Dưới đây là đơn gửi Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh. Đơn còn gửi tới:
- Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội
- Ủy ban Tư pháp Quốc hội
“Để kết thúc bài viết, xin gửi đến blogger Beo, bà hãy đừng quên rằng bản thân mình là một lãnh đạo của cơ quan báo chí của đảng, hơn nữa là đảng viên Cộng sản phải tuân thủ kỷ luật không được phát ngôn bừa bãi”.
Trên đây là đoạn giáo huấn đậm đà chất tuyên giáo chất chi bộ chất công an…dành cho bạn Beo, khi Beo dùng từ cuốc hội thay cho quấc họi.
Hài vãi linh hồn, chú này đảng viên Việt Tân. Hài, nhưng đừng cười vội, vì đây cũng chính là nhân vật đã bán Lê Công Định với giá rất mạt, khi Định sang học lớp đấu tranh bất bạo động do đảng chú tổ chức tại Thái lan. Chữ in nghiêng bên trên, Beo biên bằng giọng bản năng gốc của chú đó.
Khi nào xuất kho Định, Beo sẽ tải lên đây dăm cái hình tặng Định để thấm thía nẫu đời rân với chả trủ. Còn từ nay tới đó, tốt nhất là chú quấc họi nên treo cái sinh tử lệnh vào mấy địa chỉ blog rồi hô hoán ầm lên như bà vợ bá Kiến trong truyện Chí Phèo ấy, nhằm giữ nick name, hỉ!
Loạt entry này sẽ từ từ kể, chuyện chém gió văng mạng và chân tướng đời, khác biệt nhau, ra sao.
Dân trí đã liên lạc với ông Nguyễn Minh Đức - Giám đốc Bộ phận an ninh mạng, công ty Bkav - để tìm hiểu về sự cố của VietNamNet. Theo ông Đức, từ những thông tin để lại trong vụ tấn công này, Bkav vẫn chưa thể có kết luận về nguồn gốc cũng như đối tượng tấn công. Ông Đức cho rằng: “Mặc dù trên giao diện trang web của VietNamNet sau khi bị tấn công có nhắn nhủ thông tin “thủ phạm” là những hacker
Nhạc sĩ Quốc Bảo: Vượt qua thất tình bằng cách… không thất tình nữa!
Photo: Dai Ngo
“Mười một tháng sau khi tôi ra đời, bố mất. Cái tang bố đẩy mẹ vào trạng thái trầm cảm dữ dội. Mẹ tôi thuê một căn nhà lụp xụp ở đường Tôn Thất Hiệp, từ nhà thờ Thăng Long đi bộ mấy bước là tới. Tôi bập bẹ những tiếng nói đầu đời ở căn nhà thuê đó…”
(Quốc Bảo, tr. 10, Ấu thơ, Thị Dân, Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn 2010)
Trưởng thành trong hoàn cảnh vật chất khó khăn, thiếu thốn tình cảm gia đình, anh đã sống và vượt qua chúng như thế nào?
- Tôi thiếu tình cảm của bố, nhưng có mẹ và bà ngoại thương yêu. Những người bạn của mẹ tôi và gia đình bên nội cũng rất thương quý. Còn vật chất khó khăn thì khi còn bé mình cũng chẳng để ý lắm. Tôi chỉ thực sự thấy buồn vì nhà nghèo từ khi biết nghĩ, vào tuổi thiếu niên. Song lúc đó thì còn đầy lòng tin vào đời nên hẳn nhờ vậy, vẫn sống được.
Những kỷ niệm ấu thơ nào lắng đọng trong anh để không thể nào quên?
- Một ngôi nhà nhỏ lúc nào cũng vang tiếng mẹ tôi dạy tư đám học trò tiểu học. Bóng dáng cao gầy, thong thả của bà ngoại tôi. Những món đồ chơi, những cuốn sách tôi được tặng khi ốm đau. Những bát thạch, những đĩa bánh flan vào ngày sinh nhật. Những buổi tối rảnh rỗi nằm bò đánh cờ tướng một mình rồi ngủ thiếp đi. Những ngày mưa ngập nhà.
Vì sao anh thi và trở thành sinh viên trường Sư phạm?
- Vốn dĩ tôi không thích nghề giáo, vì lười nhai lại kiến thức. Mẹ tôi thì thích, tất nhiên. Tôi thi vào khoa Nhạc trường Sư phạm sau hai năm không đỗ được đại học do lý lịch. Tôi cần một chỗ trú chân, một điểm trú an toàn và tất nhiên, cũng thú vị. May mắn là kỳ thi tuyển năm 1985 diễn ra muộn hơn lịch thi đại học toàn quốc đến hai tháng, tôi đã có giấy báo vào hai trường Trung học Sư phạm và Kỹ thuật Cao Thắng rồi (nguyện vọng 2 nếu trượt đại học), đã đến tập trung nghe nội quy rồi, thì bên Khoa Nhạc mới chiêu sinh.
Vậy điều gì đã thôi thúc anh sáng tác khi còn là sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm?
- Tôi tập trung học hòa âm, phối khí, tập đàn và viết nhạc không lời suốt ba năm ở Cao đẳng, vì đó là các kỹ năng quan trọng số một cho người làm nhạc. Viết ca khúc chỉ là phụ thôi.
Vì sao anh thôi nghề dạy học và trở thành nhạc sĩ như hiện nay? Điều gì đã tác động đến anh để thay đổi con đường đi của mình?
- Tôi dạy 10 năm mà (1990 - 2000), thế là nhiều quá rồi ấy chứ. Thật ra không phải tôi chán ghét nghề dạy học đâu; những năm đầu mới làm giảng viên, tôi yêu nghề lắm, thương quý học trò vô cùng. Nhiều sinh viên giỏi, chăm, thông minh, có tố chất. Tôi dạy ngoài giờ, dạy thêm, gắn bó với sinh viên lắm. Nhưng từ khoảng 1998 về sau, lớp sinh viên sau không được như trước, họ học nhiều trường, qua quýt, cưỡi ngựa xem hoa. Tôi nản dần. Không khí sinh hoạt đồng nghiệp ở Khoa cũng có vấn đề, bạn biết đấy, ở đâu chả có đấu đá ganh ghét. Tôi nghĩ, việc quái gì mình phải mất thì giờ đối phó thù trong giặc ngoài ở cái chốn này, nơi lẽ ra phải hết sức lành mạnh sạch sẽ. Nên đến 2000 tôi đâm đơn nghỉ việc.
Thời gian đầu trong chặng đường sáng tác, anh có kiếm được tiền để sống được bằng các ca khúc của mình không?
- Khi đồng lương giảng viên thấp, tôi làm nhiều nghề tay trái để sống và để học thêm. Tôi làm người trình bày bìa sách cho nhà xuất bản, thiết kế hộp đèn quảng cáo, kẻ nhạc thuê để in, viết báo, dạy đàn, tham gia các công việc phòng thu và chơi guitar. Lúc đó tôi không sống được bằng ca khúc, vì gần 100 bài tôi viết từ 1989 đến 1998 cứ nằm trong ngăn kéo, ai trả tác quyền mà sống! Năm 1998 tôi chính thức làm công việc producer (biên tập, hòa âm cho các CDs) và mới phổ biến nhỏ giọt các ca khúc của mình. Mãi tận bây giờ, tôi mới có một khoản thu nhập “Trời cho” là tác quyền hàng năm do Trung tâm Bản quyền của anh Phó Đức Phương trả. Nếu không phải nuôi con, chăm sóc gia đình, thì số tiền ấy hàng năm đủ cho tôi sống tàm tạm.
Khi nào anh biết mình bắt đầu… nổi tiếng?
- Tôi có chút tiếng lúc làm báo Tuổi Trẻ (1996-99). Giới văn nghệ cũng chỉ biết tôi làm báo, thỉnh thoảng có đi nói chuyện nơi nọ nơi kia về nhạc trẻ ngoại quốc. ‘98, tôi có Em Về Tinh Khôi được xếp hạng cao trên Làn Sóng Xanh. Năm sau đó, tôi được công chúng chú ý.
Anh có tiêu chí gì khi lựa chọn ca sĩ hát các ca khúc của mình?
- Thoạt đầu, ca khúc có trước (những ca khúc tôi đã viết và cất ngăn kéo), thì tôi chọn giọng hát mà tôi nghĩ phù hợp với chúng. Sau đó thì tôi viết đo ni giọng ca, để bài hát thực sự là CỦA một người cụ thể, gắn chặt với người ấy. Tôi thích những giọng hát lạnh, bình thản.
Anh đã đem lòng yêu ca sĩ bao giờ chưa?
- Có một số trường hợp.
Cụ thể hơn được không?
- Nhiều mẩu chuyện tình yêu, tình bạn, gia đình đã được tôi kể rải rác đây đó trong các tản văn. Có thể còn một ít nữa, mà tôi chưa kể, vì kể ở lúc/ở chỗ không thích hợp như báo chí hay đem lại những ép phê âm tính. Những người đọc xấu tính thích chẻ hoe, trích dẫn ngoài ngữ cảnh, làm sai lạc hết ý tôi. Giang hồ hiểm ác mà! Tôi lại không bao giờ muốn người thân, bè bạn hay những người tôi yêu phải liên lụy. Một lúc nào đó thuận tiện, chẳng hạn khi viết hồi ký, tôi sẽ kể thêm.
Anh yêu từ năm 14 tuổi cho đến nay, hẳn anh đã trải qua nhiều mối tình? Kỷ niệm nào anh giữ lại được?
- Tôi không quên điều gì cả. Không quên cả những chuyện lặt vặt. Ký ức, khi nó đã đủ cũ, thì rất quý. Nó chỉ làm đau khi còn mới.
Vì sao những cô gái mười tám đôi mươi thường làm anh rung động?
- Có hai lý do, một là sự tươi mới của họ. Hai, quan trọng hơn nhiều, là vì họ không có quá khứ phải mang vác.
Tình yêu chắp cánh cho ca khúc/cảm xúc của anh như thế nào?
- Khi không có tình yêu, hoặc khi bị trơ lỳ trong tình cảm, tôi không viết được gì cả. Tình yêu là nguồn năng lượng tối cần thiết.
Tình yêu đã lấy đi của anh điều gì và mang lại cho anh những gì?
- Tình yêu cho tôi một đời sống thực sự là đời sống, với đầy đủ cung bậc hạnh phúc và đau khổ. Nó hại tôi khi đem đến những đêm mất ngủ và những ngày đắng miệng.
Anh có khi nào thất tình? Anh vượt qua điều ấy như thế nào?
- Có. Đôi lần. Tôi vượt qua bằng cách… không thất tình nữa.
Anh có bắt đầu một quan hệ mới khi tim còn đang đau?
- Có lẽ không, vâng, thường là không. Tôi không chủ định tìm một kẻ thay thế, một liều thuốc giảm đau. Phần vì nó sẽ không bền, phần khác vì tôi thấy làm vậy là tổn thương người mới.
Với người anh yêu, anh có nghĩ người đó cũng nằm trong phạm trù gia đình?
- Tôi coi người yêu như người thân. Thân thiết, thân thuộc, thân mật, thân ái. Vâng, một nét nào đó giống như người trong gia đình.
Xin cám ơn anh.
- Việt Quỳnh thực hiện, đăng trên TTVH Cuối tuần số 47 (19 - 25/11/2010)
| treo blog 15 ngày vì sai sót khi đưa tin | for everyone |
Truyền thông mấy hôm nay viết: "Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình Đinh Văn Hùng là người mua một chiếc trống đồng có niên đại được xác định vào khoảng 2.000 năm". Theo thông tin ban đầu, giá của chiếc trống cổ được ông Hùng mua là 1,2 triệu USD".
Đồng thời, ông nguyên bí thư này còn "chơi" một đôi lục bình sản xuất vào khoảng thế kỷ 17-18, trị giá 1,8 tỷ đồng. Nói nguyên bí thư vì mới đây ông Hùng không làm Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình nữa nhưng khi mua những cổ vật trên, ông đương chức Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình.
Không đặt vấn đề tiền bạc ở đâu ông Hùng mua những cổ vật đắt tiền ấy và ông mua để làm gì, việc ấy cơ quan điều tra đang làm. Bài viết này chỉ nêu băn khoăn, tại sao ông lại đi mua những cổ vật ấy, đặc biệt là trống đồng.
Ghi chép cổ nhất có liên quan đến trống đồng xuất hiện trong Sử Bản, một cuốn sách Trung Quốc từ trước thế kỷ thứ 3 trước công nguyên. Cuốn sách này nay không còn, nhưng được dẫn lại một phần tại một cuốn sách cổ khác là cuốn Thông điển của Đỗ Hữu. Hậu Hán thư quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận".
Tương truyền, người ta đặt úp trống trên sàn nhà hay trên mặt đất, dùng cái dùi có mỏ khoắm bọc vải gõ vào. Trong nghi thức tang lễ người ta dùng trống đồng với kèn đám ma, sao ngang, đàn nhị, cồng chiêng, thanh la và trống bịt da dê. Riêng người Khơ Mú họ dùng dùi thẳng có phần đầu bọc vải để gõ vào trống úp xuống, còn người Lôlô đặt hai cái trống đồng nằm nghiêng hoặc treo nghiêng, mặt trống đối diện nhau và dùng dùi thẳng như người Khơ Mú. Tiếng trống đồng đối với những dân tộc kể trên là âm thanh của trời (tiếng sét), còn mặt trống tượng trưng cho mặt trời. Tiếng trống sẽ dẫn đường cho linh hồn người chết về với tổ tiên họ.
Đương nhiên, trống đồng là báu vật quốc gia, và với nguồn gốc như thế có nên đem về nhà riêng hay không?
Đây là một câu hỏi nghiêm túc xét trên nhiều góc độ. Nó là báu vật quốc gia thì không thuộc sở hữu của cá nhân; cá nhân không có quyền và không thể giữ được dù bất cứ hình thức nào; đời này có giữ được thì đời sau sẽ lấy lại; chết chôn theo rồi cũng bị đào lên lấy trả cho quốc gia.
Nó dùng trong tang lễ và chiến trận, được đào lên từ các ngôi mộ thì những ai có chút hiểu biết đều thấy phải tránh xa, chỉ những dịp đặc biệt đúng lễ mới nên tiếp xúc. Dân gian từng nói, đừng tham của chùa. Những gì ở chùa là của bá tánh, không chỉ báu vật mà một bông hoa, ngọn cỏ cũng không được đem về nhà riêng của mình.
Xét thế đã thấy rằng, quan chức đem trống đồng về nhà riêng của mình là không thể chấp nhận. Hành vi ấy chỉ biểu hiện một điều: Thiếu văn hóa; thậm chí dùng hai chữ "văn hóa" ở đây còn hơi khiên cưỡng vì với người dân bình thường nhất cũng biết việc đó phải tránh xa.
Nói đến chùa chiền, lâu này có câu cửa miệng "như của chùa" lắm khi được dùng để giải thích một cách sai trái là "của vô chủ". Thực ra, của chùa không phải vô chủ, trước hết có các vị sư sãi coi sóc, tiếp theo và quan trọng hơn là thiện căn của bá tánh coi sóc. Ngay bữa cơm chay ở chùa, ai cũng có thể nếu có nhu cầu, tuy nhiên không phải tùy tiện.
Có người đã viết: "Nét văn hoá cơm chùa là một nét đẹp về chia sẻ. Về lấy của người có san sớt cho người không có. Của người giàu san sẻ cho người nghèo. Sau buổi lễ Phật, mọi người đều được mời ăn bữa cơm chùa, không phân biệt sang hèn, theo đúng tinh thần Phật dạy trong kinh Hiền Ngu. Tinh thần chia sẻ này còn được lưu giữ ở nhiều chùa làng. Ai có ít nhiều gì cũng đều đem góp vào. Có người quá nghèo thì tới góp công: gánh nước, chẻ củi, nhặt rau, nấu nướng, v.v. Rồi tới bữa cùng vui vẻ đồng bàn với nhau. Những bữa cơm chùa như thế thường đạm bạc. Các món đều có thể trộn chung với nhau mà không làm hư vị riêng, vì có vị riêng chút nào để mà hư. Những người sành ăn cơm chùa còn bảo phải trộn chung nhiều món ăn mới ngon".
Tìm đến bữa cơm chùa là tìm đến cái tinh thần tối giản của nhu cầu, đến mức không coi nhu cầu bản thân là quan trọng nữa. Nên người ta hay nói, đến với bữa cơm chùa bằng cái tâm thọ trai, cái tâm của người tu học. Nếu có người lỡ để cho cái ngon tạo ra dục thực mà chén đến bốn năm bát cơm thay vì một bát cơm úp, thì sau khi ăn đã rồi phải lên ngay chánh điện sám hối tội... ăn tham!
Thật đơn giản và dễ hiểu. Thế nhưng, dường như có những điều tối đơn giản trong văn hóa Việt lại không có trong tư duy của một số quan chức hiện nay. Điều này có nhiều lý do. Nhiều quan chức thuở ấu thơ không được học hành đường hoàng, lớn lên trong không khí vô thần báng thánh, ra làm quan được giao quá nhiều quyền, ngỡ cả thế giới có thể nắm trong lòng bàn tay. Không hiểu biết mà nhiều quyền nên cứ hồn nhiên làm điều kỳ quặc, chướng tai gai mắt, thậm chí tự rước họa vào thân. Lấy của chùa về nhà riêng đã là điều tối kỵ, lại còn đem cả đồ tùy táng về nhà, trưng bày lên ngắm nghía, thật không tưởng tượng nổi. Rước tai họa nghìn năm về theo sau lưng mà còn hớn hở! Nhưng đem trống đồng về nhà mình trưng bày, trong đội ngũ quan chức Việt Nam hiện nay, ông Đinh Văn Hùng chắc gì đã là người đầu tiên hay cuối cùng?
Theo Tầm nhìn.net
-
Nữ Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà phủ nhận tin tức loan truyền xôn xao rằng bà “tuyệt thực.”
Bài viết trên Blog “Người Buôn Gió” có thể là khởi nguồn của tin tức đồn đãi nữ Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà tuyệt thực. (Hình: Chụp lại từ blog Người Buôn Gió)
“Cảm ơn các anh đã quan tâm, nhưng không có việc tôi tuyệt thực đâu.” Bà Nguyễn Thị Dương Hà, vợ ông Cù Huy Hà Vũ nói vội trong cuộc trao đổi vắn tắt với nhật báo Người Việt sáng ngày Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010 (giờ Hà Nội) về lời đồn bà tuyệt thực, hiện được loan truyền đầy trên mạng.
Vào mạng tìm kiếm Google, khi đánh nhóm từ “Luật Sư Nguyễn Thị Dương Hà tuyệt thực,” người ta thấy hiện lên tới 1,010,000 đề mục cùng một đề tài. Ðiều này chứng tỏ dư luận quan tâm rất lớn đối với vụ bắt giam và truy tố luật gia Cù Huy Hà Vũ, một người từng nộp đơn kiện ông thủ tướng của chế độ tới 2 lần.
Bà Nguyễn Thị Dương Hà, trong tư cách của một luật sư chuyên nghiệp, bà đã nộp đơn xin được biện hộ cho chồng nhưng không thấy được trả lời theo luật định.
Có diễn đàn mạng còn đặt tít giật gân cho bản tin của mình là “Cù vợ kêu gọi tuyệt thực tập thể cứu Cù chồng.”
Tin tức về bà Dương Hà tuyệt thực “đòi trả tự do cho chồng” rất có thể bắt nguồn từ bài viết thấy trên blog của Người Buôn Gió < http://nguoibuongio1972.multiply.com/journal/item/192 > có tựa đề “Chị Dương Hà,” ngày viết là 17 tháng 11, 2010.
Ngay câu đầu của bài viết đã nói ngay: “Hôm qua được tin chị Hà vợ anh Vũ tuyệt thực…”
Bài viết này có đích thực là của Người Buôn Gió viết hay không, cần phải kiểm chứng thêm, nhưng văn phong và khẩu khí thì có vẻ rất “NBG.” Một số bài được tung vào blogs của một số tay viết báo mạng “lề trái” đã từng bị phủ nhận là hàng giả của “người quen.”
“Người quen” có một lũ chuyên viên mạng rất giỏi, chuyên bẻ khóa để đọc trộm điện thư, cướp blogs hay đánh sập các blogs, các diễn đàn thông tin lề trái, cũng như sửa các bài viết, đưa nhiễu thông tin nhằm tung hỏa mù, gây mâu thuẫn.
Ngay sau khi ông Cù Huy Hà Vũ bị giam và truy tố, bà Hà đã gửi một lá đơn tố cáo gửi Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội nói rằng việc bắt giữ này trái luật.
- Tờ Global Times là tờ báo con của People’s Daily, tức Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Quả là một sự kiện: Đây là lần đầu tiên một giáo sư đại học và là một quan chức dám chê cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc là thiếu nghiêm túc, thích câu khách.
- Su Hao có rất nhiều bài đăng trên Global Times mà lại nói tờ báo đó thiếu nghiêm túc, thích câu khách, thì chẳng khác nào tự Giáo sư tát vào mặt mình!
Su Hao chối bỏ việc Trung Quốc có tuyên bố biển Đông là "lợi ích cốt lõi. Tờ The Australian cho biết chính bà Clinton xác nhận ông Đới Bỉnh Quốc, Uỷ viên Quốc vụ viện phụ trách ngoại giao, đã nói với bà biển Đông là "lợi ích cốt lõi" của Trung Quốc. Trong một nguồn tin khác, Kyodo News tiết lộ Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” khi Thứ trưởng ngoại giao Mỹ James Steinberg và Jeffrey Bader, giám đốc cao cấp các vấn đề châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ viếng thăm Bắc Kinh (hai ông này đã gặp các viên chức ngoại giao TQ – có tin nói là Đới Bỉnh Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì và Thứ trưởng Ngoại giao Thôi Thiên Khải).
Như thế, thật ra, Su Hao chối bỏ tuyên bố của Trung Quốc về lợi ích cốt lõi ở Biển Đông chỉ là do bây giờ TQ thấy hố, lợi bất cập hại (xin xem phân tích của Dương Danh Dy), chứ dã tâm bành trướng vẫn giữ nguyên.
Giáo sư Su Hao bày tỏ tin tưởng rằng “Các nhà nghiên cứu cần trao đổi ý kiến với nhau để hiểu biết lẫn nhau hơn, và từ sự hiểu biết lẫn nhau đó có thể xây dựng niềm tin với nhau.” Nếu đó là lời chân thành, và nếu là người tôn trọng lẽ phải, thì sau Hội thảo Biển Đông lần này, Giáo sư Su Hao hẳn phải rút ra những kết luận cần thiết. So với một Lý Hồng Mai hung hăng (mà Lưu Nguyễn trên báo Công an nhân dân đã phải gọi là “bình luận viên giống cái”), Su Hao tương đối ôn hoà (chẳng hạn xem bài này). Nhưng không phải Su Hao đã hoàn toàn nhìn thẳng vào sự thực. Tháng Tám năm nay, trong khi Trung Quốc vẫn tiếp tục bắt bớ ngư dân ta, trên Nhân dân nhật báo, Su Hao cứ khẳng định rằng: “[…] cái gọi là ‘tình hình căng thẳng’ ở Biển Đông rõ ràng là luận điệu xuyên tạc nhằm tạo điều kiện để đạt mục tiêu riêng.”; và rằng: “Biển Đông đang là biển của hòa bình và ổn định, biển của hợp tác và trao đổi, nhằm thúc đẩy phát triển chung.” Con đường tiếp cận công lý và chân lý còn nhiều gập ghềnh đối với những trí thức, những nhà lý luận như Giáo sư Su Hao.
Bauxite Việt Nam
Sáng thứ bảy 13/11, THIÊN TRIỀU đã gặp riêng một diễn giả khá nổi bật trong Hội thảo khoa học về Biển Đông là Giáo sư Su Hao (Trung Quốc) để điểm lại ý nghĩa và kết quả của cuộc hội thảo lần thứ nhì về Biển Đông tổ chức ở Việt Nam. Có phải VN mượn hội thảo này để đả kích Trung Quốc?
-THIÊN TRIỀU: Thưa giáo sư Su Hao, Hội thảo về Biển Đông này là một dịp cho các nhà nghiên cứu trao đổi ý kiến với nhau. Tôi nghĩ rằng các ý kiến đó cũng đến tai người khác nữa. Tỉ như những nhà hoạch định chính sách và cả công chúng để giúp hiểu vấn đề đúng hơn và hiểu biết nhau hơn.
-GS Su Hao: Ông nói đúng. Hội thảo này rất ý nghĩa. Biển Đông là một điểm nóng của khu vực, là một vấn đề cũ (lâu đời) của khu vực, không chỉ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Đã có những diễn đàn chính thức khác như Diễn đàn ARF, Diễn đàn hợp tác an ninh, Diễn đàn Đông Á, các diễn đàn ngoại giao “kênh 2” (2nd Track Diplomacy, còn gọi là “ngoại giao công dân”, THIÊN TRIỀU) tổ chức từ lâu ở Malaysia, Indonesia… Các bàn tròn an ninh khu vực khác. Hội thảo này do nước ông tổ chức là một mặt bằng mới để các học giả trao đổi ý kiến. Đây không phải là “kênh 2 ngoại giao”, cũng không phải chỉ gồm những nước liên quan đến vấn đề Biển Đông, mà là một mặt bằng đối thoại khác, rộng rãi hơn với những nước khác…
MỘT HỘI THẢO HỮU ÍCH CHO CÁC HỌC GIẢ TRUNG QUỐC
-THIÊN TRIỀU: Một diễn đàn có qui mô thế giới…
-GS Su Hao: Đúng thế. Có cả đại diện những nước khác nữa chứ không chỉ những nước chung quanh Biển Đông hay quanh châu Á – Thái Bình Dương. TQ quan tâm đến hội thảo này và do đó chúng tôi có mặt ở đây. Tôi cũng muốn nói rằng Biển Đông từ một hai năm nay trở thành một vấn đề khu vực nóng; nên cần có cơ hội trao đổi cái nhìn giữa các nước. Các nhà nghiên cứu cần trao đổi ý kiến với nhau để hiểu biết lẫn nhau hơn, và từ sự hiểu biết lẫn nhau đó có thể xây dựng niềm tin với nhau. Tôi nghĩ rằng đây là một mặt bằng có chức năng làm tránh những hiểu lầm, giảm đi những cảm nhận sai.
Kế đến, do lẽ đây là một diễn đàn quốc tế, nên có những ý kiến khác từ phương Tây, Mỹ, châu Âu. Trong quá khứ đã có những ý kiến từ phương Tây về cái gọi là “sự nổi lên của Trung Quốc”, về cái gọi là thách thức, đe dọa “lợi ích quốc gia” đối với Mỹ chẳng hạn… Một số sự việc trong Biển Đông đã trở thành những cái gọi là “bằng chứng” đối với một số học giả phương Tây để cho rằng “sự nổi lên của Trung Quốc là một thách thức”. Thành ra, tôi nghĩ rằng diễn đàn này chính là một cơ hội để các học giả Trung Quốc phát biểu, bày tỏ cho thế giới quan điểm của mình, chúng tôi hiểu đất nước chúng tôi như thế nào, để giúp thế giới bên ngoài nhận biết thế nào là Trung Quốc đích thực, thái độ của Trung Quốc như thế nào, Trung Quốc xử lý mọi việc ra sao, kể cả vấn đề Biển Đông ra sao. Đây là dịp để các học giả Trung Quốc cho xã hội bên ngoài hiểu rằng Trung Quốc có một thái độ rất trách nhiệm trong vấn đề Biển Đông.
-THIÊN TRIỀU: Đó chính là thông điệp mạnh mẽ của ông trong hội thảo: Chính phủ Trung Quốc có một thái độ rất trách nhiệm.
-GS Su Hao: Đúng vậy. Chúng tôi biết rõ Chính phủ chúng tôi nghĩ gì, làm gì, ứng xử giải quyết vấn đề với tất cả trách nhiệm của mình, chứ không như các ý kiến của phương Tây đổ tội chúng tôi. Trong hội thảo này, các học giả Trung Quốc, qua các phát biểu của mình đã cho thấy Trung Quốc thực sự nghĩ gì, hành động ra sao, rằng Trung Quốc có khả năng có một thái độ rất trách nhiệm đối với khu vực, đối với Biển Đông. Chứ Trung Quốc không hề có thái độ bạo ngược, trái lại chỉ muốn giữ ổn định và hoà bình cả trong Thái Bình Dương lẫn trong Biển Đông. Đó chính là suy nghĩ đích thực của chúng tôi. Di sản (tinh thần) của chúng tôi là duy trì ổn định và hoà bình ở Biển Đông và Thái Bình Dương. Chúng tôi không hề có ý định gọi là “sử dụng phương thức quân sự” để xử lý vấn đề. Thành ra, ở hội thảo này chúng tôi đã làm rõ những vấn đề đó. Phương Tây cứ cho rằng Trung Quốc có “lợi ích” trên Biển Đông, trong khi đó Trung Quốc đã không hề có tuyên bố gì gọi là “lợi ích” (cốt lõi) như thế cả! Thành ra, chúng tôi muốn truyền thông đại chúng VN và quốc tế nhận thức đúng về cái gọi là “lợi ích” (cốt lõi) này.
-THIÊN TRIỀU: Ông có nghĩ rằng thông điệp của ông đã được nghe và hiểu rõ ở hội thảo này?
-GS Su Hao: Họ hiểu chứ. Thành ra, Trung Quốc tham dự hội thảo này là rất tốt để cho phương Tây và thế giới bên ngoài có thêm thông tin và cảm nhận đúng về một Trung Quốc thực sự. Điều đó thật là tốt!
AI ĐANG LÀM GÌ Ở BẮC KINH?
-THIÊN TRIỀU: Có ý kiến tham luận cho rằng ở Trung Quốc hiện đang có những dị biệt trong giới lãnh đạo. Tỉ như giới quân sự nay có thế lực hơn, họ có những quan tâm riêng của họ, có những lợi ích riêng của họ, họ đang diễu võ giương oai. Câu hỏi đặt ra là: ở Trung Quốc, ai đang “nắm công việc”? Ông còn nhớ ý kiến của nhà tham luận đó chứ?
-GS Su Hao: Của một nhà nghiên cứu phương Tây [1]. Họ nói như thế để nhấn mạnh rằng Trung Quốc đang xây dựng quân sự, để chỉ trích rằng Trung Quốc có một thái độ xâm lược. Qua hội thảo này, các học giả chúng tôi cho thấy việc một cường quốc có những hoạt động quân sự là bình thường. Một hiện tượng rất bình thường. Trung Quốc đang hiện đại hóa, kể cả quân sự. Nước nào cũng thế, kể cả VN.
-THIÊN TRIỀU: Đúng thế, kể cả VN…
Nghe đến đây, Ren Yuanzhe, một tiến sĩ, giảng viên Đại học Ngoại giao Trung Quốc, trợ lý của GS Su Hao, vội ghi chép vào trong sổ tay.
-GS Su Hao lặp lại: VN cũng thế phải không? Đúng không?
-THIÊN TRIỀU: Đúng vậy.
Ren Yuanzhe tiếp tục ghi chép trả lời của THIÊN TRIỀU.
-GS Su Hao: So với phát triển kinh tế của Trung Quốc, thì phát triển quân sự như thế là còn thấp, nên hiện đại hóa quân sự là bỉnh thường, rất bình thường thôi. Trung Quốc đang đối diện nhiều thách thức an ninh quốc gia. Như vấn đề Đài Loan. Đất nước Trung Quốc còn bị chia cắt, nhiệm vụ tái thống nhất vẫn còn đó. Đài Loan vẫn còn được trợ giúp từ bên ngoài, được Mỹ bán vũ khí. Mỹ bỏ qua một số cam kết vể vấn đề Đài Loan. Thành ra, Trung Quốc cần tăng cường khả năng quân sự.
THẾ NÀO LÀ HỮU NGHỊ?
-THIÊN TRIỀU: Gần đây tôi đang viết một bài có liên quan đến hai sự kiện mà không biết kết luận ra sao. Sự kiện thứ nhất là hôm 29/10, Thủ tướng các ông, Ôn Gia Bảo, theo AFP tường thuật, đã tuyên bố Trung Quốc sẽ hoà bình hữu nghị trên Biển Đông với các nước. Ba ngày sau, hôm 2/11 Global Times, Xinhuanet, loan tin Trung Quốc tập trận tấn công với 1800 lính thủy đánh bộ cùng 100 tàu chiến, tàu ngầm các loại ở Biển Đông. Nhật báo Global Times các ông đăng lại phát biểu của một quan chức các ông cho rằng “tập trận đó là để cho thấy sức mạnh của lính thủy đánh bộ Trung Quốc”, rằng “cuộc tập trận này là để cảnh cáo các nước nào muốn tập trận với nước khác”. Theo ông, cuộc tập trận đó chính xác nghĩa là gì?
-GS Su Hao: Ngày 2/11 à? Tôi không biết tin này. Cho dù sao đi nữa, tôi cũng cho rằng đó là chuyện bình thường cả. Trước hết, một cường quốc như Trung Quốc cần tập trận. Nước nào cũng thế, VN cũng thế phải không? Kế đến, chúng tôi cần tập trận như thế để cho một số thế lực bên ngoài thấy sức lực của chúng tôi. Đây là liên quan đến an ninh quốc gia chúng tôi, đến eo biển Đài Loan.Tiếp nữa, năm nay, như ông biết, có nhiều vấn đề. Ở Đông Bắc Á chẳng hạn, Mỹ tập trận với đồng minh Nam Hàn, Nhật Bản.
-THIÊN TRIỀU: Tôi muốn thu hút sự chú ý của ông đến một số chi tiết sau. Thứ nhất là vị trí của cuộc tập trận là trên Biển Đông gần Trường Sa. Thứ nhì là bản chất của cuộc tập trận. Đây là một cuộc tập đổ bộ tấn công chứ không phải tập phòng thủ. Tập trận cũng có dăm bảy đường tập trận. Với 1800 lính thủy đánh bộ tập đổ bộ trên Biển Đông như thế, cuộc tập trận này chính là chuyện gây “hiểu lầm” đấy. Ông nói đến Mỹ, đến Nhật, nhưng láng giềng gần sát nhất cuộc tập trận đổ bộ này lại là Việt Nam!
-GS Su Hao: Tôi nghĩ rằng, nếu quả thật là như thế, thì Trung Quốc cũng không muốn nhắm đến VN. VN không là mục tiêu của Trung Quốc. Hai nước chúng ta hữu nghị mà. Chúng tôi không nhắm VN như là một mục tiêu quân sự. Chúng tôi tập trận ở Nam Hải nhưng thật ra nhắm đến Biển Đông Bắc. Ở đó, tình hình không cân xứng. Mỹ và liên minh của họ rất mạnh…
-THIÊN TRIỀU: GS Su Hao, tôi đọc rất nhiều bài xã luận của ông trên Global Times. Ông là nhà xã luận ôn hoà nhất. Tôi muốn nhờ ông giải thích giùm tôi bài báo này đăng trong mục “Diễn đàn” tờ Global Times ấy. Tựa đề bài báo là "Trung Quốc cần hủy hoại nền kinh tế VN để tránh một cuộc chiến tranh thực sự” (China needs to destroy Vietnam’s economy to avoid real war). Bài này mới đăng hôm 8/10, cách đây không lâu, do Steven Guo biên tập. Bài này được trình bày rất đầy ý nghĩa với hai bức ảnh xe cộ như nêm ở Bắc Kinh tương phản với xe đạp ở Hà Nội.
-GS Su Hao: Tờ báo này không phải là một tờ báo nghiêm túc. Họ thích câu khách.
-THIÊN TRIỀU: Tôi vẫn tưởng đó là một tờ báo nghiêm túc vì ông, một học giả nghiêm túc, thường có bài trên đó. Ông có nghĩ rằng những bài báo như thế có ích gì cho điều gọi là tình hữu nghị hai nước? Tôi có thể đoan chắc với ông rằng không thề thấy một bài báo nào như thế trên báo chí VN.
-GS Su Hao: Đó là một tờ báo độc lập, họ muốn đăng gì thì đăng. Không cấm được.
-THIÊN TRIỀU: Tôi ngạc nhiên khi hay biết ở Trung Quốc lại tự do báo chí đến thế. Nhờ ông nói lại với Global Times rằng những bài báo như thế không hữu nghị chút nào. Nói đến hữu nghị, ông có mở truyền hình trong phòng khách sạn của ông không? Ông đếm được bao nhiêu đài của Trung Quốc?
-GS Su Hao: Có kênh 4 (CCTV4).
-THIÊN TRIỀU: Ông hãy đếm kỹ nữa đi, còn có ít nhất 4, 5 đài nữa, Quảng Đông, Phượng Hoàng, vân vân… Ông có biết chúng tôi có 64 tỉnh thành và mỗi tỉnh thành có ít nhất một đài truyền hình. Và đài nào cũng chiếu phim Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng không ở một nước nào khác trên thế giới này lại có một môi trường hữu nghị với văn hóa Trung Quốc như ở VN. Thành ra, tôi nhắc lại, tôi không nghĩ rằng những bài báo như thế lại là có ích cho hai nước.
-GS Su Hao: Tôi có thể giữ bài báo này?
-THIÊN TRIỀU: Xin mời ông. Tôi in ra để ông đọc vì quan tâm đến tình hữu nghị hai nước ấy mà.
———————–
[1] Leszek Buszynski của Đại học Quốc gia Úc. Xem “Hội thảo quốc tế về Biển Đông: Biển Đông trở thành vấn đề quốc tế”, TUỔI TRẺ Thứ Sáu, 12/11/2010.
Nguồn: Thientrieu2010 blog
Sáu quốc gia trên thế giới gồm Nga, Kazakhstan, Cuba, Morocco, Iraq và Trung Quốc, từ chối thư mời tham dự buổi Gala chào mừng giải Nobel Hòa Bình 2010 đối với nhà tranh đấu Lưu Hiểu Ba vẫn đang bị cầm tù tại Trung Quốc.
Ông Geir Lundestad, thư ký Ủy Ban Nobel ở Na Uy, cho biết sáu nước kể tên không cho biết lý do vì sao họ từ chối.
Trước đó, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc gởi văn thư đến các đại sứ quán nước ngòai ở Bắc Kinh, khuyến cáo về hậu quả của hành động mà Bắc Kinh gọi là ủng hộ ông Lưu Hiểu Ba qua việc đến Oslo ngày 10 tháng Mười Hai nhằm tham dự lễ trao giải cho ngừơi bất đồng chính kiến này.
Đăng bởi bvnpost on 19/11/2010
Tôi tên: Trần Ngọc Sương. Sinh năm 1949.
Hiện ngụ tại: số 46, đường Trần Bình Trọng, phường 5, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo quyết định Giám đốc thẩm số 22/2010/HS-GĐT, ngày 27/5/2010 của Tòa hình sự Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) về vụ án: Trần Ngọc Sương và đồng phạm bị xét xử về tội “Lập quỹ trái phép”, Tòa đã có ba ý kiến: Về một số khoản thu bị xác định là lập quỹ trái phép; Về việc xác định thiệt hại và trách nhiệm bồi thường; Về thủ tục tố tụng.
Và TANDTC đã ra quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm số 137/2009/HSPT ngày 19/11/2009 của TAND TP Cần Thơ và bản án hình sự sơ thẩm số 25/2009/HDST ngày 15/8/2009 của TAND huyện Cờ Đỏ để điều tra lại; chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát Nhân dân tối cao để điều tra lại theo thủ tục chung.
Từ ngày 14/9/2010 đến ngày 07/10/2010, tôi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Cần Thơ (CQCSĐT TP. Cần Thơ) mời đến làm việc để điều tra lại vụ án này. Trong quá trình điều tra, CQCSĐT TP. Cần Thơ có yêu cầu tôi giải trình làm rõ về khoản tiền đi công tác trong nước và nước ngoài. Qua các số liệu mà tôi được CQCSĐT TP. Cần Thơ cung cấp, cũng như của bà Hoàng Thị Bình, ông Nguyễn Văn Sơn và các bút lục do luật sư của tôi chụp được một phần, do tôi ghi chép lại bằng tay, một ít do CQCSĐT TP. Cần Thơ cung cấp. Tôi xin được giải trình làm rõ một số các sự việc như sau:
1. Số liệu của ông Trần Đình Kiên cung cấp vào ngày 20/09/2010 mà CQCSĐT TP. Cần Thơ đã kết luận cho tôi là: Đi công tác trong nước: 2.142.222.000 đ; Đi công tác nước ngoài: 144.728.000 đ; Tổng cộng: 2.286.950.000đ
Có mấy vấn đề sau đây, tôi muốn nêu ra: Bảng tổng hợp không ghi rõ nội dung chi; Những điểm chưa hợp lý, chưa thuyết phục để chứng minh số liệu tổng hợp trong quá trình điều tra để kết luận đó là số tiền đi công tác của tôi. Cụ thể:
Bảng tổng hợp không ghi rõ nội dung chi:
(Do bà Hoàng Thị Bình phụ trách, tổng hợp)
| Năm chi | Thời gian | Bút lục | Nội dung | Tổng tiền ( VNĐ ) | Ghi chú |
| 2002 2003 2004 | 05/05/02 – 19/05/02 30/08/02 – 20/09/02 30/07/02 – 25/08/02 10/06/02 – 11/07/02 25/03/02 – 29/04/02 03/10/02 – 16/10/02 09/12/02 – 03/01/03 02/11/02 – 02/12/02 28/07/03 – 14/10/03 06/01/03 – 28/02/03 | 2094 1824 1826 1827 1828 1829 1830 1831 2711 | Không có ghi nội dung chi Tổng cộng: (1) Không có ghi nội dung chi Không có ghi nội dung chi Không có ghi nội dung chi Còn lại: Không có ghi nội dung chi Không có ghi nội dung chi Không có ghi nội dung chi Không có ghi nội dung chi Tổng cộng: ( 2 ) Không có ghi nội dung chi Không có ghi nội dung chi Tổng cộng: ( 3) | 40.000.000 40.000.000 30.000.000 49.360.000 60.000.000 40.900.000 65.000.000 20.000.000 21.145.000 106.009.000 332.414.000 68.603.000 132.505.000 201.108.000 | Trong phần chi ngày 30/07/02 có ghi: 10 triệu Hà => Phát: 20 triệu. Nhưng ngày 11/07/02 trong số tiền chi 20 triệu lại có ghi chi tiết các khoản chi là 19.100.000đ nên phần tổng hợp cô Bình phải trừ giảm bớt Nhờ có ghi ở góc nhỏ của bảng kê công tác 19/12/02: 3 tr (tặng đoàn khách ) 19/12/02: 1 tr ( tặng nhà báo) 03/01/03: 1,3 tr (tặng đoàn khách) nên bớt được 5,3 tr |
| Cộng: ( 1 ) + ( 2 )+ (3) | 573.522.000 |
Trong quá trình làm việc với CQCSĐT TP. Cần Thơ, việc người thủ quỹ không ghi rõ nội dung chi như thế nào thì người tổng hợp đã tổng hợp vô tội vạ và trong quá trình khai báo đã lập lờ nêu lý do chi công tác để đẩy hết trách nhiệm về tôi. Trong các bút lục khác, nếu người thủ quỹ có ghi chi tiết các khoản chi thì có nhiều khoản chi khác được người tổng hợp tách ra khỏi nội dung đi công tác. Trường hợp người thủ quỹ không ghi nội dung chi trong bút lục, nhưng có ghi chú thích ở bên cạnh góc của bảng kê thì các khoản công tác được trừ bớt.
Tôi xin hỏi, CQCSĐT TP. Cần Thơ nhận định và đánh giá chứng cứ như thế nào về vấn đề này?
Thiết nghĩ, có phải là các số liệu trong các bút lục này hoàn toàn lệ thuộc vào sự ghi chép tùy tiện và thực sự có đầy đủ rõ ràng hay không của nhân viên thủ quỹ và sau đó là nhân viên tổng hợp cứ thế cộng vào hoặc bớt ra theo cảm tính chủ quan của mình?
Những điểm chưa hợp lý, chưa thuyết phục để chứng minh số liệu tổng hợp trong quá trình điều tra để kết luận đó là số tiền đi công tác của Trần Ngọc Sương.
1. Cách tổng hợp số liệu chưa nhất quán, mang tính cảm tính tùy tiện nhập hay bỏ qua
của 2 người tổng hợp là Hoàng Thị Bình và Nguyễn Văn Sơn.
| Người tổng hợp | Bút lục | Thời gian | Nội dung | Tổng tiền (VNĐ) | Ghi chú |
| Hoàng Thị Bình | 1820 1821 | 14-01-2002 04-02-2002 | - chi bồi dưỡng + mua quà - chi CB đi công tác+mua quà | 10.000.000 15.000.000 | - không có tính vào bảng tổng hợp - có tính vào bảng tổng hợp |
| Nguyễn Văn Sơn | 1564 1584 | 21-01-2004 28-10-2005 12-11-2005 | - chị chi bồi dưỡng cán bộ - chi bồi dưỡng + công tác - chi công tác, bồi dưỡng | 20.000.000 10.000.000 4.000.000 | - không có tính vào bảng tổng hợp - có tính vào bảng tổn ghợp - có tính vào bảng tổng hợp |
2. Thời gian được ghi chi đi công tác để tính cho Trần Ngọc Sương có nhiều điểm bất hợp lý, khó chấp nhận.
| Bút lục | Thời gian | Nội dung | Tổng tiền (VNĐ) | Ghi chú |
| 1566 | 05-02-2004 06-02-2004 | - đi công tác Hà nội - đi công tác | 10.000.000 | không hợp lý về thời gian |
| 1574 | 29-11-2004 | - chi cán bộ công tác - chi cán bộ công tác Hà nội | 60.000.000 | trong hai khoản này thì khoản nào là thực sự của tôi |
| 1575 | 03-02-2005 04-02-2005 | - chi cán bộ đi công tác - chi cán bộ đi công tác | 10.000.000 | không hợp lý về thời gian |
| 1583 | 05-10-2005 10-10-2005 12-10-2005 14-10-2005 | - mua đôla đi Inđônêsia - chi tiền mặt - đi công tác Hà nội - đi công tác Hà nội - đi công tác Hà nội | 10.000.000 10.000.000 50.000.000 10.000.000 | trong thời gian 09 ngày tôi không thể nào đi nổi 01 chuyến công tác sang Indonesia và 03 chuyến đi Hà nội |
| 1585 | 03-12-2005 05-12-2005 | - đi công tác Hà nội - chi công tác | 5.000.000 | trong hai khoản này thì khoản chi nào thực sự là của tôi |
| Tổng cộng: | 207.728.000 |
Trong tổng số tiền 207.728.000 đồng thì thực tế kinh phí đi công tác của tôi là bao nhiêu? Số tiền công tác phí còn lại là bao nhiêu và chi cho ai?
3. Việc tôi ứng tiền đi công tác, 2 thủ quỹ xác nhận với CQCSĐT đều chưa chính xác:
| Người tổng hợp | Bút lục | Thời gian | Nội dung | Tổng tiền | Ghi chú | |||
| Hoàng Thị Bình | 1826 1831 | 30-07-2002 23-11-2002 | - không có ghi nội dung chi - không có ghi nội dung chi | 20.000.000 10.000.000 | - Nhưng có ghi Hà-Phát 20.000.000 đồng - Nhưng bên góc có ghi: (Nhung đưa) | |||
| Nguyễn Văn Sơn | 1564 1565 1580 1589 | 10-01-2004 12-07-2003 12-07-2003 —– 08-04-2006 | - gởi Kình chuyển - Thuấn nhận hộ -Lượng chi cán bộ đi công tác - chi trả Phương - chị Thương đưa dùm Tổng cộng: | 10.000.000 10.000.000 10.000.000 3.200.000 2.000.000 65.200.000 |
Tổng số tiền chưa rõ ràng là: 905.450.000 đồng
Như vậy, trong tổng số tiền mà tôi bị quy kết là đi công tác trong nước và nước ngoài là 2.227.713.216 đồng đã có nhiều điểm bất cập, khó chấp nhận. Vì không phù hợp với sự thực khách quan.
Ngoài số tiền 905.450.000 đồng khó phân tích và làm rõ nhằm bảo đảm tính thuyết phục, thì trong số tiền đi công tác còn lại là 1.322.263.216 đồng (2.227.713.216 – 905.450.000) cũng khó phân tích ra phần nào do tôi chi đi công tác và phần còn lại được chi cho những ai.
Ở đây, tôi có thể đánh giá các số liệu tổng hợp lệ thuộc vào hai yếu tố:
1. Sự ghi chép bảng kê của thủ quỹ có được rõ ràng, đầy đủ hay không?
Cụ thể:
- Ở bút lục 1584:- ngày 28-10-2005 ghi chi bồi dưỡng+công tác: 10.000.000 đ.
- Ngày 12-11-2005 ghi chi công tác bồi dưỡng: 4.000.000 đ.
Do hai khoản này thủy quỹ ghi chung, không tách ra được nên bị người tổng hợp ghi quy chụp tất cả thành chi công tác cho Trần Ngọc Sương.
- Ở bút lục 1584:- ngày 26-11-2005 ghi: – chi bồi dưỡng 2.000.000 đ
- chi công tác 10.000.000 đ
Nhờ thủ quỹ ghi rõ, tách ra hai nội dung chi nên người tổng hợp mới tách bớt ra 2.000.000 đ cho khoản chi bồi dưỡng.
2. Tùy thuộc vào cảm tính của người tổng hợp:
- Ở bút lục 1564:- ngày 21-01-2004 ghi chi bồi dưỡng cán bộ: 20.000.000 đ nên người tổng hợp không tính là chi công tác.
Nhưng:
- Ở bút lục 1584: ngày 28-10-2005 ghi chi bồi dưỡng + công tác: 10.000.000đ, Ngày 12-11-2005 ghi chi công tác, bồi dưỡng: 4.000.000 đ, người tổng hợp lại tùy tiện cộng vào khoản chi công tác cho Trần Ngọc Sương vì không tách ra được bao nhiêu chi cho công tác, bao nhiêu chi cho bồi dưỡng.
Tất cả những vấn đề mà tôi đã nêu ở trên, cho thấy sự bất cập, chưa hợp lý. Ví dụ như việc ghi nội dung: chi cán bộ đi công tác đều quy kết là do tôi sử dụng. Nếu xét về mặt pháp lý, thử hỏi các cán bộ này khi khai báo có đưa ra được chứng cứ cụ thể nào để chứng minh là tôi đã ký nhận tiền từ họ không? Thế nhưng tôi có thể vẫn chấp nhận những khoản chi có ghi đích danh là chi cho tôi đi công tác và có vài người nhận hộ, và tổng số tiền là 128.000.000 đồng. Các khoản chi còn lại thì lệ thuộc vào cách ghi chép tùy tiện của 2 thủ quỹ của Nông trường: có khoản chi cho cán bộ đi công tác, có khoản ghi chi cho cả đoàn… Nhưng đều phải xác định dù cho đó là khoản chi cho tôi hay chi cho cán bộ khác đi công tác, thì tất cả các khoản đó đều phục vụ cho việc bảo vệ và phát triển Nông trường chứ không hề có tình trạng chi tiêu cá nhân, bỏ túi riêng.
Tóm lại, với những điểm phân tích và giải trình như trên của tôi, số liệu tổng hợp số tiền 2.227.713. 216 đ về các khoản chi đi công tác trong nước và ngoài nước mà Cơ quan Điều tra đã quy kết vẫn chưa minh bạch đủ sức thuyết phục để tôi có thể chấp nhận đó là chứng cứ pháp lý.
Lại xin được trình bày thêm, tôi và các cán bộ Nông trường đã không lấy những khoản tiền mà theo quy định là được hưởng. Chẳng hạn việc hướng dẫn chi phí dịch vụ, hoa hồng môi giới trong doanh nghiệp nhà nước gồm có nội dung sau:
- Thông tư 01/1998 / TT.BTC ngày 03/01/1998:
“Mức chi hoa hồng môi giới, chi phí dịch vụ được khống chế không quá 3% doanh thu nếu là các hoạt động môi giới hay dịch vụ không thể tính được phần giá trị tăng lên bằng số tiền tuyệt đối, hoặc không quá 3% trên giá trị tăng thêm, nếu xác định giá trị tuyệt đối tăng thêm. Nhưng tổng mức chi phí dịch vụ, chi hoa hồng môi giới và các khoản chi giao dịch tiếp khách, đối ngoại… phải trong phạm vi khống chế theo qui định chế độ hiện hành. Trường hợp đặc biệt các doanh nghiệp họat động chủ yếu bằng các họat động môi giới, chi phí dịch vụ, tiếp thị quảng cáo, đối ngọai, cần phải chi ở mức cao hơn thì doanh nghiệp phải làm phương án báo cáo Bộ Tài chính xem xét quyết định”.
- Thông tư 01/2000/ TB.BTC ngày 05/01/2000:
“Khoản chi giao dịch môi giới xuất khẩu phải thể hiện trong hợp đồng hoặc phụ kiện, phụ lục kèm theo và có chứng từ hợp pháp chứng minh. Nếu vì lý do đặc biệt người nhận tiền giao dịch, môi giới xuất khẩu không thể ký vào phiếu chi hoặc không đồng ý thể hiện trong hợp đồng, phụ kiện, phụ lục. Theo hợp đồng thì chứng từ chi phải có chữ ký của giám đốc, kế toán trưởng và thủ quỹ của doanh nghiệp xuất khẩu”.
- Thông tư 62/2001 TT.BTC ngày 01/08/2001:
“Khoản chi giao dịch, môi giới xuất khẩu phải thể hiện trong hợp đồng và phụ kiện, phụ lục kèm theo hợp đồng và có chứng từ hợp pháp chứng minh. Trường hợp người hưởng hoa hồng giao dịch, môi giới xuất khẩu không thể ký vào phiếu chi hoặc không đồng ý thể hiện trong hợp đồng, phụ kiện, phụ lục. Theo hợp đồng thì chứng từ chi phải có chữ ký của giám đốc, kế toán trưởng và thủ quỹ của doanh nghiệp xuất khẩu”.
Như vậy, theo 3 thông tư nói trên của Bộ Tài chính, thì từ năm 2000 đến 2003, tổng doanh số xuất khẩu, theo số liệu thống kê của Nông trường là:
| Năm | Doanh số xuất khẩu ( USD) | Tỉ lệ được sử dụng ( USD) | Số ngọai tệ được sử dụng ( USD ) | Tỉ giá VNĐ/USD | Tổng số tiền VNĐ (VNĐ) |
| 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 | 23.653.000 19.253.000 4.378.000 9.948.000 9.305.000 9.717.000 13.910.000 | 3% 3% 3% 3% 3% 3% 3% | 709.590 577.590 131.340 298.440 249.150 291.510 417.300 | 14.195 14.980 15.380 15.640 15.745 15.870 16.050 | 10.072.630.050 8.652.298.000 2.020.009.200 4.667.601.600 3.922.866.750 4.626.263.700 6.697.665.000 |
| Tổng | 89.164.000 | 3% | 2.674.920 | | 32.007.036.300 |
Như vậy, tôi được bổ nhiệm làm Giám đốc Nông trường từ năm 2000 đến năm 2006, tổng doanh số xuất khẩu là 89.164.000 đô la. Căn cứ theo 3 Thông tư nói trên của Bộ Tài chính, thì số ngoại tệ được sử dụng để phục vụ cho chi phí dịch vụ, chi hoa hồng và các khoản chi giao dịch tiếp khách, đối ngoại,…là:
89.164.000 đô la x 3% = 2.674.920 đô la. Tương đương: 32.007.036.300 VNĐ
Trong khi đó, tổng chi phí đi công tác được hạch toán vào khoản chi bên Công đoàn (tạm chấp nhận)là: 2.277.713.216 đ (1)
Theo số liệu của CQĐT cho biết, tổng chi các khoản công tác + hoa hồng môi giới bên Nông trường thanh toán là: 2.123.174.711 đ (2)
Với tổng số tiền tạm chấp nhận đã chi cho công tác là: (1) + (2) = 4.450.887.927đồng.
Như vậy, nếu so với số tiền được phép chi nói trên (32.007.036.300đ), thì chênh lệch trong khoản được phép chi còn quá xa. Điều này cho thấy, Nông trường đã rất có ý thức dè sẻn khi chi và chi rất tiết kiệm trong suốt cả quá trình hoạt động.
Tôi rất bức xúc về việc bị quy kết tội chủ mưu lập quỹ trái phép ở Nông trường Sông Hậu. Bởi lẽ, theo các Thông tư hướng dẫn trên nguyên tắc, tôi được phép chi số tiền rất lớn, lên đến 32 tỉ đồng cho mục đích kinh doanh, phát triển Nông trường. Vậy tại sao tôi lại phải chủ mưu lập quỹ trái phép cho chi phí công tác chỉ trên 2 tỉ đồng để rồi phải chịu trách nhiệm pháp luật, chịu án nhục nhã như thế này?
Trần Ngọc Sương