phần trăm người được phỏng vấn đã trả lời rằng Hoa Kỳ đang suy yếu, và chỉ 19 phần trăm tin tưởng chính phủ làm điều hợp lý trong hầu hết mọi trường hợp. Năm 1964, trái lại, có đến ba phần tư công chúng Hoa Kỳ nói rằng họ tin tưởng chính phủ liên bang làm điều phải trong hầu hết mọi trường hợp. Những con số này đã thay đổi phần nào qua thời gian, gia tăng sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 để rồi dần dần suy giảm trở lại.

Nước Mỹ được thành lập một phần nào dựa vào thái độ ngờ vực đối với chính phủ, và hiến pháp được thiết kế nhằm chống lại việc tập trung quyền hành. Hơn nữa, khi được hỏi, không phải về hoạt động thường ngày của chính phủ nhưng về sườn cốt cơ bản của hiến pháp, người Mỹ có thái độ rất lạc quan. Khi được hỏi nơi nào là nơi tốt đẹp nhất để sống, tuyệt đại đa số trả lời đó là Hoa Kỳ. Nếu được hỏi họ có thích hệ thống chính phủ dân chủ của họ hay không, gần như mọi người đều trả lời có. Ít ai thấy hệ thống chính trị này là mục nát, cần phải lật đổ.

Vài khí cạnh trong tâm lý dân chúng hiện nay có lẽ tiêu biểu cho sự bất mãn của họ đối với tình trạng đôi co và bế tắc trong tiến trình chính trị. So với quá khứ gần đây, chính trị đảng phái đã trở nên phân cực hơn trước, nhưng những thô bỉ của chính trị thì thì thời nào cũng có – như [những vị cha già lập quốc] John Adams, Alexander Hamilton, và Thomas Jefferson có thể chứng minh. Một phần khó khăn cho việc đánh giá không khí chính trị hiện nay là, sự tin tưởng đặt vào chính phủ đã tăng cao một cách bất thường ở thế hệ của những người từng sống qua cuộc Đại khủng hoảng kinh tế và từng giành được chiến thắng trong cuộc Đại chiến thứ hai. Nếu nhìn qua phối cảnh lâu dài của lịch sử Hoa Kỳ, thì thế hệ đó có lẽ là một hiện tượng bất thường (anomaly). Phần lớn bằng chứng nói lên sự mất tin tưởng ở chính phủ phát xuất từ phưong pháp thăm dò ý kiến hiện đại, trong đó những câu trả lời lại rất tùy thuộc vào cách đặt câu hỏi. Sự suy giảm lòng tin của người dân đối với chính phủ xuống mức thấp nhất dưới hai chính quyền Johnson và Nixon, cách nay đã bốn thập niên.

Điều này không có nghĩa là chúng ta không có vấn đề trong việc mất lòng tin ở chính phủ. Nếu dân chúng không còn muốn đóng thuế hay tuân theo pháp luật, hay nếu những thanh niên ưu tú không chịu tham gia phục vụ công ích hay công quyền thì khả năng của chính phủ sẽ bị suy yếu rất nhiều, và khi đó dân chúng lại càng bất mãn với chính phủ. Hơn nữa, một không khí nghi kỵ chính quyền có thể nảy sinh những hành động cực đoan do những phần tử bất bình thường trong xã hội, chẳng hạn vụ đặt bom đánh sập bin-đinh của chính phủ liên bang tại Oklahoma city năm 1995. Những hậu quả như thế có thể làm suy yếu cả quyền lực cứng lẫn quyền lực mềm của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, cho đến nay, những lo sợ này gần như không trở thành hiện thực. Sở thuế vụ liên bang vẫn chưa thấy có sự gia tăng nào trong việc gian lận thuế má. Có nhiều bằng chứng cho thấy, quan chức chính phủ trở nên ít tham nhũng hơn những thập niên trước, và Ngân hàng Thế giới cho Hoa Kỳ điểm số khá cao (trên 90/100) về nỗ lực “kiềm chế tham nhũng”. Việc người dân tự nguyện điền và nộp lại các mẩu kiểm tra dân số đã lên đến 67 phần trăm năm 2000 và còn cao hơn chút đỉnh vào năm 2010, đảo ngược chiều hướng suy giảm trong 30 năm liền. Các tỉ lệ đi bầu giảm từ 62 phần trăm xuống 50 phần trăm trong suốt bốn thập niên sau năm 1960, nhưng sự suy giảm đã ngừng lại ở năm 2000 và tăng lên 58 phần trăm năm 2008. Nói thế khác, thái độ của dân chúng không thay đổi một cách đầy kịch tính như các câu trả lời trong các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy.

Những biến đổi trong vốn xã hội (social capital) đã nghiêm trọng đến mức nào nếu xét đến hiệu năng của những định chế Hoa Kỳ? Nhà nghiên cứu chính trị Robert Putnam nhận xét rằng những sợi dây ràng buộc với cộng đồng (community bonds) không luôn luôn suy yếu trong thế kỷ vừa qua. Trái lại, nếu nghiên cứu kỹ chúng ta sẽ thấy rằng lịch sử Hoa Kỳ là một lịch sử có những thăng trầm trong nỗ lực tham gia cộng đồng của người dân. Theo Pew Partnership for Civic Change, một nhóm nghiên cứu và tư vấn các tổ chức cộng đồng, ba phần tư dân Mỹ cảm thấy có liên hệ với cộng đồng của mình và cho rằng phẩm chất cuộc sống ở đó là tuyệt vời hay tốt đẹp (excellent or good). Một cuộc thăm dò khác của nhóm này cho biết rằng có đến 111 triệu người Mỹ đã tự nguyện đóng góp thì giờ để giúp giải quyết các vấn đề cộng đồng trong 12 tháng vừa qua và có đến 60 triệu người làm việc tình nguyện một cách thường xuyên. Bốn mươi phần trăm cho biết sinh hoạt cùng với người khác trong cộng đồng là việc quan trọng nhất mà họ có thể tham gia.

Trong những năm gần đây, chính trị và các định chế chính trị Hoa Kỳ đã trở nên phân cực hơn là dư luận thực sự của nhiều giới cho biết. Tình trạng này đã trở nên tồi tệ hơn do cuộc suy thoái kinh tế gần đây. Tờ The Economist nhận xét: “Hệ thống chính trị Hoa Kỳ được thiết kế để việc làm luật ở cấp liên bang trở nên khó khăn, chứ không dễ dàng… Như vậy trên cơ bản hệ thống này vẫn hoạt động; nhưng đấy không phải là lý do để bỏ qua các lãnh vực mà hệ thống này có thể được cải tổ”. Một số cải tổ quan trọng – như cần chia lại các đơn vị bầu cử để tránh các ghế chắc nịch (safe seats) trong Hạ viện hoặc thay đổi nội qui liên quan đến việc nói dông dài (filibusters) để giết chết các dự luật trong Thượng viện – sẽ không cần đến việc tu chính hiến pháp. Chúng ta phải chờ xem là liệu hệ thống chính trị Hoa Kỳ có thể tự cải tổ chính mình và đối phó với những vấn đề mô tả ở trên hay không, nhưng hệ thống chính trị này không hề đổ vỡ như một số nhà phê bình ám chỉ bằng cách so sánh với sự tan rã nội bộ của đế quốc La Mã hay các đế quốc khác.

Tranh luận về sự suy tàn

Bất cứ một đánh giá thực sự nào về quyền lực Mỹ trong những thập niên tới vẫn không có gì chắc chắn, nhưng dùng những ẩn dụ sai lầm về sự suy tàn để phân tích tình hình thì cũng chẳng có ích lợi gì. Những người tiên đoán sự suy tàn của Hoa Kỳ (declinists) cần phải được sửa sai bằng cách nhắc họ nhớ lại những đánh giá quá cường điệu từ phía Mỹ về sức mạnh quân sự của Liên Xô trong thập niên 1970 và về sức mạnh kinh tế của Nhật Bản trong thập niên 1980. Cũng sai lầm không kém là những vị tiên tri nói về một thế giới đơn cực (unipolarity) cách đây một thập niên, khi họ cho rằng Hoa Kỳ hùng mạnh đến nỗi muốn làm gì thì làm và các nước khác không còn lựa chọn nào khác hơn là phải chịu sự lãnh đạo của siêu cường này. Ngày nay, một số người lại tiên đoán chắc nịch rằng thế kỷ 21 sẽ chứng kiến Trung Quốc thay thế Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới, trong khi đó một số nhà phân tích khác lại tranh luận không kém phần tự tin rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của người Mỹ. Tuy nhiên, trong thực tế, những biến cố không ai thấy trước được thường đảo lộn những tiên đoán như thế. Trước mắt chúng ta, luôn luôn có một dãy tương lai có thể xảy ra, chứ không phải chỉ một.

Còn về tương quan lực lượng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, rất nhiều điều sẽ tùy thuộc vào tình trạng bấp bênh của những thay đổi chính trị trong tương lai tại Trung Quốc. Trừ trường hợp có xáo trộn chính trị to lớn, mức độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ gia tăng quyền lực của nước này khi đối diện (vis-à-vis) với Hoa Kỳ. Việc này sẽ đưa Trung Quốc gần hơn với Hoa Kỳ về nguồn lực, nhưng không nhất thiết có nghĩa là Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ để trở thành quốc gia hùng mạnh nhất – cho dù Trung Quốc không trải qua những tổn thất chính trị nội bộ quan trọng nào. Những tiên đoán dựa vào mức tăng trưởng GDP không thôi là phiến diện, một chiều. Chúng bỏ qua những lợi thế về quân sự và quyền lực mềm của Hoa Kỳ, cũng như những bất lợi địa chính trị của Trung Quốc trong cán cân lực lượng tại châu Á.

Trong dãy tương lai có thể xảy ra, những tương lai có khả năng hơn cả là những tương lai trong đó Trung Quốc sẽ cạnh tranh ngang ngữa với Hoa Kỳ nhưng không thể qua mặt Hoa Kỳ về quyền lực nói chung trong nửa phần đầu của thế kỷ này. Nhìn lại lịch sử, nhà nghiên cứu chiến lược Anh Lawrence Freedman đã nhận xét rằng Hoa Kỳ có “hai đặc điểm khác hẳn với những cường quốc thống trị thế giới trong quá khứ: Quyền lực Mỹ dựa vào liên minh chứ không dựa vào thuộc địa và quyền lực này gắn liền với một ý thức hệ mềm dẻo…Hai đặc tính này cùng nhau cung ứng một cốt lõi gồm có các tương quan và các giá trị mà Hoa Kỳ có thể trở về để cố thủ, ngay cả sau khi đã phân tán lực luợng quá mỏng”. Và nhìn về tương lai, học giả Anne-Marie Slaughter lý luận rằng văn hóa đầy tính cởi mở và óc sáng tạo của Hoa Kỳ sẽ đặt quốc gia này ở vị trí trung tâm trong một thế giới mà các mạng lưới quan hệ quốc tế bổ sung cho, nếu không hoàn toàn thay thế, quyền lực có đẳng cấp giữa nước lớn và nước bé (hierarchical power).

Hoa Kỳ ở vào tư thế thuận lợi để hưởng sự hợp tác của các mạng lưới quan hệ quốc tế và các liên minh, nếu cường quốc này chịu theo đuổi những chiến lược khôn khéo. Trong bối cảnh Nhật Bản đang lo ngại về sự trổi dậy của Trung Quốc, Nhật Bản muốn tìm hậu thuẫn của Hoa Kỳ để duy trì nền độc lập hơn là liên minh với Trung Quốc. Điều này tăng cường thế đứng của Hoa Kỳ. Trừ phi người Mỹ có hành động ngu xuẩn đối với Nhật Bản, một liên minh châu Á không phải là một trường hợp có thể xảy ra nhằm trục xuất Hoa Kỳ. Điều quan trọng là, cả hai thực thể có lợi tức đầu người và nền kinh tế tinh vi tương tự như Hoa Kỳ – Liên minh châu Âu và Nhật Bản – là đồng minh của Hoa Kỳ. Theo ý nghĩa thực tế truyền thống về tương quan lực lượng, sự liên minh này rất quan trọng cho địa vị thực sự của Hoa Kỳ. Và trên quan điểm quyền lực mọi bên đều có lợi (positive-sum view of power) – tức quan niệm nắm giữ quyền lực cùng với các nước khác, chứ không phải để khống chế họ – châu Âu và Nhật Bản sẽ cung ứng những nguồn tài nguyên to lớn nhất để đối phó với những vấn đề xuyên quốc gia thường xảy ra. Mặc dù lợi ích của những nước này không đồng nhất với lợi ích của Hoa Kỳ, nhưng họ cùng chia sẻ những mạng lưới xã hội và chính quyền trùng hợp với Hoa Kỳ, điều này cung ứng thêm cơ hội cho sự hợp tác.

Về vấn đề suy yếu tuyệt đối, chứ không phải tương đối, Hoa Kỳ đang đối diện những vấn đề nghiêm trọng như nợ nần, giáo dục bậc trung học, và bế tắc chính trị. Nhưng chúng chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh. Trong dãy tương lai có thể xảy ra, những tranh cãi hùng hồn vẫn nghiêng về các tương lai lạc quan hơn nghiêng về các tương lai bi quan. Nhưng trong số những tương lai bi quan này, điều có khả năng xảy ra nhất là một tương lai trong đó Hoa Kỳ phản ứng quá đà trước những vụ tấn công khủng bố bằng cách chỉ hướng về nội bộ và do đó tách mình ra khỏi ưu thế mà từ lâu Hoa Kỳ có được nhờ sự cởi mở đối với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, ngoại trừ những sai lầm chiến lược như thế, người dân Hoa Kỳ luôn luôn có giải pháp cho các vấn đề quan trọng của đất nước hôm nay. (Ví dụ, vấn đề nợ dài hạn có thể giải quyết bằng cách đưa lên kế hoạch, sau khi kinh tế đã phục hồi, các chương trình cắt giảm chi tiêu và thu thuế tiêu thụ để chi trả cho các quyền lợi của người dân). Dĩ nhiên, các giải pháp như thế cũng có thể mãi mãi nằm ngoài tầm vói. Nhưng điều quan trọng là, phải biết phân biệt những tình trạng vô vọng không tìm ra giải pháp với những tình trạng mà trên nguyên tắc có thể tìm ra giải pháp. Dẫu sao, những cải tổ do sự hợp tác lưỡng đảng trong thời Tiến bộ (the Progressive era) cách đây một thế kỷ đã đổi mới một quốc gia có vấn đề nghiêm trọng.

Một quan niệm mới

Đã đến lúc cần phải có một quan niệm mới về tương lai quyền lực của Hoa Kỳ. Mô tả sự chuyển dịch quyền lực trong thế kỷ 21 như một trường hợp cổ điển về sự suy yếu của một bá quyền là thiếu chính xác, và việc này có thể dẫn đến những ngụ ý nguy hiểm trong chính sách nếu nó khuyến khích Trung Quốc lao vào những chính sách phiêu lưu hay thúc đẩy Hoa Kỳ phản ứng quá đà vì sợ hãi. Hoa Kỳ không nằm trong tình trạng suy yếu tuyệt đối, nhưng trong ý nghĩa tương đối, vẫn có sát xuất hợp lý là Hoa Kỳ sẽ còn mạnh hơn bất cứ một quốc gia nào trong nhiều thập niên sắp tới.

Đồng thời, quốc gia này chắc chắn sẽ đối diện một sự gia tăng nguồn lực của nhiều thực thể khác – gồm cả các quốc gia lẫn các tác nhân phi nhà nước. Vì tiến trình toàn cầu hóa sẽ phổ biến các khả năng công nghệ và công nghệ thông tin sẽ cho phép một số người đông đảo hơn liên lạc với nhau, văn hóa Hoa Kỳ và kinh tế Hoa Kỳ không còn khống chế toàn cầu như vào lúc bắt đầu thế kỷ này. Tuy nhiên không có chuyện Hoa Kỳ sẽ mục nát như La Mã ngày xưa, hay thậm chí bị một nước khác qua mặt, kể cả Trung Quốc.

Như vậy, vấn đề quyền lực Mỹ trong thế kỷ 21 không phải là một vấn đề về sự suy yếu, nhưng là Hoa Kỳ cần phải làm gì khi nhận thức được rằng thậm chí một quốc gia hùng mạnh nhất cũng không dễ gì đạt được các thành quả mong muốn nếu không có sự giúp đỡ của các quốc gia khác. Những thách thức ngày một gia tăng sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ cần phải sử dụng quyền lực cùng với các quốc gia khác cũng như đối với các quốc gia khác. Điều này, do đó, sẽ đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc hơn về quyền lực, quyền lực biến đổi như thế nào, và làm thế nào xây dựng các chiến lược “quyền lực thông minh” (smart power) nhằm kết hợp các nguồn lực cứng và mềm trong thời đại thông tin. Khả năng của Hoa Kỳ trong việc duy trì liên minh và kiến tạo các mạng lưới quan hệ quốc tế sẽ là một chiều hướng quan trọng của quyền lực cứng và quyền lực mềm.

Quyền lực tự nó không tốt mà cũng không xâu. Nó như ca-lô-ri trong chế độ dinh dưỡng: nhiều hơn chưa chắc là tốt hơn. Nếu một quốc gia có quá ít nguồn lực, nó không có cơ may đạt được những thành quả mong muốn. Nhưng nắm quá nhiều quyền lực (bằng cách nắm giữ các nguồn lực) lắm lúc lại chỉ giống như chịu một sự trù yểm (a curse) nếu quyền lực đó dẫn đến một sự tự tin quá đáng đến độ vạch ra những chiến lược không thích hợp. Cậu bé Đa-vít giết được tên khổng lồ Gô-li-a bởi vì sức mạnh phi thường của Gô-li-a đã khiến hắn theo đuổi một chiến lược thấp kém, điều này tiếp đó đã đưa hắn đến thất bại và cái chết. Một quan niệm quyền lực thông minh cho thế kỷ 21 không có mục đích gia tăng quyền lực đến mức tối đa hay duy trì bá quyền. Quan niệm này có mục đích tìm kiếm những đường lối kết hợp nguồn lực trong những chiến lược có thể thành công trong bối cảnh của sự phân tán quyền lực và “sự vươn dậy của phần thế giới còn lại”.

Là cường quốc mạnh nhất thế giới, Hoa Kỳ vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong các vấn đề toàn cầu, nhưng quan niệm phát xuất từ thế kỷ 20 về một thế kỷ Mỹ hay bá quyền Mỹ – cũng như những quan niệm về sự suy yếu của Mỹ – là sai lầm khi quan niệm đó được sử dụng như như một cẩm nang để tìm kiếm loại chiến lược cần thiết trong thế kỷ 21. Những thập niên sắp tới chắc chưa chứng kiến một thế giới hậu-Hoa Kỳ, nhưng Hoa Kỳ sẽ cần một chiến lược thông minh để kết hợp nguồn lực cứng và nguồn lực mềm thích ứng được với bối cảnh mới của một thời đại thông tin.

J. S. N.

Túy Vân phỏng dịch từ Foreign Affairs, số tháng 11 và tháng 12 năm 2010.