Ông Trần Duy, hoạ sĩ, nhà báo và thư kí toà soạn của 5 số báo Nhân văn, là một trong những người trực tiếp tham gia và trở thành nạn nhân của Vụ Nhân văn – Giai phẩm. Đây là lần đầu tiên sau hơn nửa thế kỉ im lặng, ông công khai đưa ra cái nhìn hồi tưởng của mình về sự việc này. Chúng tôi tin rằng bài viết của ông sẽ cung cấp cho độc giả những thông tin bổ ích không phải chỉ cho việc đánh giá quá khứ mà còn cho nhận thức về những sự kiện đang diễn ra tại Việt Nam hôm nay. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
talawas blog
_______________
Viết về “trăm hoa đua nở”, và phong trào đấu tranh cho dân chủ, cho tự do sáng tác của Nhân văn – Giai phẩm, nhiều tác giả nước ngoài tuy có nêu lên nhiều góc cạnh, nhưng rõ ràng chưa có một công trình nghiên cứu nào tổng hợp được về sự cố Nhân văn – Giai phẩm, chưa nói đúng được về cái hoàn cảnh đã sinh ra Nhân văn – Giai phẩm, những hoàn cảnh của từng con người, từng cảnh ngộ.
Chính việc anh Phùng Cung bị bắt làm tôi rất lo sợ và đau buồn, vì Phùng Cung không tham gia Nhân văn ngoài bài viết “Con ngựa già của Chúa Trịnh” nhằm vào một nhân vật có tên tuổi trong Hội Nhà văn (Nguyễn Tuân). Nhưng vì anh Phùng Cung có một số bài viết đầu tay đã chuyển cho một số đàn anh xem để biết, rồi không hiểu bằng cách nào đó những bản thảo ấy lại vào tay lãnh đạo (tôi không được đọc những bài viết ấy). Phùng Cung bị bắt giam vào năm tháng nào không ai rõ, không có phiên tòa nào xét xử, không rõ tội trạng, chỉ biết theo lời anh Phùng Cung thuật lại thì anh bị giam trong một trại giam đặc biệt dành cho những tội phạm quốc gia nguy hiểm; việc đối xử trong trại giam như thế nào không ai biết, chỉ biết anh Phùng Cung sau 10 năm bị giam được thả về suốt ngày không nói với ai một lời nào, như người câm, vì theo lời anh: đã ngót 10 năm anh “không được làm người”.
Tôi nhớ một cuộc họp tại trụ sở Hội Nhà văn ở đường Nguyễn Du năm 1957 dưới sự chủ tọa của Hà Minh Tuân, Nguyên Hồng… người đến họp có đông văn nghệ sĩ, trong đó có Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần…, qua những câu hỏi, những lời xác minh của các anh Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần thì đúng Phùng Cung là tác giả của những bài viết kể trên, và như vậy bản án đã úp lên đời Phùng Cung một tội trạng. Tôi còn nhớ câu của Nguyên Hồng nói sau khi kết thúc buổi họp: “Các anh lúc bình thường đối xử với nhau có vẻ trí thức lắm, nhưng lúc có sự việc xảy ra thì các anh đối xử với nhau không bằng lũ chăn trâu!”. Ra đến cổng anh Nguyên Hồng vỗ vào vai tôi và bảo: “Đã biết sợ chưa!”.
Quả tình tôi rất sợ, tất nhiên sợ về pháp luật là chính nhưng sợ hơn nữa là nhân tâm con người, sự tàn nhẫn của những con người đã bán rẻ nhân phẩm của mình để tự cứu mình, giẫm lên sinh mạng của những người khác để tự thoát thân.
Con người tôi lúc bấy giờ xen lẫn sự tuyệt vọng, sự chán nản cùng với sự sợ hãi, nghèo khó và cô đơn…
Tôi nhìn lại đống bút và màu bỏ xó ngót một năm, bỗng nhiên tôi thấy mình đã phụ bỏ một ai đó đã từng lẽo đẽo theo mình! Tôi thử cầm lại bút… nhưng việc trở lại với nghệ thuật không đơn giản như tôi muốn… Vẽ cái gì? Vẽ cho ai? Vẽ để làm gì? Và bản thân mình phải biết rõ mình là ai để vẽ!
Tôi có ý định viết thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi có một thầy dạy học cũ tên là Phạm Cư Hài nguyên làm việc tại ngân hàng, là bạn thân với Thủ tướng. Tôi viết thư cho Thủ tướng trình bày những khó khăn trong đời sống trong nghề nghiệp, và đề nghị được Thủ tướng giúp đỡ. Tôi nhờ thầy dạy chuyển hộ lá thư. Trong thời gian chưa quá một tuần Phủ Thủ tướng trả lời tôi qua Đảng ủy Bộ Văn hóa do ông Võ Hồng Cương phụ trách. Tôi được gọi đến nhà riêng ông Võ Hồng Cương ở đường Lý Thường Kiệt; ông Võ Hồng Cương vẫn nằm trên võng hỏi tôi như mắng: “Tại sao anh lại có đơn trực tiếp lên Thủ tướng?”, tiếp đó ông hỏi tôi “Anh còn vẽ được không?” và giới thiệu tôi đến Sở Văn hóa Hà Nội.
Tôi đến làm việc tại Công ty Mỹ thuật, tham gia những triển lãm: đấu tranh thống nhất đất nước, chống Mỹ Diệm, vẽ tranh áp-phích chính trị nhưng không được ký tên Trần Duy vào tranh. Với tôi, tham gia đề tài chính trị là cơ hội để có sự hiện diện của tôi trong cuộc đấu tranh cùng đất nước và dân tộc, mà có những tổ chức lúc bấy giờ muốn gạt bỏ tôi. Tôi cũng biết ở Công ty Mỹ thuật của Sở Văn hóa Hà Nội, ban lãnh đạo sử dụng tôi chỉ như một người thợ vẽ; thời gian ấy cơ quan văn hóa dùng tôi như dùng một người đang trong thời gian cải tạo lao động.
Tôi làm việc ở Công ty Mỹ thuật được ít lâu, thấy không kham nổi vì phải vẽ ngày này qua ngày nọ theo đơn đặt hàng như một cái máy… Đề tài cạn kiệt, bút pháp trở nên nhàm chán và tôi đã xin thôi việc, mà hễ nghỉ việc là không có lương. Cùng thời gian đó tôi được gọi lên Bộ Công an và được hỏi:
“Hiện nay anh có yêu cầu gì? Nguyện vọng của anh là gì?”
Tôi trả lời: “Tôi chỉ muốn được đi vẽ”, và thuật lại việc tôi đi vẽ Chùa Thầy bị bắt giam ở một điểm gác, may sao hôm ấy có ô-tô của ông Song Hào đi qua, ông thấy tôi và nhận cho tôi về. Do đó tôi có đề nghị được cấp giấy cho phép đi vẽ, vì lúc ấy Hội Mỹ thuật đã khai trừ tôi. Bộ Công an cho tôi giấy được đi vẽ với lời dặn: “Giấy này anh chỉ được dùng lúc có công an và an ninh địa phương xét hỏi”. Tôi cũng không hiểu tại sao lại có lời dặn như vậy?
Trong thời gian khó khăn ấy có nhiều cơ quan như XUNHASABA đặt tôi làm bưu thiếp, tranh lụa nhỏ của tôi ký bằng một tên khác: “Nhị Hà”, tên con gái tôi. Nhà xuất bản Quân đội cho tôi dịch và trả tiền đếm theo nghìn chữ. Tôi đã dịch những cuốn: Người Lô Lô, Histore d’une paix manquée (Lịch sử một nền hòa bình bị phá sản), các bản dịch này được trả công nhưng sách thì không được xuất bản. Có nơi thuê tôi khắc tranh gỗ (báo Vietnam, En Marche). Như vậy, tôi hiểu rằng, tuy có sự đố kỵ trong từng địa hạt, nhưng nói chung trên đất nước này và giữa dân tộc này, tôi và gia đình tôi vẫn còn được che chở, được giúp đỡ để có thể sống qua những tháng ngày gian khổ. Đó là một động lực giúp tôi sống và làm việc.
Tôi nghĩ: Cái phản bội lớn nhất là mình phản bội mình. Tôi không phản những gì tôi đã làm, đã viết, đã vẽ trong quá trình phục vụ dân tộc và đất nước tôi. Đó là lý do trong một thời gian dài tôi không quan tâm đến những điều mà nhiều người đã hiểu lầm về tôi, hiểu sai về tôi, người thì xem tôi là công an, người lại cho tôi là gián điệp, là phản động, là tất cả những gì xấu xa về một con người tham gia chính trị.
Tôi cam chịu mọi đối xử bất công cho đến năm 1987 ông Nguyễn Văn Linh có lệnh “cởi trói”, tôi được phục hồi tư cách Hội viên Hội Mỹ thuật, được vẽ như mọi người được vẽ, viết như mọi người được viết… Các bài báo tôi viết, khi đăng đều không có một ý nào bị bác bỏ. Hai cuộc triển lãm của tôi (vào các năm 1997, 2004) được công chúng và các cơ quan hữu quan ủng hộ, cổ vũ. Các sách tôi viết được in ra, bán các nơi không gặp trở ngại nào.
Những điều ấy tôi có được không do tôi xin xỏ và cầu cạnh, mà chính là những quyền và khả năng của tôi đã bị một số người tước bỏ thì nay cuộc sống công bằng đã trả lại cho tôi.
Trong thời gian im lặng của tôi, có người cho là tôi đã cộng tác với công an và phản bội phong trào… Tôi không phản bội ai, nhưng tự tôi thấy, tôi không thể đứng cùng hàng ngũ những người đã phản bội ngay chính cái tư tưởng đẹp mà họ đã từng có. Tôi đã được biết thời kỳ các anh Trần Dần, Tử Phác bị bắt giam, bị xử lý bất công. Hình ảnh của các anh ấy trong thời kỳ đấu tranh cho tự do sáng tác văn nghệ đã để lại trong tôi một niềm mến phục. Bỗng, với những tin tức về lớp chỉnh huấn ở Thái Hà ấp, những tâm hồn ấy, ở những con người ấy, đã không còn nữa!
Và như vậy, sự thay đổi ở tôi không có nghĩa là tôi đã cộng tác với công an và bán rẻ anh em. Cơ quan công an qua nhiều kinh nghiệm đã bình tĩnh nghe và cân nhắc nên không nhất nhất dựa vào những tố giác của lớp Thái Hà ấp, do đó đã không có những bắt bớ tràn lan.
Nếu có những vụ bắt các anh Trần Dần, Tử Phác lúc còn ở Văn nghệ Quân đội thì đó là do ông Tố Hữu ra lệnh cho Văn Phác bắt. Trần Dần dùng dao cứa cổ, được đưa đi bệnh viện; việc ấy đến tai ông Nguyễn Chí Thanh nên Trần Dần và Tử Phác được tha. Như vậy ngày các anh Trần Dần và Tử Phác bị bắt (tháng 2/1956) xảy ra trước ngày báo Nhân văn ra đời (20/9/1956) hơn 7 tháng. Tất nhiên không thể nói các anh bị bắt vì báo Nhân văn.
Vụ bắt bà Thụy An và các ông Phan Tại, Minh Đức và sau cùng là Nguyễn Hữu Đang (tháng 4/1958), theo tôi, là do nhiều nguyên nhân chính trị mà một người như tôi không thể biết rõ hết được. Khi xử án 5 nhân vật này (người thứ 5 là Lê Nguyên Chí, bị tố giác là tìm đường chạy trốn cho Nguyễn Hữu Đang, phiên tòa diễn ra ngày 19/1/1960), tòa đã kết họ vào tội “gián điệp chính trị”, “phá hoại hiện hành”, nhưng tựu trung, trung tâm sự việc “phá hoại hiện hành” có thể kể tên ra được vẫn là việc ra báo Nhân văn. Tại phiên xử ấy chỉ có một người của Nhân văn (Nguyễn Hữu Đang) là bị cáo, nhưng tòa gọi đến 5 người khác trong Nhân văn ra hầu tòa với tư cách nhân chứng (Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Duy, Trần Dần, Tử Phác). Đây cũng là cách xử cả bọn “cua cùng một rọ”. Án tuyên xử tuy khác nhau, nhưng lời răn đe của bản án cũng chỉ là một.
Có điều này, tôi cũng đã trình bày ở các phiên hỏi cung tại Bộ Công an. Tôi đã khai: suốt trong thời kỳ báo Nhân văn phát hành, tờ báo không có một quan hệ nào với bà Thụy An về bài vở, về thơ văn. Đó là sự thật.
Tôi còn nhớ có lần anh Lê Đạt đưa tôi bài thơ “Cái lược” ký tên Thụy An và nói: “Cậu thu xếp đăng bài này”. – Tôi hỏi ý kiến ông Phan Khôi, ông ấy bảo tôi: “Không nên cộng sự với những người trước đây ở nội thành”. – Và tôi đã trả lại bài thơ này cho Lê Đạt…
Tôi cũng có thể nói: báo Nhân văn không có quan hệ gì với Phan Tại và đoàn kịch của ông này. Thời kỳ làm báo Nhân văn tôi có nhận được một số giấy mời xem những đêm kịch do đoàn Phan Tại tổ chức tại rạp Tháng Tám. Nhưng tôi không đến xem một đêm diễn nào. Chỉ biết sau khi Nhân văn đã bị đình bản, thì mới có việc một số văn nghệ sĩ, trong đó có Lê Đạt, Thúy (vợ Lê Đạt) và Nguyễn Hữu Đang có đến chơi với bà Thụy An tại nhà Phan Tại ở phố Trần Quốc Toản (trong chuyện này, mối quan tâm chủ yếu của Đạt hình như chỉ là tìm kiếm một vài món phấn son cho cô vợ trẻ đẹp, giữa một Hà Nội đang hiếm dần các mặt hàng trang điểm “xa xỉ phẩm” mà thôi). Quan hệ ấy là do cá nhân những người ấy chịu trách nhiệm, không thể mang danh nghĩa báo Nhân văn, vì lúc ấy Nhân văn đã bị đình bản rồi.
Bà Thụy An không cùng thế hệ với tôi, nhưng thời bà phụ trách báo Đàn bà trụ sở ở góc đường Wiellé (nay là đường Tô Hiến Thành), tôi cũng được biết ít nhiều về vai trò của bà trong giới cai trị người Pháp ở Hà Nội vào những năm 1939 – 1943. Do đó tôi tự xem không cùng vai vế để quan hệ với bà Thụy An.
Như vậy, bà Thụy An và Phan Tại không hề có quan hệ nào với báo Nhân văn. Việc ghép cho thành mối quan hệ chính trị giữa một nhóm văn nghệ sĩ đấu tranh cho tự do sáng tác lành mạnh (vừa đi kháng chiến chống Pháp về) với nhóm Thụy An có tiền sử chính trị gắn với đế quốc chỉ là một chủ trương tuyên truyền, nhằm biến Nhân văn – Giai phẩm thành một bọn xấu, bị bọn tay sai đế quốc nằm vùng chỉ đạo và sử dụng.
Cùng lúc tờ báo bị đóng cửa thì cũng là lúc người thủ quỹ của báo trốn đi mang theo số tiền bán báo. Lai lịch người này tôi không biết rõ, chỉ biết là người được Nguyễn Hữu Đang nhận vào. Ông Phan Khôi nói với tôi: số ngân phiếu bưu điện của độc giả gửi đến mua báo và ủng hộ báo thì nên đem nộp trả lại người gửi qua bưu điện, để tránh những liên quan về tài chính với những nơi mình không quen biết. Như vậy khi tờ báo bị đóng cửa là lúc mọi người đều trắng tay. Cũng may mà không còn công nợ với ai, với tổ chức nào.
Nói như vậy để kết luận báo Nhân văn không có bất cứ một quan hệ tài chính nào với bất kỳ một tổ chức ngoại quốc nào, một cá nhân người nước ngoài nào. Nó tự nuôi nó và lúc chết trắng tay.
Nếu muốn nhìn lại thì theo tôi, cần nhìn lại từ những ngày đầu tháng 3 năm 1955, thời gian mà Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Hoàng Yến ở Phòng Văn nghệ Quân đội chủ trương phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Trong lúc ấy thì Xuân Trường trên báo Nhân dân, Xuân Diệu trong 2 số báo Văn nghệ (tháng 2/1955) lại tung hô hết lời khen tập thơ này. Ông Phan Khôi nói với tôi: “Không ai cấm người làm thơ dở. Nhưng cái không may là người làm thơ dở lại làm người lãnh đạo”!
Bản dự thảo của nhóm văn nghệ sĩ là quân nhân (Trần Dần, Tử Phác, Đỗ Nhuận, Trúc Lâm, v.v…, sau đó Đỗ Nhuận đã từ bỏ các chủ trương của dự thảo này, quay lại đánh Trần Dần, Tử Phác) đề nghị một số chính sách văn hóa văn nghệ trong quân đội như trả quyền lãnh đạo văn nghệ cho văn nghệ sĩ, đòi quyền tự do sáng tác, tách văn nghệ sĩ ra khỏi quy chế quân nhân – là những yêu cầu tiến bộ nhằm tạo điều kiện cho tự do tư tưởng, cho việc đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật. Chỉ có điều là nó trái ngược với chủ trương của nhóm văn nghệ sĩ đang nắm quyền lãnh đạo văn nghệ từ Việt Bắc trở về, muốn lấy thơ Tố Hữu với tập Việt Bắc làm mẫu mực duy nhất, muốn tạo ra một nền văn nghệ chỉ huy với Tố Hữu là thống soái.
Việc đề nghị cải cách chính sách văn nghệ (trong quân đội) rốt cuộc đã bị xem là hoạt động của bọn gián điệp còn giấu mặt chờ đợi thời cơ (đây là kết luận trong báo cáo kết quả chống Nhân văn – Giai phẩm của Tố Hữu). Và việc phê bình tập thơ Việt Bắc củaTố Hữu bị xem là đánh vào sự lãnh đạo và đường lối văn nghệ của Đảng! Rõ ràng đây là sự hoàn tất một mưu toan loại trừ một bộ phận văn nghệ sĩ bằng cách quy kết họ là thuộc hàng ngũ kẻ thù chống cách mạng, chống kháng chiến! Tố Hữu đã tự phong cho mình là thần tượng văn thơ cách mạng Việt Nam, và những ai chống Tố Hữu và thơ Tố Hữu nghĩa là chống cách mạng, chống Đảng, chống lại tổ quốc!
Nói một cách khác, vụ việc Nhân văn đã không được xét xử theo luật pháp nhà nước mà được xét xử theo yêu ghét của một số người lãnh đạo văn học nghệ thuật; theo chữ nghĩa thì đó là lynchage (là một thứ luật ở châu Mỹ dùng để xử gọn một đối tượng có lỗi đối với một số người), do đó sẽ thấy được việc một số người có quyền phán xử đối với những người yếu thế và không cùng xu hướng nghệ thuật với họ.
Vụ việc phê bình tập thơ Việt Bắc nổ ra hoàn toàn không phải là do một nhóm chống Đảng hay phản động nào mà thật ra là do một nhóm văn nghệ sĩ dám công khai phê phán thơ của Tố Hữu, thơ của một nhà lãnh đạo văn nghệ, là thiếu chất sống thực tế, là nhạt nhẽo, là nịnh lãnh tụ một cách đao to búa lớn, là lười tìm tòi, v.v… Điều nguy hại nhất là việc Lê Đạt buộc tội thơ của nhà cách mạng này là có “tính chất tiểu tư sản”, và Trần Dần châm biếm: “tí ti căm thù, tí ti tình cảm”, v.v…
Như vậy lớp học Thái Hà ấp chỉ nhằm đánh chết nhóm cầm đầu chống Tố Hữu và thơ Tố Hữu. Chính vì họ chống Tố Hữu và thơ Tố Hữu nên Tố Hữu đã tìm mọi cách quy nhóm này vào tội chống cách mạng, chống Đảng, phản quốc. Một số nhà thơ trẻ và mới như Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Văn Cao chẳng có tư tưởng và hành động gì chống Đảng mà chỉ có ý đồ chống “lối đàn anh” trong văn đàn của nhà thơ Tố Hữu. Vụ việc Nhân văn – Giai phẩm bắt đầu chỉ từ mâu thuẫn giữa các thi sĩ sáng tác và thi sĩ lãnh đạo! Giới văn nghệ sĩ lãnh đạo đã dựa vào những luật bất thành văn để o ép, nạt nộ và chụp mũ chính trị lên đầu giới văn nghệ sĩ sáng tác. Tôi cũng chỉ là một người bất hạnh nằm trong số những người bất hạnh muốn đi tìm một cánh cửa mở để được thở không khí trong lành.
Vì sự trừng phạt ấy, tôi khốn khổ cả một cuộc đời. Vì tôi dính Nhân văn mà gia đình bên nội bên ngoại liểng xiểng; thằng em tôi, một đại tá quân đội, đã khai chệch tên đệm (lẽ ra Trần Quang…, nhưng đổi ra Trần Hoàng…) đồng thời khai rằng chỉ là con nuôi của bố mẹ tôi, tất cả chỉ để khỏi liên đới, liên quan; anh em không nhìn mặt nhau vì cái lý lịch dính Nhân văn của tôi, mẹ tôi biết, đau khổ nên mất sớm. Cái lý lịch dính Nhân văn của tôi cũng gây khốn đốn cho chuyên môn của vợ tôi, một phiên dịch tiếng Đức kỳ cựu của Bộ Văn hóa từ thời Bộ trưởng Hoàng Minh Giám; lại thêm việc tôi bắt vợ tôi ra khỏi Đảng, thành ra sự tiến thân của vợ tôi càng khó khăn, chứ lẽ ra với học vấn rất tốt của mình, bà ấy phải hanh thông lắm. Cho đến sau này, vì lý lịch tôi dính Nhân văn mà thằng con tôi được giải kiến trúc của nước ngoài, lúc đầu không được nhận, phải nhờ can thiệp, mãi sau mới được nhận.
Sau vụ bom Mỹ cuối 1972, nhà 62 Khâm Thiên của gia đình tôi bị sập nát, vợ tôi được mang con cái vào ở tạm tại khu nhà nhân viên trong khuôn viên Bộ Văn hóa ở phố Ngô Quyền, riêng tôi thì bị cấm không được vào đó. Thời kỳ miền Bắc bị chiến tranh phá hoại, mỗi khi trận ném bom đang diễn ra trên đầu mình, nhất là khi bom đang ném xuống phố Khâm Thiên mà tôi đang ở, tôi thường tự hỏi: nếu bị bom giết chết, tôi sẽ được chết như một người Việt ngay hay là người Việt gian?
Trôi lên giạt xuống trong một thời gian dài với một số lương trợ cấp là 50 đồng/tháng của Ban Tuyên giáo Trung ương cho 5 người: Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Trần Duy, thì một hôm, sau ngày “cởi trói”, Lê Đạt báo cho tôi biết: “Có thể theo chỉ thị của ông Lê Đức Thọ, bọn chúng mình được xét về hưu”!
Hôm ký lương hưu, sau khi đã xem những giấy tờ chứng nhận hoạt động của tôi trên các chiến trường, anh Nguyễn Đình Thi, chủ tịch Ủy ban Toàn quốc các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, nói với tôi:
“Việc lương hưu của anh không do Hội quyết định; chúng tôi chỉ biết thi hành.”
Và mức lương hưu của tôi được hưởng là mức lương hưu cho cán bộ cấp huyện. Như vậy thời gian đóng góp cho kháng chiến chống Pháp của tôi xem như bị xóa sổ.
Nhưng oan khổ ấy, phần tôi, tôi xin chịu.
Riêng điều làm tôi ân hận suốt đời là việc tôi, là phóng viên báo Nhân văn, đã mời các ông Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường và bác sĩ Đặng Văn Ngữ cho ý kiến về tự do, dân chủ, nhằm đưa ra kiến nghị để lãnh đạo tạo cho họ những phương tiện thuận lợi trong việc nghiên cứu về khoa học. Sự tố giác của lớp học Thái Hà ấp quy Nhân văn thành một tổ chức phản cách mạng đã bôi nhọ ý nguyện đẹp đẽ ấy và khiến cho các nhà trí thức kể trên bị đối xử trong một thời gian dài là những phần tử xấu.
Gặp tôi, bác sĩ Đặng Văn Ngữ khi còn sống, lần nào cũng băn khoăn hỏi:
“Anh nói rõ cho tôi biết Nhân văn của các anh là thế nào?”
Câu hỏi ấy, tôi nghĩ, là câu hỏi của Đất Nước mà cho đến nay vẫn còn chưa được trả lời.
Thiết nghĩ, những người nên sớm trả lời sẽ không phải ai khác hơn là những người đã có lần lên tiếng, dù do nhận thức lúc ấy hay chỉ do a dua, đã lên án phong trào Nhân văn – Giai phẩm là gián điệp, là chống Đảng, là phản cách mạng, là phản quốc.
Thời gian đã trôi qua tròn nửa thế kỷ. Ngày mai, liệu có còn ai hiểu vấn đề và biết sự việc để có thể trả lời?
Tháng 5 – tháng 6/2009
Thursday, 8 July 2010
Wednesday, 7 July 2010
Văn học Việt ở ngoài nước trong vài năm qua
Đỗ Quyên
Là người trong cuộc, tôi thấy, văn học Việt Nam ở nước ngoài hiện nay cũng không đến nỗi nào, đâu có tẻ nhạt như nhiều người trong cuộc và ngoài cuộc từng bình giá. Tất nhiên, so với mươi năm trước, đa số các sân chơi lớn đã tan hàng. Có được rất ít nhóm còn sống hoặc mới ra, thì lại làm báo chí “trên trời”. Sách, báo chí văn học “dưới đất” càng khan hiếm, dễ tạo cảm tưởng không nắm bắt được câu chữ chăng? (Hay vì tôi lạc quan? Với cả nền văn học Việt Nam, sau khi nhìn ra điều hay dở, sự được mất, dù ở xa tôi vẫn thấy… ô-kê, xét về toàn diện, không như nhiều người đang ta thán.)
Về văn chương viết bằng tiếng Việt ở nước ngoài, để nói đúng và hay, thật không đơn giản. Một trong các lý do: có nhiều cách tiếp cận mà mỗi cách cho kết quả khác nhau. Ví dụ: Thể tài, nội dung; Quan niệm, chính kiến; Thế hệ, tuổi tác; Môi trường xuất bản; Thời kỳ, trào lưu; Khu vực địa lý v.v… Tôi chọn cách sau: Phác họa tác giả theo thể loại, rồi đi vào một số vấn đề nổi bật về nội dung và phương pháp, với thời gian trong vài ba năm nay (tạm tính tới tháng 2-2010), và theo các địa chỉ văn học ở hải ngoại là damau.org, tienve.org, gio-o.com, amvc.free.fr, thotanhinhthuc.org, Hợp Lưu, Khởi Hành, Chủ Đề, Truyền Thông…
Bức tranh xuân:
Làng văn học Việt ở nước ngoài dạo này vẫn ánh lên các tác giả của “thời hoàng kim” (khoảng 1985-1995) và “hậu hoàng kim” (khoảng 1995-2000), trong đó có không ít tên tuổi từng làm nên văn học miền Nam trước 1975.
Thơ: Du Tử Lê, Nguyễn Xuân Thiệp, Luân Hoán, Khế Iêm, Ngu Yên, Thường Quán, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Đăng Thường, Trần Mộng Tú, Chân Phương, Phan Ni Tấn, Lê Thị Huệ, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Hoài Phương, Đỗ Quyên, v.v…
Văn: Võ Phiến, Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nam Dao, Kinh Dương Vương, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Chính, Nguyễn Thị Thảo An, Miêng, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Quí Đức, Lê Thị Thấm Vân, Mai Ninh, Thế Dũng, Lê Minh Hà, v.v…
Phê bình, biên khảo: Đặng Tiến, Đặng Phùng Quân, Viên Linh, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê, Nguyễn Vy-Khanh, Trần Doãn Nho, Đoàn Cầm Thi, Nguyễn Trung Hối, v.v…
Thảo luận, đọc sách: Đào Trung Đạo, Trần Thiện Đạo, Thế Uyên, Phan Huy Đường, Nguyễn Tà Cúc, Phùng Nguyễn, v.v…
Dịch thuật: Hoàng Ngọc-Tuấn, Hoàng Ngọc Biên, Trịnh Y Thư, Nguyễn Ước, v.v…
Ký sự – thể loại còi cọc nhất trong gia đình chữ nghĩa Việt hải ngoại – nay đã có da thịt màu mỡ với Đỗ Kh., Trần Vũ, Đinh Linh, Trùng Dương…
Một số chuyển hoặc thỉnh thoảng chuyển “bàn viết” về Việt Nam: Nguyễn Văn Thọ và Mai Ninh (văn), Thận Nhiên và Trần Nghi Hoàng (thơ), Vũ Ngọc Thăng và Nguyễn Tiến Văn (dịch thuật)…
Vòng nguyệt quế nên được dành cho các tên tuổi quyết định sự chuyển đổi của văn học hải ngoại gần đây. Thơ: Lê An Thế, Đỗ Lê Anhdao, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Lương Vỵ, Vương Ngọc Minh, Lưu Diệu Vân, Trần Nguyên Đán… Văn: Thuận, Đặng Thơ Thơ, Lữ, Đoàn Minh Phượng, Hoàng Ngọc Thư, Lê Quỳnh Mai, Nguyễn Xuân Tường Vy… Dịch thuật: Lê Đình Nhất Lang… Phê bình, biên khảo: Đinh Từ Bích Thúy, Trần Thiện Huy… Đáng nể là Nguyễn Quỳnh, Ngô Văn Tao và Thái Kim Lan: ba tay bút lão luyện của văn học nghệ thuật Việt chỉ vài năm qua mới chịu tung hoành khắp các lãnh địa (nghiên cứu, kịch, văn, thơ, dịch, tiểu luận…) Các vị mới góp mặt như McAmmond Nguyen Thi Tu (văn), Nguyễn Thị Hải Hà, Nguyễn Hồng Nhung (dịch), Một Danna (thơ, tiểu luận)… nhưng nội lực đã tỏ thâm hậu.
Các nét nổi bật của văn học Việt ở nước ngoài hiện nay:
Một cách hoàn toàn hợp lý đúng thời, cả nội dung lẫn hình thức của dòng văn học này trong vài ba năm qua đã mang vóc dáng khác. Sự thành công về nghệ thuật còn là điều cần bàn thêm, nhưng phải nói rằng tác động của văn học hải ngoại tới đời sống tinh thần người Việt ở đây không còn được như từ năm 1997-1998 trở về trước.
Gần giống văn học trong nước, tính phân tán là điều dễ thấy nhất của văn chương Việt ngoài nước hiện nay. Nói theo ngôn ngữ hậu hiện đại là giải trung tâm. Về vấn đề địa văn hóa: Hoa Kỳ, về hình thức, tưởng như không còn là trung tâm “văn hóa đọc” của người Việt hải ngoại, khi mà các trang mạng nở rộ, các tạp chí văn học in bằng giấy đã rơi rụng gần hết, sách văn học được xuất bản ít hơn lá mùa thu.
Về thể tài: Nội dung không còn khu biệt ở vài đề tài quan trọng (nỗi nhớ quê hương, nối dài văn học miền Nam, thân phận ly hương, hội nhập định cư…) mà tất cả hòa vào nhau rồi được cộng thêm các đề tài mới, tới mức rất khó định danh đề tài chính như ở các thời kỳ trước; trừ đề tài muôn thuở là tình yêu. Rõ hơn cả là sự liên đề tài với các vấn đề, sự kiện lớn của cuộc sống chính trị, xã hội và văn nghệ ở Việt Nam. Nói gọn: “người và việc” ở trong nước dường như là cảm hứng sáng tạo và động lực đề tài của rất nhiều tác giả ngoài nước.
Về văn phong: giống ở trong nước, rất đa dạng và phân kỳ! Đây lại là điều không dễ hiểu; vì, trên thực tế trong thập niên qua, cuộc sống tinh thần và vật chất ở các nước bản địa mà người Việt định cư không mấy đổi thay. Trong khi đó, đời sống kinh tế, sinh hoạt xã hội ở Việt Nam, với những thăng trầm khó tưởng tượng nổi, đã cho thấy văn chương đúng là hơi thở của thời đại.
1. Sự đồng hành độc lập (và “hòa bình”!) của các cách viết mới trong ba khuynh hướng truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại:
Điều này thể hiện rõ ràng cả trong hai thể loại thơ và văn xuôi. Ở đây giới hạn trong thơ. Bốn nhà thơ quan trọng dưới đây đều định cư tại Mỹ; ba người nam thì ở cách “khu chợ Bolsa”… vài câu thơ!
Trần Mộng Tú là “liền chị liền anh” trong thể thơ truyền thống với vần điệu ổn cố, có sức viết hàng đầu góp mặt trên hầu khắp báo chí ngoài này. Khác đa số người viết “cổ điển”, sự sống của thơ Trần Mộng Tú là ở cái thần thơ mới, trẻ và sáng. Làm cho chữ (nội dung, đề tài) ở mỗi bài thơ dù cũ và quen được mang những nghĩa (tư tưởng, cảm xúc) khác. Nếu như ngày mai bỗng phục sinh tục lệ của 20-30 năm trước: chép thơ vào sổ tay, tôi xin được “cá” rằng, Trần Mộng Tú sẽ là tác giả số 1 ở hải ngoại và hẳn sẽ lọt Top 10 ở Việt Nam. Đây là đoạn kết của bài Tiễn Phạm Chi Lan, được làm trong mùa thu vừa rồi, khóc thương người bạn vắn số mà đa tài giàu tâm của văn nghệ sĩ hải ngoại: “Tôi gửi một giọt lệ / rơi trên lưng bàn tay / dẫu tay không với tới / cũng xót người hôm nay.” Nữ sĩ đã góp phần làm cho Thơ Mới của thế kỷ trước vẫn“trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa thời hậu hiện đại.
Trong số các “cây đa cây đề” của văn học miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại sau 1975 đến nay, Du Tử Lê là tác giả hiếm hoi còn viết và viết hay. Anh lại viết rất khỏe, xuất bản sách đều gần như mỗi hai năm trong hàng chục năm nay. Tập thơ mới nhất “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới”, đã ra được nửa năm, chứng tỏ nhà thơ hiện đại này – giống như thời mới nổi danh khắp miền Nam – khi cần thì giữ âm nhịp chặt chẽ làm nền cho ý tưởng và ngôn từ bay lên:[1]
“em nhường tôi chỗ ngồi
mang theo mọi chú thích”.
(Bài “bọc bên ngoài thảm kịch,”)
Thế là kể từ nay, với câu thơ trên, “chỗ ngồi” không chỉ là nơi chốn và tình cảm; mà còn là… văn bản!
Ra hải ngoại, tác giả đã kéo thơ hiện đại cuốn vào thi pháp Du Tử Lê, tạo ra những lối rẽ trong thi cảm bằng mọi phương tiện của cú pháp, ký hiệu, dấu; đôi khi làm khó chịu không ít con mắt thơ (và cả con mắt người biên tập, trình bày bài vở.) Nhiều năm trước khi lối viết hậu hiện đại phát triển ở ngoài nước và trong nước, thì các dấu gạch chéo (slash) “ / “, dấu gạch nối (hyphen) “ - “ , cách đặt dấu chấm, phẩy, không viết hoa tất cả các chữ, v.v… đã từng là “thương hiệu Du Tử Lê” rồi! Và điều đó đã thu hút nhiều hưởng ứng cũng như phản đối.
Trích đoạn sau đây từ bài “chào năm mới ở garden grove, california,” tôi đề nghị xem như con dấu thơ Du Tử Lê:
“vẫn buồn (kép,)
chia đôi:
thiên đàng / địa ngục.
em chiếc nêm
chêm giữa – -
ngực đơm / môi /
triền thơ ấu nghiêng,
thiêng bầu vú mẹ.”
Không chỉ thân thuộc giữa cộng đồng văn nghệ người Việt ở đây, Du Tử Lê là nhà thơ gốc Việt được giới thiệu nhiều nhất trong các trường đại học tại Mỹ. Người Mỹ cũng tinh đời đấy, ít nhất trong chuyện này! Thơ họ Du đi với nhạc điệu như hình với bóng: đó là tiêu chí đầu bảng của thơ Việt; Chữ nghĩa đại chúng lại sang cả: già trẻ Tây-Ta đều hiểu; Tâm trạng di dân rất đặc thù. “Tam đại sự”cho thơ Việt di dân! Hỏi còn gì hơn?
Lê An Thế có tác phẩm Thơ Lê An Thế, tự xuất bản, tháng 6-2009. Đây là một trong các thi tập xuất sắc nhất của thơ hải ngoại mà tôi được biết trong vài năm nay, và cũng có thể là xuất sắc của thơ Việt đương đại nói chung. Tràn ngập tâm thức hậu hiện đại, nhà thơ dẫn những văn bản đến thẳng mọi loại độc giả bằng cách nghĩ cách sống của chính mình. Ngôn ngữ lúc này phải làm đầy tớ! Anh không hoặc chưa dùng nhiều kỹ thuật hậu hiện đại – điều đang và sẽ còn làm rối mắt bực tim đa số bạn đọc, kể cả ở các nước văn chương hậu hiện đại ra đời và phát triển như Pháp, Mỹ… Tập Thơ Lê An Thế có vài bài mang cách nói bình dân, phàm tục, mà đúng chỗ. Trong bút danh mới, người thơ này đã không làm xấu hổ bút danh cũ từng làm náo hoạt văn học hải ngoại thời hưng thịnh: Lê Bi!
Mời độc giả thưởng lãm toàn bộ một sáng tác của Lê An Thế được làm tại Nha Trang năm ngoái, mà tôi đã có trong đầu cả một bài bình:
Nghệ thuật ngồi quán một mình
Có lúc tôi là một làn sóng một ngoại ngữ một cánh cửa
một phụ âm
qua góc quán này một người đàn bà vừa đi vừa nói vào chiếc điện thoại di động
tôi lại thất tình
với chiếc điện thoại di động
khi người đàn bà nhét nó vào túi sau quần jean
mang theo một cái mông đầy sóng
giữa những bức tường không chịu chết này
chúng ta đứng ngồi chồng chéo
tôi lại như một cái chìa khóa
đang thử cắm vào tất cả
mà vẫn giữ được sự cô độc của mình.
Nói về trào lưu, trường phái: Thơ tân hình thức Việt từng do Tạp chí Thơ và nhà thơ Khế Iêm khởi xướng là một cái mốc trên con đường đổi mới thơ Việt Nam.
Thể thơ Tân hình thức (New Formalism) phát sinh ở Mỹ hồi 1980-1990, lan sang thơ Việt trong và ngoài nước từ năm 2000, và phát triển hồi 2004-2005 với các tranh luận căng thẳng, triền miên. Thơ tân hình thức Việt có các đặc trưng: Không vần, nhịp điệu khác hẳn thơ bình thường; Hai kỹ thuật chính: vắt dòng (tùy loại 4-5-6-7 chữ, cả lục bát, thì xuống dòng theo số chữ), và lặp lại; Tứ thơ – đây là điểm quan trọng – có tính truyện; Ngôn ngữ: không tu từ; đời thường, có thể thông tục; Mục đích: đưa thơ lại gần đời sống hàng ngày. Tác dụng: Thật ra, theo tôi, thơ tân hình thức không phổ cập được; như một loại “đặc sản”, chỉ hợp một số ít cấu tứ, trạng thái nào đó. Năm 2006, ở Mỹ ra đời tuyển tập tân hình thức Việt song ngữ Thơ không vần – Blank verse, gồm 65 tác giả trong và ngoài nước. Một tuyển tập mới vừa đã được in ở cả Việt Nam và Mỹ, khiêm nhường hơn về tầm vóc và mang cái tên tiếng Việt “tân hình thức” hơn: Thơ kể – Poetry narrates, với 22 tác giả Việt toàn cầu. Nếu không tính những thi phẩm cá nhân và những hợp tuyển in ở nước ngoài, thì Thơ không vần – Blank verse (NXB Lao Động, 5-2010) là tuyển tập thơ tân hình thức đầu tiên của Việt Nam.
Cuối cùng, trước khi khép màn sáng tác thơ, tôi muốn nói nhanh rằng, cùng Lê An Thế, nhị vị Đỗ Lê Anhdao (Mỹ) và Nguyễn Đức Tùng (Canada) là các tác giả nổi trội về cách tân thơ Việt hải ngoại trong nửa thập niên qua. Đỗ Lê Anhdao, ngay khi xuất hiện, đã là hai tay thơ – song ngữ – thứ… dữ! Dữ về bút pháp văn chương. Dữ về cả thẩm mỹ nghệ thuật. Dữ luôn cả tính nữ quyền! Ba thứ dữ đó “trị” được nhau, đưa thơ của cô trở thành tiêu biểu cho phong cách nổi loạn đúng đắn với tâm trạng một nghệ sĩ di dân Thế hệ Một rưỡi trên xứ Cờ Hoa. Còn với Nguyễn Đức Tùng, tôi từng có một bài dài mang tên Bình thơ Nguyễn Đức Tùng đăng ở một vài trang mạng. Nhà thơ này như một luận lý gia thực hành, không tuyên ngôn bằng tuyên ngôn. Khoảng 80 bài thơ ngắn của anh có thể xem đã tạo nên một trong những loại “Haiku Việt”. Haiku Việt của Nguyễn Đức Tùng đưa ra luận điểm bằng các hình tượng thơ in dấu ấn xã hội, thời cuộc Việt Nam, và được nuôi dưỡng trong phong cách giễu nhại phương Tây và thi cảm phân tâm. Nhưng, đấy là một loại thơ khó, dù không có sự rối rít lộ diện như ở đa số cách viết hậu hiện đại khác.
2. Lý luận và phê bình văn học Việt ngoài nước năm 2009 có được hai tác phẩm về thơ đặc biệt và giá trị:
Đó là Thơ – Thi pháp và chân dung của nhà phê bình văn học Đặng Tiến (Pháp) và Thơ đến từ đâu của nhà thơ, nhà biên khảo Nguyễn Đức Tùng. Điều dễ nhận ra ở hai cuốn sách là các vấn đề của thơ Việt trong nửa thế kỷ qua, ở cả hai miền Bắc và Nam, ngoài nước và trong nước, có lẽ lần đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam, trong một hình thức hợp tuyển độc đáo: hoặc là gồm những bài phê bình đã đăng rải rác được viết theo cách tiếp cận riêng để thấy thơ “như một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” (với Đặng Tiến), hoặc là gồm những phỏng vấn các nhà thơ, nhưng không theo cách thức và nội dung phỏng vấn bình thường mà dùng bút pháp văn chương lấy thơ vừa làm phương tiện vừa làm mục đích (với Nguyễn Đức Tùng).
Riêng cuốn Thơ đến từ đâu là một sự kiện văn học đặc biệt trong năm! Ngay khi mới ra đời đã được dư luận và văn giới quan tâm sôi nổi qua nhiều tháng trời trên nhiều báo chí, trang mạng ở trong cũng như ngoài nước, trên nhiều phương diện trong cũng như ngoài văn chương. Quả là một cuốn sách mang số phận trôi nổi – số phận của Thi ca! Và sự ra đời của nó ở Việt Nam tự thân đã là một kỳ công – kỳ công của Thi ca! Cuộc Hội thảo 6-1-2010 tại Hà Nội, do Trung tâm văn hoá Pháp L’Espace và Công ty TKK Concert phối hợp tổ chức, đã thu hút hàng chục tham luận của các tay bút có uy tín và năng động trong sinh hoạt học thuật và phê bình Việt Nam như Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Tiến, Dương Tường, Phạm Toàn, Tô Nhuận Vỹ, Chu Văn Sơn, Văn Giá, Trần Thiện Khanh, Đặng Thân… Tạp chí Sông Hương đã tập trung các tham luận này thành Chuyên đề: Về cuốn “Thơ đến từ đâu” trên trang mạng của mình. Cuộc Tọa đàm Thơ đến từ đâu 6-6-2010 đã được nằm trong Chương trình Festival Huế 2010 với chủ đề “Di sản Văn hóa với hội nhập và phát triển”, qua tham luận, ý kiến của các văn thi sĩ, phê bình gia khắp ba miền đất nước: Mai Văn Hoan, Phạm Xuân Nguyên, Hồ Thế Hà, Nguyễn Tiến Văn, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Phạm Nguyên Tường, Hoàng Vũ Thuật, Khánh Phương, Inrasara, Phùng Tấn Đông… Bản tin của Tạp chí Sông Hương cho thấy hội thảo này “xoay quanh các vấn đề của thơ ca như các xu hướng, các trường phái thơ ca hiện nay, về các khái niệm thơ cũng như những hành trình thơ ca của những người viết trẻ…”
Mong rằng, ý nghĩa chuyển đổi quan niệm nhìn nhận bản thể văn học Việt Nam của hai tác phẩm ấy sẽ còn được độc giả và giới phê bình khắp nơi bàn thảo.
3. Văn học Việt hải ngoại chuyên chở tinh thần thế giới:
Đó như hai núm đồng tiền làm đẹp gương mặt văn xuôi tiếng Việt ở nước ngoài mà trong các thời kỳ trước không sao có được. Đành rằng, trong thơ, như ở các tác giả trên, cũng có “thế giới”. Nhưng thơ bao giờ cũng là thơ! Khó… sờ mó được như truyện, ký với các sự kiện, biến cố mang tính sống còn của loài người: khủng bố tôn giáo, xung đột văn hóa… Công này thuộc về các nhà văn McAmmond Nguyen Thi Tu và Hoàng Chính (Canada), Đỗ Kh., Nguyễn Thị Thảo An (Mỹ), và Miêng (Pháp).
Với lối kể chuyện chỉn chu mà tự nhiên, McAmmond Nguyen Thi Tu là tác giả đã quen thuộc của bạn đọc trong nước qua các truyện ngắn đậm đà sự hòa lưu văn hóa, tập tục của người di dân trên thế giới. Nhiều tháng qua, loạt truyện xuất hiện trên trang mạng Da Màu của chị đã làm nở bung những lời bình ngưỡng mộ cùng các phản biện thú vị.
4. Đời sống của người Việt xa xứ:
Từ Đức, đã có hai tiểu thuyết về người Việt ở các nước Đông Âu đều mới được xuất bản ở trong nước vào năm Kỷ Sửu và nhận được sự quan tâm đáng kể. Đó là Quyên của nhà văn Nguyễn Văn Thọ, và Một nửa lá số của nhà thơ Thế Dũng. Nhiều bài viết, phỏng vấn đã dành cho tiểu thuyết Quyên như một trong những cuốn sách tiêu biểu thời đại di dân có tính toàn cầu, ở đó “số phận mong manh của một người phụ nữ Việt trôi nổi trên xứ người đã được văn học soi rọi khách quan và trân trọng.” (theo Nguyễn Thị Anh Thư)
Là điều bạn đọc đã biết, nhưng ở đây không thể quên nhắc đến nữ sĩ Thuận (Pháp) từng là “mẹ đẻ” 5 tác phẩm trong đúng ngần ấy năm: Made in Viêtnam (bản tiếng Pháp xuất bản tại Pháp năm 2009), Phố Tàu, Paris 11 tháng 8 (tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2006), T mất tích, và Vân Vy.
5. Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài:
Với sự kiện có tầm vóc và ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt học thuật của văn hóa và văn học Việt, không ít văn nghệ sĩ hải ngoại có tên trong bài này từng đã quan tâm, tham luận, tham dự…
Tại Hội nghị (đầu tháng 1-2010, Hà Nội), và trên trang mạng Hội Nhà văn Việt Nam, Thế Dũng có tham luận Trong các xung lực của ngoại giao văn hóa chứa nhiều thông tin cụ thể về văn chương Việt Nam với độc giả người Đức.
Khế Iêm với bài Vài ghi nhận trong việc biên tập thơ song ngữ (trang mạng laxanh.vn) nêu các ý tưởng và kinh nghiệm mới mẻ, thực dụng trong việc dịch thơ từ tiếng Việt ra tiếng Anh.
Tham luận gửi tới Hội nghị của tôi mang tên Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt đã đề nghị lưu tâm một đề tài xứng đáng làm vùng sáng trong thơ Việt, cần được thể hiện trên văn đàn quốc tế. Đó là trào lưu trường ca Việt Nam! [2]
Quan niệm rằng, thể loại như một thi pháp, cảm hứng chủ đạo như một phương pháp, chúng tôi chia sẻ cùng nhận định của nhà nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn [3], “về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 20 đến giờ”.
Với thống kê sơ bộ còn nhiều thiếu sót, danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam của chúng tôi cho thấy, kể từ thời Thơ Mới tới nay, có 122 nhà thơ Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài có ý nghĩa tương đương. Trong danh sách này, một cách tương đối, có thể xem Phạm Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng “Tiếng Địch Sông Ô” ra đời năm 1935, và mới nhất là Trương Thìn với “Mấy Cõi Rong Vui” vừa ra mắt ở TP Hồ Chí Minh trong tháng 5-2010.
Đội ngũ các nhà trường ca Việt đó từng có cả một “trung đội” lừng danh từ những năm tháng khói lửa chiến tranh 1962-75 và sau đó vài năm là Thu Bồn và Thanh Thảo, là Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh, là Anh Ngọc và Nguyễn Đức Mậu… được nối tiếp tới thời hậu chiến là những Trần Mạnh Hảo và Thi Hoàng, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái và Nguyễn Quang Thiều… Còn Trần Dần và Lê Đạt – hai tác giả quan trọng khác của trường ca Việt – thì đã đưa thể loại văn học ngoại cỡ này tới tầm kích lạ lẫm về ngôn từ và sâu sắc về nhân sinh. Ở ngoài nước, ít ỏi không thành phong trào, nhưng cũng có các tác giả với những đóng góp thay đổi cần thiết về cả hình thức, cấu tứ lẫn nội dung, cảm hứng của trường ca Việt; đó là Du Tử Lê và Cao Đông Khánh, là Trần Nghi Hoàng và Đỗ Quyên.
Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam – nếu có thể gọi như vậy – đặc sắc và Việt tính! Đó không là một tập hợp có chủ định, có đường hướng của nhóm các thi sĩ chung phương pháp, quan niệm theo một nhóm phái thông thường. Đó là phản ứng dây chuyền sáng tạo“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có ý thức của từng nghệ sĩ hòa cùng cảm xúc tráng ca của đất nước và sử thi của dân tộc trong một thời đại bi hùng của nhân loại. Qua thập niên đầu thế kỷ 21, con sông trường ca Việt hiện đại ấy cũng trở mình theo tâm thức chung của văn học Việt Nam và thế giới, từ thể tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ. Và, lẽ tự nhiên, đã có không ít biểu hiện của trường ca Việt mang gương mặt hậu hiện đại.
*
Các lối đi, các cây rừng nói trên chưa thể cho thấy rõ khu rừng văn chương Việt Nam ở ngoài nước; và xin coi đó làm lời ước hẹn các bài về sau, trên trang báo này hay nơi khác…
Vancouver & Hà Nội (Hoàn thành 1-2010; Cập nhật 4-7-2010)
ĐỖ QUYÊN
Chú thích:
* Bài đã đăng lần đầu trên tuần báo Người Hà Nội, số 27, ngày 2-7-2010. Đây là bản mới nhất với một số tu chỉnh nhỏ.
Là người trong cuộc, tôi thấy, văn học Việt Nam ở nước ngoài hiện nay cũng không đến nỗi nào, đâu có tẻ nhạt như nhiều người trong cuộc và ngoài cuộc từng bình giá. Tất nhiên, so với mươi năm trước, đa số các sân chơi lớn đã tan hàng. Có được rất ít nhóm còn sống hoặc mới ra, thì lại làm báo chí “trên trời”. Sách, báo chí văn học “dưới đất” càng khan hiếm, dễ tạo cảm tưởng không nắm bắt được câu chữ chăng? (Hay vì tôi lạc quan? Với cả nền văn học Việt Nam, sau khi nhìn ra điều hay dở, sự được mất, dù ở xa tôi vẫn thấy… ô-kê, xét về toàn diện, không như nhiều người đang ta thán.)
Về văn chương viết bằng tiếng Việt ở nước ngoài, để nói đúng và hay, thật không đơn giản. Một trong các lý do: có nhiều cách tiếp cận mà mỗi cách cho kết quả khác nhau. Ví dụ: Thể tài, nội dung; Quan niệm, chính kiến; Thế hệ, tuổi tác; Môi trường xuất bản; Thời kỳ, trào lưu; Khu vực địa lý v.v… Tôi chọn cách sau: Phác họa tác giả theo thể loại, rồi đi vào một số vấn đề nổi bật về nội dung và phương pháp, với thời gian trong vài ba năm nay (tạm tính tới tháng 2-2010), và theo các địa chỉ văn học ở hải ngoại là damau.org, tienve.org, gio-o.com, amvc.free.fr, thotanhinhthuc.org, Hợp Lưu, Khởi Hành, Chủ Đề, Truyền Thông…
Bức tranh xuân:
Làng văn học Việt ở nước ngoài dạo này vẫn ánh lên các tác giả của “thời hoàng kim” (khoảng 1985-1995) và “hậu hoàng kim” (khoảng 1995-2000), trong đó có không ít tên tuổi từng làm nên văn học miền Nam trước 1975.
Thơ: Du Tử Lê, Nguyễn Xuân Thiệp, Luân Hoán, Khế Iêm, Ngu Yên, Thường Quán, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Đăng Thường, Trần Mộng Tú, Chân Phương, Phan Ni Tấn, Lê Thị Huệ, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Hoài Phương, Đỗ Quyên, v.v…
Văn: Võ Phiến, Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nam Dao, Kinh Dương Vương, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Chính, Nguyễn Thị Thảo An, Miêng, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Quí Đức, Lê Thị Thấm Vân, Mai Ninh, Thế Dũng, Lê Minh Hà, v.v…
Phê bình, biên khảo: Đặng Tiến, Đặng Phùng Quân, Viên Linh, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê, Nguyễn Vy-Khanh, Trần Doãn Nho, Đoàn Cầm Thi, Nguyễn Trung Hối, v.v…
Thảo luận, đọc sách: Đào Trung Đạo, Trần Thiện Đạo, Thế Uyên, Phan Huy Đường, Nguyễn Tà Cúc, Phùng Nguyễn, v.v…
Dịch thuật: Hoàng Ngọc-Tuấn, Hoàng Ngọc Biên, Trịnh Y Thư, Nguyễn Ước, v.v…
Ký sự – thể loại còi cọc nhất trong gia đình chữ nghĩa Việt hải ngoại – nay đã có da thịt màu mỡ với Đỗ Kh., Trần Vũ, Đinh Linh, Trùng Dương…
Một số chuyển hoặc thỉnh thoảng chuyển “bàn viết” về Việt Nam: Nguyễn Văn Thọ và Mai Ninh (văn), Thận Nhiên và Trần Nghi Hoàng (thơ), Vũ Ngọc Thăng và Nguyễn Tiến Văn (dịch thuật)…
Vòng nguyệt quế nên được dành cho các tên tuổi quyết định sự chuyển đổi của văn học hải ngoại gần đây. Thơ: Lê An Thế, Đỗ Lê Anhdao, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Lương Vỵ, Vương Ngọc Minh, Lưu Diệu Vân, Trần Nguyên Đán… Văn: Thuận, Đặng Thơ Thơ, Lữ, Đoàn Minh Phượng, Hoàng Ngọc Thư, Lê Quỳnh Mai, Nguyễn Xuân Tường Vy… Dịch thuật: Lê Đình Nhất Lang… Phê bình, biên khảo: Đinh Từ Bích Thúy, Trần Thiện Huy… Đáng nể là Nguyễn Quỳnh, Ngô Văn Tao và Thái Kim Lan: ba tay bút lão luyện của văn học nghệ thuật Việt chỉ vài năm qua mới chịu tung hoành khắp các lãnh địa (nghiên cứu, kịch, văn, thơ, dịch, tiểu luận…) Các vị mới góp mặt như McAmmond Nguyen Thi Tu (văn), Nguyễn Thị Hải Hà, Nguyễn Hồng Nhung (dịch), Một Danna (thơ, tiểu luận)… nhưng nội lực đã tỏ thâm hậu.
Các nét nổi bật của văn học Việt ở nước ngoài hiện nay:
Một cách hoàn toàn hợp lý đúng thời, cả nội dung lẫn hình thức của dòng văn học này trong vài ba năm qua đã mang vóc dáng khác. Sự thành công về nghệ thuật còn là điều cần bàn thêm, nhưng phải nói rằng tác động của văn học hải ngoại tới đời sống tinh thần người Việt ở đây không còn được như từ năm 1997-1998 trở về trước.
Gần giống văn học trong nước, tính phân tán là điều dễ thấy nhất của văn chương Việt ngoài nước hiện nay. Nói theo ngôn ngữ hậu hiện đại là giải trung tâm. Về vấn đề địa văn hóa: Hoa Kỳ, về hình thức, tưởng như không còn là trung tâm “văn hóa đọc” của người Việt hải ngoại, khi mà các trang mạng nở rộ, các tạp chí văn học in bằng giấy đã rơi rụng gần hết, sách văn học được xuất bản ít hơn lá mùa thu.
Về thể tài: Nội dung không còn khu biệt ở vài đề tài quan trọng (nỗi nhớ quê hương, nối dài văn học miền Nam, thân phận ly hương, hội nhập định cư…) mà tất cả hòa vào nhau rồi được cộng thêm các đề tài mới, tới mức rất khó định danh đề tài chính như ở các thời kỳ trước; trừ đề tài muôn thuở là tình yêu. Rõ hơn cả là sự liên đề tài với các vấn đề, sự kiện lớn của cuộc sống chính trị, xã hội và văn nghệ ở Việt Nam. Nói gọn: “người và việc” ở trong nước dường như là cảm hứng sáng tạo và động lực đề tài của rất nhiều tác giả ngoài nước.
Về văn phong: giống ở trong nước, rất đa dạng và phân kỳ! Đây lại là điều không dễ hiểu; vì, trên thực tế trong thập niên qua, cuộc sống tinh thần và vật chất ở các nước bản địa mà người Việt định cư không mấy đổi thay. Trong khi đó, đời sống kinh tế, sinh hoạt xã hội ở Việt Nam, với những thăng trầm khó tưởng tượng nổi, đã cho thấy văn chương đúng là hơi thở của thời đại.
1. Sự đồng hành độc lập (và “hòa bình”!) của các cách viết mới trong ba khuynh hướng truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại:
Điều này thể hiện rõ ràng cả trong hai thể loại thơ và văn xuôi. Ở đây giới hạn trong thơ. Bốn nhà thơ quan trọng dưới đây đều định cư tại Mỹ; ba người nam thì ở cách “khu chợ Bolsa”… vài câu thơ!
Trần Mộng Tú là “liền chị liền anh” trong thể thơ truyền thống với vần điệu ổn cố, có sức viết hàng đầu góp mặt trên hầu khắp báo chí ngoài này. Khác đa số người viết “cổ điển”, sự sống của thơ Trần Mộng Tú là ở cái thần thơ mới, trẻ và sáng. Làm cho chữ (nội dung, đề tài) ở mỗi bài thơ dù cũ và quen được mang những nghĩa (tư tưởng, cảm xúc) khác. Nếu như ngày mai bỗng phục sinh tục lệ của 20-30 năm trước: chép thơ vào sổ tay, tôi xin được “cá” rằng, Trần Mộng Tú sẽ là tác giả số 1 ở hải ngoại và hẳn sẽ lọt Top 10 ở Việt Nam. Đây là đoạn kết của bài Tiễn Phạm Chi Lan, được làm trong mùa thu vừa rồi, khóc thương người bạn vắn số mà đa tài giàu tâm của văn nghệ sĩ hải ngoại: “Tôi gửi một giọt lệ / rơi trên lưng bàn tay / dẫu tay không với tới / cũng xót người hôm nay.” Nữ sĩ đã góp phần làm cho Thơ Mới của thế kỷ trước vẫn“trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa thời hậu hiện đại.
Trong số các “cây đa cây đề” của văn học miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại sau 1975 đến nay, Du Tử Lê là tác giả hiếm hoi còn viết và viết hay. Anh lại viết rất khỏe, xuất bản sách đều gần như mỗi hai năm trong hàng chục năm nay. Tập thơ mới nhất “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới”, đã ra được nửa năm, chứng tỏ nhà thơ hiện đại này – giống như thời mới nổi danh khắp miền Nam – khi cần thì giữ âm nhịp chặt chẽ làm nền cho ý tưởng và ngôn từ bay lên:[1]
“em nhường tôi chỗ ngồi
mang theo mọi chú thích”.
(Bài “bọc bên ngoài thảm kịch,”)
Thế là kể từ nay, với câu thơ trên, “chỗ ngồi” không chỉ là nơi chốn và tình cảm; mà còn là… văn bản!
Ra hải ngoại, tác giả đã kéo thơ hiện đại cuốn vào thi pháp Du Tử Lê, tạo ra những lối rẽ trong thi cảm bằng mọi phương tiện của cú pháp, ký hiệu, dấu; đôi khi làm khó chịu không ít con mắt thơ (và cả con mắt người biên tập, trình bày bài vở.) Nhiều năm trước khi lối viết hậu hiện đại phát triển ở ngoài nước và trong nước, thì các dấu gạch chéo (slash) “ / “, dấu gạch nối (hyphen) “ - “ , cách đặt dấu chấm, phẩy, không viết hoa tất cả các chữ, v.v… đã từng là “thương hiệu Du Tử Lê” rồi! Và điều đó đã thu hút nhiều hưởng ứng cũng như phản đối.
Trích đoạn sau đây từ bài “chào năm mới ở garden grove, california,” tôi đề nghị xem như con dấu thơ Du Tử Lê:
“vẫn buồn (kép,)
chia đôi:
thiên đàng / địa ngục.
em chiếc nêm
chêm giữa – -
ngực đơm / môi /
triền thơ ấu nghiêng,
thiêng bầu vú mẹ.”
Không chỉ thân thuộc giữa cộng đồng văn nghệ người Việt ở đây, Du Tử Lê là nhà thơ gốc Việt được giới thiệu nhiều nhất trong các trường đại học tại Mỹ. Người Mỹ cũng tinh đời đấy, ít nhất trong chuyện này! Thơ họ Du đi với nhạc điệu như hình với bóng: đó là tiêu chí đầu bảng của thơ Việt; Chữ nghĩa đại chúng lại sang cả: già trẻ Tây-Ta đều hiểu; Tâm trạng di dân rất đặc thù. “Tam đại sự”cho thơ Việt di dân! Hỏi còn gì hơn?
Lê An Thế có tác phẩm Thơ Lê An Thế, tự xuất bản, tháng 6-2009. Đây là một trong các thi tập xuất sắc nhất của thơ hải ngoại mà tôi được biết trong vài năm nay, và cũng có thể là xuất sắc của thơ Việt đương đại nói chung. Tràn ngập tâm thức hậu hiện đại, nhà thơ dẫn những văn bản đến thẳng mọi loại độc giả bằng cách nghĩ cách sống của chính mình. Ngôn ngữ lúc này phải làm đầy tớ! Anh không hoặc chưa dùng nhiều kỹ thuật hậu hiện đại – điều đang và sẽ còn làm rối mắt bực tim đa số bạn đọc, kể cả ở các nước văn chương hậu hiện đại ra đời và phát triển như Pháp, Mỹ… Tập Thơ Lê An Thế có vài bài mang cách nói bình dân, phàm tục, mà đúng chỗ. Trong bút danh mới, người thơ này đã không làm xấu hổ bút danh cũ từng làm náo hoạt văn học hải ngoại thời hưng thịnh: Lê Bi!
Mời độc giả thưởng lãm toàn bộ một sáng tác của Lê An Thế được làm tại Nha Trang năm ngoái, mà tôi đã có trong đầu cả một bài bình:
Nghệ thuật ngồi quán một mình
Có lúc tôi là một làn sóng một ngoại ngữ một cánh cửa
một phụ âm
qua góc quán này một người đàn bà vừa đi vừa nói vào chiếc điện thoại di động
tôi lại thất tình
với chiếc điện thoại di động
khi người đàn bà nhét nó vào túi sau quần jean
mang theo một cái mông đầy sóng
giữa những bức tường không chịu chết này
chúng ta đứng ngồi chồng chéo
tôi lại như một cái chìa khóa
đang thử cắm vào tất cả
mà vẫn giữ được sự cô độc của mình.
Nói về trào lưu, trường phái: Thơ tân hình thức Việt từng do Tạp chí Thơ và nhà thơ Khế Iêm khởi xướng là một cái mốc trên con đường đổi mới thơ Việt Nam.
Thể thơ Tân hình thức (New Formalism) phát sinh ở Mỹ hồi 1980-1990, lan sang thơ Việt trong và ngoài nước từ năm 2000, và phát triển hồi 2004-2005 với các tranh luận căng thẳng, triền miên. Thơ tân hình thức Việt có các đặc trưng: Không vần, nhịp điệu khác hẳn thơ bình thường; Hai kỹ thuật chính: vắt dòng (tùy loại 4-5-6-7 chữ, cả lục bát, thì xuống dòng theo số chữ), và lặp lại; Tứ thơ – đây là điểm quan trọng – có tính truyện; Ngôn ngữ: không tu từ; đời thường, có thể thông tục; Mục đích: đưa thơ lại gần đời sống hàng ngày. Tác dụng: Thật ra, theo tôi, thơ tân hình thức không phổ cập được; như một loại “đặc sản”, chỉ hợp một số ít cấu tứ, trạng thái nào đó. Năm 2006, ở Mỹ ra đời tuyển tập tân hình thức Việt song ngữ Thơ không vần – Blank verse, gồm 65 tác giả trong và ngoài nước. Một tuyển tập mới vừa đã được in ở cả Việt Nam và Mỹ, khiêm nhường hơn về tầm vóc và mang cái tên tiếng Việt “tân hình thức” hơn: Thơ kể – Poetry narrates, với 22 tác giả Việt toàn cầu. Nếu không tính những thi phẩm cá nhân và những hợp tuyển in ở nước ngoài, thì Thơ không vần – Blank verse (NXB Lao Động, 5-2010) là tuyển tập thơ tân hình thức đầu tiên của Việt Nam.
Cuối cùng, trước khi khép màn sáng tác thơ, tôi muốn nói nhanh rằng, cùng Lê An Thế, nhị vị Đỗ Lê Anhdao (Mỹ) và Nguyễn Đức Tùng (Canada) là các tác giả nổi trội về cách tân thơ Việt hải ngoại trong nửa thập niên qua. Đỗ Lê Anhdao, ngay khi xuất hiện, đã là hai tay thơ – song ngữ – thứ… dữ! Dữ về bút pháp văn chương. Dữ về cả thẩm mỹ nghệ thuật. Dữ luôn cả tính nữ quyền! Ba thứ dữ đó “trị” được nhau, đưa thơ của cô trở thành tiêu biểu cho phong cách nổi loạn đúng đắn với tâm trạng một nghệ sĩ di dân Thế hệ Một rưỡi trên xứ Cờ Hoa. Còn với Nguyễn Đức Tùng, tôi từng có một bài dài mang tên Bình thơ Nguyễn Đức Tùng đăng ở một vài trang mạng. Nhà thơ này như một luận lý gia thực hành, không tuyên ngôn bằng tuyên ngôn. Khoảng 80 bài thơ ngắn của anh có thể xem đã tạo nên một trong những loại “Haiku Việt”. Haiku Việt của Nguyễn Đức Tùng đưa ra luận điểm bằng các hình tượng thơ in dấu ấn xã hội, thời cuộc Việt Nam, và được nuôi dưỡng trong phong cách giễu nhại phương Tây và thi cảm phân tâm. Nhưng, đấy là một loại thơ khó, dù không có sự rối rít lộ diện như ở đa số cách viết hậu hiện đại khác.
2. Lý luận và phê bình văn học Việt ngoài nước năm 2009 có được hai tác phẩm về thơ đặc biệt và giá trị:
Đó là Thơ – Thi pháp và chân dung của nhà phê bình văn học Đặng Tiến (Pháp) và Thơ đến từ đâu của nhà thơ, nhà biên khảo Nguyễn Đức Tùng. Điều dễ nhận ra ở hai cuốn sách là các vấn đề của thơ Việt trong nửa thế kỷ qua, ở cả hai miền Bắc và Nam, ngoài nước và trong nước, có lẽ lần đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam, trong một hình thức hợp tuyển độc đáo: hoặc là gồm những bài phê bình đã đăng rải rác được viết theo cách tiếp cận riêng để thấy thơ “như một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” (với Đặng Tiến), hoặc là gồm những phỏng vấn các nhà thơ, nhưng không theo cách thức và nội dung phỏng vấn bình thường mà dùng bút pháp văn chương lấy thơ vừa làm phương tiện vừa làm mục đích (với Nguyễn Đức Tùng).
Riêng cuốn Thơ đến từ đâu là một sự kiện văn học đặc biệt trong năm! Ngay khi mới ra đời đã được dư luận và văn giới quan tâm sôi nổi qua nhiều tháng trời trên nhiều báo chí, trang mạng ở trong cũng như ngoài nước, trên nhiều phương diện trong cũng như ngoài văn chương. Quả là một cuốn sách mang số phận trôi nổi – số phận của Thi ca! Và sự ra đời của nó ở Việt Nam tự thân đã là một kỳ công – kỳ công của Thi ca! Cuộc Hội thảo 6-1-2010 tại Hà Nội, do Trung tâm văn hoá Pháp L’Espace và Công ty TKK Concert phối hợp tổ chức, đã thu hút hàng chục tham luận của các tay bút có uy tín và năng động trong sinh hoạt học thuật và phê bình Việt Nam như Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Tiến, Dương Tường, Phạm Toàn, Tô Nhuận Vỹ, Chu Văn Sơn, Văn Giá, Trần Thiện Khanh, Đặng Thân… Tạp chí Sông Hương đã tập trung các tham luận này thành Chuyên đề: Về cuốn “Thơ đến từ đâu” trên trang mạng của mình. Cuộc Tọa đàm Thơ đến từ đâu 6-6-2010 đã được nằm trong Chương trình Festival Huế 2010 với chủ đề “Di sản Văn hóa với hội nhập và phát triển”, qua tham luận, ý kiến của các văn thi sĩ, phê bình gia khắp ba miền đất nước: Mai Văn Hoan, Phạm Xuân Nguyên, Hồ Thế Hà, Nguyễn Tiến Văn, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Phạm Nguyên Tường, Hoàng Vũ Thuật, Khánh Phương, Inrasara, Phùng Tấn Đông… Bản tin của Tạp chí Sông Hương cho thấy hội thảo này “xoay quanh các vấn đề của thơ ca như các xu hướng, các trường phái thơ ca hiện nay, về các khái niệm thơ cũng như những hành trình thơ ca của những người viết trẻ…”
Mong rằng, ý nghĩa chuyển đổi quan niệm nhìn nhận bản thể văn học Việt Nam của hai tác phẩm ấy sẽ còn được độc giả và giới phê bình khắp nơi bàn thảo.
3. Văn học Việt hải ngoại chuyên chở tinh thần thế giới:
Đó như hai núm đồng tiền làm đẹp gương mặt văn xuôi tiếng Việt ở nước ngoài mà trong các thời kỳ trước không sao có được. Đành rằng, trong thơ, như ở các tác giả trên, cũng có “thế giới”. Nhưng thơ bao giờ cũng là thơ! Khó… sờ mó được như truyện, ký với các sự kiện, biến cố mang tính sống còn của loài người: khủng bố tôn giáo, xung đột văn hóa… Công này thuộc về các nhà văn McAmmond Nguyen Thi Tu và Hoàng Chính (Canada), Đỗ Kh., Nguyễn Thị Thảo An (Mỹ), và Miêng (Pháp).
Với lối kể chuyện chỉn chu mà tự nhiên, McAmmond Nguyen Thi Tu là tác giả đã quen thuộc của bạn đọc trong nước qua các truyện ngắn đậm đà sự hòa lưu văn hóa, tập tục của người di dân trên thế giới. Nhiều tháng qua, loạt truyện xuất hiện trên trang mạng Da Màu của chị đã làm nở bung những lời bình ngưỡng mộ cùng các phản biện thú vị.
4. Đời sống của người Việt xa xứ:
Từ Đức, đã có hai tiểu thuyết về người Việt ở các nước Đông Âu đều mới được xuất bản ở trong nước vào năm Kỷ Sửu và nhận được sự quan tâm đáng kể. Đó là Quyên của nhà văn Nguyễn Văn Thọ, và Một nửa lá số của nhà thơ Thế Dũng. Nhiều bài viết, phỏng vấn đã dành cho tiểu thuyết Quyên như một trong những cuốn sách tiêu biểu thời đại di dân có tính toàn cầu, ở đó “số phận mong manh của một người phụ nữ Việt trôi nổi trên xứ người đã được văn học soi rọi khách quan và trân trọng.” (theo Nguyễn Thị Anh Thư)
Là điều bạn đọc đã biết, nhưng ở đây không thể quên nhắc đến nữ sĩ Thuận (Pháp) từng là “mẹ đẻ” 5 tác phẩm trong đúng ngần ấy năm: Made in Viêtnam (bản tiếng Pháp xuất bản tại Pháp năm 2009), Phố Tàu, Paris 11 tháng 8 (tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2006), T mất tích, và Vân Vy.
5. Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài:
Với sự kiện có tầm vóc và ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt học thuật của văn hóa và văn học Việt, không ít văn nghệ sĩ hải ngoại có tên trong bài này từng đã quan tâm, tham luận, tham dự…
Tại Hội nghị (đầu tháng 1-2010, Hà Nội), và trên trang mạng Hội Nhà văn Việt Nam, Thế Dũng có tham luận Trong các xung lực của ngoại giao văn hóa chứa nhiều thông tin cụ thể về văn chương Việt Nam với độc giả người Đức.
Khế Iêm với bài Vài ghi nhận trong việc biên tập thơ song ngữ (trang mạng laxanh.vn) nêu các ý tưởng và kinh nghiệm mới mẻ, thực dụng trong việc dịch thơ từ tiếng Việt ra tiếng Anh.
Tham luận gửi tới Hội nghị của tôi mang tên Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt đã đề nghị lưu tâm một đề tài xứng đáng làm vùng sáng trong thơ Việt, cần được thể hiện trên văn đàn quốc tế. Đó là trào lưu trường ca Việt Nam! [2]
Quan niệm rằng, thể loại như một thi pháp, cảm hứng chủ đạo như một phương pháp, chúng tôi chia sẻ cùng nhận định của nhà nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn [3], “về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 20 đến giờ”.
Với thống kê sơ bộ còn nhiều thiếu sót, danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam của chúng tôi cho thấy, kể từ thời Thơ Mới tới nay, có 122 nhà thơ Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài có ý nghĩa tương đương. Trong danh sách này, một cách tương đối, có thể xem Phạm Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng “Tiếng Địch Sông Ô” ra đời năm 1935, và mới nhất là Trương Thìn với “Mấy Cõi Rong Vui” vừa ra mắt ở TP Hồ Chí Minh trong tháng 5-2010.
Đội ngũ các nhà trường ca Việt đó từng có cả một “trung đội” lừng danh từ những năm tháng khói lửa chiến tranh 1962-75 và sau đó vài năm là Thu Bồn và Thanh Thảo, là Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh, là Anh Ngọc và Nguyễn Đức Mậu… được nối tiếp tới thời hậu chiến là những Trần Mạnh Hảo và Thi Hoàng, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái và Nguyễn Quang Thiều… Còn Trần Dần và Lê Đạt – hai tác giả quan trọng khác của trường ca Việt – thì đã đưa thể loại văn học ngoại cỡ này tới tầm kích lạ lẫm về ngôn từ và sâu sắc về nhân sinh. Ở ngoài nước, ít ỏi không thành phong trào, nhưng cũng có các tác giả với những đóng góp thay đổi cần thiết về cả hình thức, cấu tứ lẫn nội dung, cảm hứng của trường ca Việt; đó là Du Tử Lê và Cao Đông Khánh, là Trần Nghi Hoàng và Đỗ Quyên.
Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam – nếu có thể gọi như vậy – đặc sắc và Việt tính! Đó không là một tập hợp có chủ định, có đường hướng của nhóm các thi sĩ chung phương pháp, quan niệm theo một nhóm phái thông thường. Đó là phản ứng dây chuyền sáng tạo“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có ý thức của từng nghệ sĩ hòa cùng cảm xúc tráng ca của đất nước và sử thi của dân tộc trong một thời đại bi hùng của nhân loại. Qua thập niên đầu thế kỷ 21, con sông trường ca Việt hiện đại ấy cũng trở mình theo tâm thức chung của văn học Việt Nam và thế giới, từ thể tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ. Và, lẽ tự nhiên, đã có không ít biểu hiện của trường ca Việt mang gương mặt hậu hiện đại.
*
Các lối đi, các cây rừng nói trên chưa thể cho thấy rõ khu rừng văn chương Việt Nam ở ngoài nước; và xin coi đó làm lời ước hẹn các bài về sau, trên trang báo này hay nơi khác…
Vancouver & Hà Nội (Hoàn thành 1-2010; Cập nhật 4-7-2010)
ĐỖ QUYÊN
Chú thích:
* Bài đã đăng lần đầu trên tuần báo Người Hà Nội, số 27, ngày 2-7-2010. Đây là bản mới nhất với một số tu chỉnh nhỏ.
But ky Ha Noi cua Le Minh Ha
Bốn năm sau – Phần I
1.
Sân bay Nội Bài. Nóng. Nhưng thoáng đãng. Nhân viên không cười. Nhưng cái nhìn hình như không căng thẳng như nhiều lần gặp trước. Đã chuẩn bị tinh thần cho thằng con trai lần đầu đến Việt Nam về một cuộc chờ đợi làm thủ tục nhập cảnh vừa lâu vừa lắm nỗi bực mình, lần trở về này là một bất ngờ. Nhất là khi cúm lợn đang làm cho thế giới này điên đảo. Thằng con hoan hỉ rằng mẹ nói vậy mà không phải vậy, sân bay Việt Nam to đẹp đàng hoàng hơn cả sân bay Nga, bất chợt ré lên mẹ ơi nước. Nước rỏ tí tách ngay chỗ chúng tôi đứng. Sân bay quốc tế bị giột. Đúng Việt Nam đây rồi. Bố già của nó cười khì khì. Vậy là có thể giữ cho riêng mình câu chuyện vừa vô tình nghe và thấy trong toillet. Hai cô nhân viên ngồi xổm trước một đống lõi giấy vệ sinh đã dùng hết, cãi vã nhau tưng bừng vì nỗi khách nhiều ít như nhau mà giấy… chùi … lại (hết) nhiều ít khác nhau ở mỗi ca. Giải pháp đưa tới hòa bình mà tôi được chứng kiến là các cô thoăn thoắt cuốn giấy từ cuộn mới vào các lõi cũ cho có vẻ nhiều, đủ dùng. Đừng nghĩ là tôi nói dỗi. Nhưng có phải là mỗi bước đi chúng ta thêm thương Tổ Quốc chính từ những nỗi này không?
Chỉ bốn năm trước thôi, chính ở chỗ này đây, tôi đã thấy đồng hương của tôi kẹp tiền vào hộ chiếu làm thủ tục hải quan. Và phải nói thực, vẻ lạnh lùng không chịu nổi của nhân viên công vụ không làm tôi e ngại bằng vẻ vừa kênh kênh vừa lo sợ của nhiều người trở về. Từ Đức, nhưng nhiều hơn là từ nước Nga. Rất nhiều người trong số đó về lại quê hương để giải quyết khâu oai bằng cách vung tiền, sau những ngày tháng nhọc nhằn quê người. Tuy nhiên, tiền nhiều vẫn không làm mất đi ở họ cái tâm lí lo sợ vô nguyên cớ nảy sinh ở một thời buổi mà không sống qua thì khó mà hiểu hết.
Chỉ bốn năm trước thôi, chính ở cái cửa cuối cùng để tôi ra với người thân, nhân viên hải quan khi không thấy tôi chìa hộ chiếu có kẹp thêm gì đó đã cấm cảu tôi chưa hỏi thì chị đừng nói và tôi đã nổi khùng tôi hỏi thì anh ngồi làm việc ở chỗ này phải trả lời. Nổi khùng rồi đâm phát hoảng nhỡ gặp chuyện gì sau rất nhiều lần phải đối mặt với chuyện gì ấy ngay cả khi đã rời xa Tổ Quốc. Thì thế, cứ gì một Nguyễn Tuân sống được nhờ hèn. Cứ gì một Tô Hải tự xưng tôi là thằng hèn. Đồng bào của các ông chỉ khác các ông ở chỗ không biết được điều ấy nên bình tâm sống thôi. Hoặc cũng biết nhưng cư xử khác, giản dị hơn nên nhiều khi được việc hơn, và cái gì không biết chứ không thiếu phần can đảm. Cô bạn tôi, Ái Thanh, mười năm trước truyền cho tôi kinh nghiệm đối phó khi nhập cảnh. Cậu ta bảo chị phải thế này thế nọ. Thế cái luật này nọ đâu đưa ra đây cho tôi xem. Cậu ta lại bảo chị về nhà mà tìm. Tôi chưa xong cái thủ tục này thì làm sao về được nhà. Cậu ta lầm bầm thôi chị ra đi. Tôi không ra, anh đại diện cho nhà nước yêu cầu thì tôi là công dân phải thực hiện. Chúng nó quay lại thì thào con mẹ này điên. Này này anh bảo ai điên. Sau lưng mình là một hàng người chờ đợi nhé. Cuối cùng thì mấy cô cậu hải quan đúng là phải khuân đồ ra, thiếu điều bế theo mình… Phải nghe cô bạn lên cái giọng dân ca ba miền vẽo vọt kèm bộ điệu kịch nói uốn cái lưng phì nhiêu cơ, cứ gọi là mỏi hết hàm vì cười.
Rồi buồn.
Rất buồn.
Nông nỗi (để) buồn / cười này hầu như không xảy đên cho ai lần trở về này. Trừ với mấy cậu thanh niên người Quảng Bình Nghệ An. Họ bay cùng chuyến với tôi. Mặt rất quen. Trên máy bay, mấy cậu bé hỏi xin đổi mấy chục Euro tiền lẻ. Để làm gì? Chúng cháu bị trục xuất cô ạ. Đổi tiền để về sân bay nhà mình đút cho các anh công an. Thế sẽ không bị giữ lâu.
Hiểu rồi. Hiểu vì sao thấy các cậu cứ quen quen rồi. Những gương mặt này, ít tuổi mà không trẻ, những dáng dấp này, còi cọc vì thiếu ăn tuổi bé, tôi vẫn gặp hàng ngày ở trung tâm tiếp nhận tị nạn.
Tại sân bay Nga, suốt thời gian quá cảnh, họ bị giữ bên trong không được ra ngoài. Lúc làm thủ tục lên máy bay, tôi thấy họ, được dẫn giải lên máy bay trước nhất. Mấy chàng trai vẫy chào tôi, mỉm cười, vẻ vừa mừng vừa buồn lo. Tôi biết chúng tôi không bao giờ gặp lại nhau được nữa.
Đấy cũng là một nụ cười của người trở về. Rất Việt Nam quê hương tôi.
2.
Phản xạ đầu tiên của thằng con lớn khi lên xe ô tô rời sân bay là với tay quàng dây bảo hiểm. Và không thấy. Ông cậu đang cầm lái bảo dây đang ở dưới đít cháu ngồi ấy và thằng con mặt mũi bần thần vì bất an. Nhưng rồi cậu chàng yên tâm ngay để ngắm cảnh dọc đường. Đây, bờ mương một dãy chuối chưa trổ buồng đứng rũ dưới nắng. Đây, một gốc cổ thụ trùm bóng mát lên những mái quán xiêu vẹo, quán chữa xe, quán cắt tóc, dĩ nhiên, bên cạnh đó là quán nước. Mát mẻ và thân thương tựa hồ những mái quán dọc con đường sơ tán tuổi thơ, những Ba La Bông Đỏ, những Vác ngả rẽ về bốn làng Vân ngả xuôi tới Vân Đình. Gương mặt người lại qua cũng hệt gương mặt người ngày tháng cũ, tần tảo, cằn cỗi mà tươi bưởi. Hình như người khá giả không dừng chân nơi này. Cái khác duy nhất mà tôi nhìn ra là đôi ba cái xe máy tòng tọc dựng trước quán và chồng bia lon nước ngọt hình tháp bên cạnh lọ bánh rán tẩm đường. Và bụi. Bụi mờ mịt khắp con đường dẫn vào thành phố. Thì thế! Nhà cửa mọc lên từng ngày, vật liệu chuyên chở từng ngày thế này. Khắp nơi thấy nhà cửa mới xây cực kì hoành tráng. Rồi còn sự đông người. Người lạng lách xe máy vèo vèo trước mũi ô tô khiến tôi biến thành cái phanh mồm lúc nào không biết. Về tới nhà, thằng bé con cười khì khì ở đây đi ô tô không cần quàng dây thật mẹ ạ. Con nhìn đồng hồ, tốc độ xe có lúc chỉ 10 km một giờ, không sợ. Ơ hơ, thế mới đúng là con trai mẹ, biết đường ta ta cứ đi.
Và nó cũng không tỏ vẻ kinh ngạc gì khi xe dừng trước một nhà cao tầng trong một khu nhà lắp ghép cũ, khu Thành Công. Nhà nhà cơi nới, đeo ba lô đằng trước đằng sau. Lởm chởm, lô nhô. Ôi, phố Phái sẽ muôn đời là Hà Nội của một thời dường như xa lắm trong nhịp sống cuồng nhiệt này. Hà Nội của thời tôi, là nhà lắp ghép, là chuồng cọp, còn bây giờ, ba lô đằng trước đằng sau. Bà chị gái tôi, giáo viên, nguyên vợ liệt sĩ, đương kim vợ cựu chiến binh, không được phân nhà cửa gì, liều lĩnh xây hẳn một tầng trên mái, chất lượng căn hộ mới nhìn hơn đứt chất lượng căn hộ cũ mua hỏa hồng. Nhưng có nguy hiểm không? Chị Kim Trâm em gái chị Đặng Thùy Trâm đến chơi, cười: yên tâm, nhà này chất lượng… Liên xô. Xây thêm tầng nén xuống thì không sao, lao rầm sắt ra đua thành phòng mới còn được nữa là. Chị là kĩ sư chị… biết. Mấy chị em cười rầm rĩ, rồi cười dịu dàng nho nhỏ dần khi nhắc cùng nhau một Hà Nội của ba mươi bốn mươi năm trước ngày còn tuổi bé, khi Hà Nội còn vườn trong phố, còn hương cây – Những ngày chúng tôi rồng rắn lên mây cùng nhau đi qua chiến tranh.
Khu tập thể Thành Công gần ba mươi năm trước là một bãi rác khổng lồ. Hồi tôi học Sư phạm, đi qua đê La Thành, hay tạt vào đây thăm cô bạn gái. Khi đó khu này là khu tập thể mới nhất của Hà Nội. Vượt qua triền đê (kéo từ Ô Chợ Dừa qua Nhạc viện, qua trường Mỹ thuật Công nghiệp, và đại học Văn hóa) bốc mùi giẻ rách dân đồng nát phơi là tới cái khu này. Có vẻ như hiện đại và hoành tráng và vân vân nhất vào thời đó, chí ít vì ở đó có cả căn hộ ba phòng. Đã nhiều đêm tôi nằm trong một căn phòng cheo leo trên tầng năm, ôm thằng bé cháu mồ côi cho mẹ nó mang chiếu đi giặt nhân ngày có nước, và lắng nghe… Tiếng chim lợn kêu ghê rợn ngoài kia, trên con sông đen lặng lẽ chở trăng mờ. Hai mươi mấy năm sau, đứa cháu đã là một chàng trai trưởng thành, dòng sông còn lại đó, chảy nặng nhọc hơn vì bùn đọng nhiều hơn, và bốc mùi khủng khiếp trước mỗi lần đổi giời. Thằng bé lớn thì cứ đeo theo mẹ hỏi mùi gì. Thằng bé bé buổi sáng theo bố ra hồ, đi men theo con sông bốc mùi, về nôn chớ cả ngày và một ông bạn bác sĩ bảo có thể nó bị ngộ hơi. Nhưng với bố mẹ chúng nó thì bình thường, chẳng có gì lạ cả. Với chúng tôi, đó chính là Tổ Quốc, là thành phố quê hương, là tuổi trẻ cọc cằn vì thiếu đói thời bao cấp, mà lòng vẫn im lìm xôn xao bao nhiêu khát khao.
Khu Thành Công giờ biến đổi, cũng với nhịp điệu y như mọi góc phố, ngõ hẹp ở thành phố này. Thành Công cũ thì xuống cấp, cơi nới loạn xạ. Thành Công mới, phải gọi như thế chăng cái phần phình ra sau này, là khu Láng Hạ, thì khác hẳn. Trên mảnh đất hôm nay sừng sững những ngôi nhà chọc giời, một ngày đã xa mà không muốn quên, tôi thả tóc bay trong gió trưa chang chang nắng cho đỡ nóng, đạp xe trên con đường nối từ Giảng Võ sang Láng qua một cánh đồng rác mênh mông. Đi mượn giáo trình ngôn ngữ của trường Tổng hợp để về lòe mấy đứa bạn Sư phạm. Kinh thật. Nghĩ mà phục tuổi mình. Làm sao ngày ấy đói xanh xao mà vẫn có thể nhồi vào đầu đứa thì cổ điển đứa thì sức bền vật liệu, và vẫn rưng rưng được cùng nhau trước một… chẳng hạn như câu thơ này hơi lạnh nào ngón tay cầm se giá suốt cuộc đời chưa hiểu hết vì sao (Lưu Quang Vũ). Chỉ đơn giản vì Đẹp. Chẳng lẽ chỉ đơn giản vì Đẹp? Cho đến bây giờ, tôi biết, vẫn có những người chưa thôi tự hỏi mình câu hỏi này.
3.
Hà Nội nóng khủng khiếp. Hơi nóng tỏa từ trời, dâng từ dất, phả ra từ trăm ngàn ống xả xe máy chạy điên cuồng trên phố, từ những máy điều hòa nhiệt độ lổm chổm chồm ra từ mọi bờ tường. Lại nhớ lần về trước, cũng ngày nắng hạ thế này, chủ nhân blog Quê choa, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã “ối em ơi em về mùa này nóng không chịu nổi đâu”. Mà ông anh chính cống dân xứ bọ, đất gió lào cát trắng Quảng Bình đấy.
Trong buổi chiều nóng nung người ngay sau hôm về, tôi nhận được lời mời tham dự một cuộc triển lãm của mấy họa sĩ sắp đặt, từ nhà văn Lê Anh Hoài, tác giả cuốn “Chuyện tình thời tạp kĩ”, cũng là người hóa thân vào tác phẩm hội họa “Cột điện” (dĩ nhiên, của Hà Nội, nơi chó và người đều có thể bắc cầu vồng dù có biển đề cấm đái, nơi người ta có thể treo lên đó đủ thứ quảng cáo, từ tư vấn du học đến thuốc chữa bệnh tổ đỉa hay liệt âm liệt dương). Người đàn ông trẻ này tôi đã gặp lần đầu cách đây bốn năm, trong một bữa ăn trưa chung cùng với nhà văn Phạm Xuân Nguyên và Đỗ Hoàng Diệu. Và khi đó, tôi đã không dám thú nhận rằng mình cảm động. Chẳng lẽ lại có thể nói điều ấy dễ dàng trước một đĩa thịt ngan kếch xù. Nhưng đúng là như vậy, khi anh nói về cảm giác của anh khi đọc những dòng chữ tôi viết về Hà Nội, và những ngày xanh xưa chúng tôi… Hai nhà văn Phạm Xuân Nguyên Đỗ Hoàng Diệu bây giờ còn công dân Hà Nội Phố hơn cả tôi, nhưng kí ức về một bờ tường hồng dịu màu hoa tigon chạy suốt đường Thụy Khê, về mùi lá sen tàn từ một góc hồ Tây thoảng về với phố, về tiếng chuông xe điện trong màn sương rạng sớm, và nắng nhỏ trên hàng cây rét muộn có thể nào không xui tôi nhớ… (Bằng Việt), thì tôi chung với Hoài. Cả hai tác phẩm văn và họa của Hoài đều có tiếng vang xa cả. Tác phẩm văn tôi đã đọc trên dạng bản thảo, mỗi tuần Hoài viết gửi một chương, cho ngày cuối tuần hai vợ chồng tranh nhau đọc rồi cười sặc sụa vì buồn cười quá. Hiếm có nhà văn Việt nào hài hước được như Người Hà Nội này. Chỉ tức nỗi Internet tuyệt vời, nhưng lại không được tin cậy trong khả năng sàng lọc. Thế nên khi tôi gửi bản thảo của Hoài đi tứ tung, chẳng thấy ai cười cùng, có lẽ vì chẳng ai để tâm đọc. Nhưng khi in ra, tác phẩm đã nhận được rất nhiều lời bình chắc nịch: Hay! Ừ, văn chương còn cần gì hơn thế. Và điều này làm tôi lại tin lắm vào sức mạnh của chữ, vào sức sống của mỗi cuốn sách chúng ta cầm lên tay. Cái còn lại để băn khoăn chỉ là ta có đủ sức dành thời gian cho chính mình, tìm về với chính mình qua chữ không thôi.
Cuộc triển lãm của Hoài và các bạn được tổ chức tại một xưởng vẽ của một trong số họ. Nói cho oai, nó giống một nhà kho bỏ không, mái tôn, nằm ngay trên bờ sông Tô Lịch và muốn vào thì phải vượt qua bụi bặm của cả một con đường đang mở, một ngõ nhỏ khấp khểnh chỗ ổ gà chỗ sống trâu, nhưng đâu đó vẫn còn lại dấu tích của một con đường làng lát gạch nghiêng từ một thời ca dao nào xa xôi lắm. Người đến rất đông, và phần lớn còn rất trẻ, trẻ nhất có lẽ là thằng bé con hai mươi tháng tuổi của tôi. Những bó hoa, một bom bia hay là trà đá gì đó tôi không rõ, dăm ba đĩa ổi găng và nhãn… và những nụ cười, thân tình hồ hởi của khách, phấn khích bồi hồi của chủ. Nói thật là tôi rất ngạc nhiên. Lâu lắm rồi tôi không tham dự vào một hoạt động nghệ thuật như thế này, không biết có thể có một hoạt động thuần túy nghệ thuật như thế này. Bốn năm trước, khi tôi về, mọi người đã rủ rê hò hẹn đến với chương trình đọc thơ của nhóm Mở Miệng tại viện Goeter, để rồi ngày trước lúc khai mạc cả lũ chưng hửng vì tin nhóm Mở Miệng không được mở miệng, chương trình bị dừng vì những lí do hành chính gì đó. Nhà thơ Dư Thị Hoàn tổng kết tại gia: Buổi đọc thơ đã thành công rực rỡ (vì bị cấm) và rủ tất cả về phố biển. Tiếc tôi là đàn bà, về được có mấy ngày, mải chơi đến mấy vẫn không dám bỏ việc nhà theo nhau đi rong.
Cuộc triển lãm của các bạn họa sĩ diễn ra suôn sẽ, có phần còn được trời chiều. Sấm. Chớp. Gió. Sáng lên. Thốc lên. Tưng bừng mưa ca trên mái tôn. Nhưng mùi sông không chảy ngoài kia vẫn đặc quánh. Còn trong, thuốc lá toả khói mù mịt. Thằng con lớn tủm tỉm “mẹ lại bảo thế này mới thật Việt Nam đây” khi tìm cách lẩn ra cửa hứng mưa tránh khói thuốc.
Dĩ nhiên là sau khi đã chắp tay sau đít ngắm nghía. Lê Anh Hoài với tác phẩm mang ngay trên người: Một mũi tên hào hùng lao xuống dưới và dòng chữ Tiến lên, trắng trên đen, rất nổi. Trần Đủ với những bức họa không hình khối, giống những tấm bảng ngày sơ tán xa xôi chúng tôi vẫn sơn quét bằng cách mắm môi mắm lợi chà xát bằng lá khoai nước. Còn nữa, của các nghệ sĩ khác: Một cái vò đặt hơi nghiêng, miệng tỏa sáng. Ba cái ghế đóng vào nhau trong một thế chênh vênh. Kim găm kín trên đầu trên cổ các gương mặt Phật… Và tuyên ngôn nghệ thuật của từng người. Không mang tầm triết học, không sâu xa như tuyên ngôn của nhóm Dạ đài ngày nào, nhưng đủ để thấy sự quẫy cựa đòi bùng nổ của khao khát sáng tạo.
Mưa vẫn rơi. Ngoài cửa, chớp loé làm sáng lên trong khoảnh khắc màu nước sông đen và đặc. Rất ấn tượng. Chợt tôi hiểu vì sao ngay trong cửa xưởng vẽ này lại có một bức tường và mấy bậc cầu thang. Để ngăn nước sông Tô lịch dềnh lên. Một cô bé chắc phải là chỗ thân tình lắm với chủ nhân giải thích. Hà Nội mùa này nhiều mưa lắm, và từ ngày đất nước đổi mới, người và nhà lớp lớp sinh ra, mọc lên, Hà Nội thường xuyên ngập sau mưa.
Chợt nghĩ, nếu mình cũng là họa sĩ, mình sẽ làm một dãy mũi tên đồng, phải sáng phải ngời, men theo bờ sông khấp khểnh, tới trước xưởng vẽ trống trơn có bức tường này, đặt ở đó một tấm biển thật hiện thực chủ nghĩa: Nơi sáng tạo của nghệ sĩ. Rồi cho người người ngày ngày đi qua.
Thế không phải là một tác phẩm nghệ thuật (có khi xứng đáng là hậu hiện đại) sao?
4.
Lần trở về trước, dù rất lo ngại cho hai cái đầu gối giữa dòng xe máy lạng lách điên cuồng, tôi vẫn suốt ngày long rong trên phố với mấy đồng chí xe ôm. Và tôi đã phát hiện ra rất nhiều anh xe ôm là người thành Nam. Lần trở về này, muốn làm chó cái trốn con cũng không xong, vì con bám mẹ quá và còn bé quá, nên đi đâu tôi cũng tha lôi theo cả nhà. Và vì thế lúc nào cũng phải gọi tắc xi. Và lại thú vị với phát hiện mới tinh, rất nhiều tài xế tắc xi là người Nam Định. Cũng có anh bạn loè người Hà Nội là tôi, chở lòng vòng khắp các phố mới mở mù mịt bụi để tới một phố sát nhà, lấy cớ đường tắc, đường một chiều, dễ bị các anh hùng Núp – một cách gọi cảnh sát giao thông rất gợi nhưng cũng không còn thông dụng lắm – xử lí. Nhưng nhìn chung, những phút ngồi tắc xi với tôi cực kì dễ chịu. Chẳng phải vì máy lạnh. Ơ hơ, sá gì cái nóng do hiệu ứng ống xả bê tông lung tung này. Mà là câu chuyện cùng họ. Chính là trước họ mà tôi nhận ra thành phố này biến đổi, thành phố này đang tạo cho nó một lớp người riêng. Trẻ. Học nhiều và học ít. Nói ngọng. Liều lĩnh và cam chịu, cần cù. Trong cách sống của họ có không ít điều với người Hà Nội cũ dường như chưa ngấu, chưa nhuyễn. Nhưng quả thật, chính là họ đang làm nên một phần rất cơ bản gương mặt của phố hôm nay.
Đúng là thế. Miếng xôi xéo sáng nay tôi vừa ăn không thoảng vị lá sen già, vì đựng trong hộp xốp. Vẫn cứ tưởng do một ban tay đàn bà phố nhỏ làm ra. Mà không phải, do một cặp vợ chồng trẻ người tận Đông Anh ngày ngày nấu, chở sang Hà Nội. Cứ lầm lũi hăm hở thế, mỗi ngày họ nhồi veo veo vào bụng người Hà Nội mấy thúng xôi xéo xôi vò, là cái miếng ngon một thuở tưởng chỉ đất này mới có. Ngọn rau thơm nhỏ nhỏ, vị không thật đậm, nhưng đúng là rau thơm Láng, cầm lên tay tần ngần biết chẳng còn được trồng đất cũ. Ở đâu? Chắc Giang Biên Đông Dư gì đấy. Bà chị gái, dạy học trường Láng Hạ thản nhiên giảng giải. Tấc đất tâc đô rô (đo la, euro), ai điên để đất trồng rau rồi ngồi khóc với trời mưa trời nắng. Chợt nhớ một ngày xa xôi lắm một lũ con gái con trai học trò Hà Nội phải đi lao động, thực tế là sang quấy nhiễu bà con nông dân hợp tác xã Giang Biên. Cả lớp quây quần bên một luống đất đã được cào xới tinh tươm, trêu chòng nhau cho quên đói, chờ đến lúc được thót lên xe qua cầu Long Biên ngược về với phố. Đằng xa kia, trên cánh đồng mênh mông gió, những dáng người hì hụi úp mặt vào đất. Sau này nghĩ lại cái sự đi lao động của mình và của các phụ mẫu, cả lũ đều cười. Rồi, kinh ngạc. Có một thời như vậy thật sao? Chỉ vục tay vào đất, chỉ quai búa, đục, khoan… mới được quyền tự hào công khai. Nhưng, vinh quang mà thiếu đói. Nhưng, từ đó, không ai được yên thân với công việc của chính mình. Nên mới có niềm vui quái gở cơ quan bộ này lôi nhau đi trồng sắn cơ quan bộ khác lôi nhau đi trồng rau, để cuối mùa chia nhau củ sắn dài ngoằng nhỉnh hơn củ sâm Triều Tiên, và dăm ba mớ rau cằn.
Chợt tưởng như mình còn đang đứng giữa cánh đồng mưa phùn gió lạnh đằng sau khu vực trường Đảng, thời sinh viên, dịp học quân sự, cười sằng sặc với nhau vì câu ca dao về vườn cây của các học viên trường này không biết đứa nào mới sưu tầm hoan hô các cụ trồng cây mười cây chết chín một cây gật gù thế là các cháu ta mù mười cây chết cả gật gù ở chỗ nào. Ôi những nụ cười tím. Vì rét. Mấy đứa bạn sinh viên người vùng xa lúc nào cũng chỉ thấy mặc có hai cái áo cánh, tay săn nổi da gà. Cái lạnh một thời, lạnh từ trong ruột lạnh ra, lạnh run chân, vì đói. Giờ ai nhớ?
Vườn cây xưa dĩ nhiên không còn nữa. Con đường qua đó dẫn về dốc Bưởi ngày xưa không tên cô đơn trong trưa trong chiều bây giờ xe cộ gầm gào và mang tên một lãnh tụ Đảng hi sinh từ hồi bóng tối. Nhà cửa mọc lên kín mít. Đất ở đó chắc vào hàng đắt nhất Hà Nội. Không thể không trầm trồ vì vẻ đẹp, và trước hết là giá trị tiền bạc của từng ngôi nhà, và sau đó, lực tiền lực bạc của chủ nhân. Nhưng cũng không thể phân biệt được kiến trúc của cả quần thể. Thời nào? Có mái vòm mái chóp. Có cột tròn cột thẳng. Cái giống nhau duy nhất là cửa sổ nhà nào cũng lắp chấn song sắt rất chắc. Kiến trúc thời nào đây? Vài mươi năm sau liệu điều này có là câu hỏi cho các sinh viên trường Kiến trúc? Chắc là không! Anh bạn kiến trúc sư cười khì khì. Phá rồi xây là điệp khúc bài ca xây dựng của dân mình mà, khi quy hoạch loạn cào cào thế này và giấy phép xây dựng được cấp không theo quy hoạch mà …
Có thể! Tôi vừa được một người bạn cũ mời tới thăm nhà. Ngôi nhà cũ, rất đẹp được xây cách đây chưa đầy hai mươi năm vừa bị đập bỏ xây mới. Mạnh nhỉ – Tôi trầm trồ. Mạnh gì – Bà mẹ già của anh bạn mau mắn trả lời – Thế thời phải thế thôi cháu ạ. Ngày trước, nhà cô cao hơn mặt đường gần một mét, rồi đất lún, tôn đường, nền nhà thấp hơn mặt đường cũng gần một mét, những ngày mưa…
5.
Ơi chao những ngày mưa Hà Nội. Khi viết cuốn Gió tự thời khuất mặt, dường như tôi đọc thẳng từ gan ruột mình ra mấy câu này: Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua – Trên bước chân em âm thầm lá đổ. “Những chuyến mưa qua…” Phải. Hà Nội mùa này nhiều mưa lắm… Những cơn mưa buộc người ta ngồi lại, lặng lẽ nơi này, để, đôi khi, chỉ đôi khi thôi mà lòng đau đớn mãi. “Nhìn lại lại mình đời đã xanh rêu”. Như không phải là mình viết nữa, mà là thời gian đục thẳng vào tâm hồn chúng tôi. Đau. Và rất chậm.
Mưa hôm nay trên phố phường Hà Nội khác quá những cơn mưa ngày tháng cũ. Trước cơn mưa không có cái lặng phắc của cây lá, không có cái nhịp điệu nhanh dần của những vòng bánh xe đạp quay quay, không có cái cảm giác gió lùa tóc bên vai, mơn man má nhỏ. Sau cơn mưa thiếu tiếng ve hớt hải gọi mặt trời về, thiếu những giọt mồ côi rơi từ lá rũ, trên hết, thiếu cảm giác thanh sạch, trong veo, nhẹ bỗng, tưởng chừng có thể bay lên.
Mưa hôm nay trên phố phường Hà Nội khác quá những cơn mưa ngày tháng cũ. Giống cơn mưa Sài Gòn. Sầm sập. Rào rạt. Một ngày nào xa xôi lắm tôi đã giang tay giữa một cơn mưa như thế. Hai mươi mấy năm rồi. Ngày đó cái áo đi mưa của người Sài Gòn còn là ao ước của dân Hà Nội, vốn quen chỉ có hai tấm nilon choàng trước choàng sau làm phép, nói thật, với bọn con gái chúng tôi chỉ có độc tác dụng che đôi vú hùng dũng nhô lên sau lớp áo mỏng ướt sũng. Trên một con đường Sài Gòn năm đó có một dáng con gái váy áo trắng tinh lướt thướt phóng xe máy trong mưa, hệt một cô dâu chạy trốn khỏi phòng cưới trong một bộ phim Triều Tiên Hồng Kong gì đó ngày nào cũng được phát trên sóng ở Việt Nam. Diễm My! Diễm My! Có bác xích lô Sài Gòn nào hân hoan. Cơn mưa phương Nam gắn với tôi hai mươi mấy năm qua cùng gương mặt người đàn bà cực kì khả ái quyến vờn cả nước khi đó.
Cơn mưa Hà Nội của chúng tôi cũng hân hoan, theo một cách khác. Lặng lẽ và dịu dàng. Tôi, vốn không phì nhiêu trong thời con gái, vốn khổ vì bệnh nắng mưa, mà vẫn cứ liều lĩnh tự thỏa mãn mình bằng cái thú đi chơi trong đêm mưa, ngang nhiên bước giữa lòng phố. Cùng hai người bạn cũng hâm dở như tôi. Một đứa con gái, hai thằng con trai, chúi trong một tấm nilon được sáu bàn tay cùng giữ mà vẫn phồng lên, chỉ chực bay như một cánh buồm giữa phố. Hình như chúng tôi không nói gì. Hình như mưa to lắm. Hình như bắp chân tôi ngứa ran vì mưa. Mưa dập dồn ca hát trên tấm nilon. Lòng chúng tôi ca hát. Hình như bàn tay tôi chạm vào tay ai, nóng bỏng mà ướt át … Ơi chúng mình ơi!
Nam thanh nữ tú bây giờ có muốn điên như chúng tôi ngày xưa cũng không thể nào điên nổi. Con mưa giông mưa trận ập về. Trên mọi ngả đường, dòng xe cộ lầm lụi trôi đi. Không dừng. Không chậm. Mưa không át nổi tiếng động kinh hoàng vọng lên từ dưới phố, có chăng, chỉ làm ngắt quãng được cái giai điệu ẽo ợt chẳng biết dân ca quan họ nước nào vọng ra từ nhà hàng xóm. Mấy hôm đầu nửa mê nửa tỉnh, tôi ngỡ nhạc phim Triều Tiên Trung Hoa Banglades gì đó. Nghe mãi mới ra bốn chữ nước mắt tuôn rơi. Chắc là cái người ta gọi nhạc não tình nhạc thị trường gì đây. Cười thầm hồi chiến tranh giả dụ cái thứ nhạc này được phép phổ biến, chứ không phải ta vượt trên đỉnh núi cao Trường Sơn đá mòn mà đôi gót không mòn ta đi nhằm phương nam ta về quê hương quân về trong gió đang dâng triều lên… (Bước chân trên dải Trường Sơn – Vũ Trọng Hối) thì cầm chắc miền Nam thắng. Nhưng, giả dụ là như thế, với cái não trạng không đi cùng tao thì là kẻ thù của tao của rất nhiều người Việt chúng ta, Việt Nam hôm nay sẽ như thế nào?
Thắt ruột vì một câu thơ Lưu Quang Vũ viết từ 1972, trên đất nước thời giông bão. Người ta còn muốn gì người nữa – Việt Nam ơi? Bởi vì tỉnh với quê hôm nay, những cảnh đời hôm nay, dù khác, vẫn còn nguyên đó cái vất vả và thương khó. Trong mưa, nỗi đó thêm nhọc nhằn.
Đây, một góc chợ chiều. Hàng quán rũ liệt không có người vào ra chao chát. Mưa gõ trên mái nilon, mưa hắt thẳng vào sạp hàng xanh xanh đỏ đỏ toàn đồ Trung quốc rẻ tiền bày ra trong cái chái vẩy thêm từ một căn hộ chung cư cũ. Cô hàng thịt quay luống cuống kéo tấm nilon che nơi đứng bán. Chị hàng rau người teo nhách khép nép đứng ghé dưới mái quán ăn. Có con bé hôm trước vừa bán cho tôi mấy quả dứa vừa kể chuyện tranh thủ đi buôn vặt thế này mấy tháng hè, hi vọng sang năm bố mẹ không bảo thôi con nghỉ học tùm hum trong cái áo mưa đứng như trời trồng bên cạnh chiếc xe đạp kềnh càng hai sọt hàng. Nó dân ở Phùng, nó học ở chính cái trường huyện tôi bắt đầu kiếp nhà giáo nhà nghèo của mình. Qua Diễn qua Nhổn qua Trôi Đăm là tới, chỉ cách Bờ Hồ chừng 30 cây số, có thời nhập tách và bây giờ lại nhập về Hà Nội. Quê ông Quang Dũng Tây Tiến đấy, người có câu thơ không hiểu vì sao tôi cứ muốn nhớ thành “chiều xanh không thấy đáy Ba Vì”.
Trong mưa, tôi nghe thấy một lời mời. Ngoảnh lại: người lái xe ôm tùm hụp trong cái áo mưa xám nhờ, chỉ thấy mắt chẳng biết già hay trẻ, ngồi trên cái xe ôm chân co chân duỗi. Y như con cò gầy. Cái cò đi đón cơn mưa … Con cò mày đi ăn đêm… Cái cò lặn lội bờ sông…
Chúng tôi cũng đang đứng trên một bờ sông. Sông Tô Lịch nuốt chửng bụng nước phì xuống từ trời, phềnh lên chiếm lĩnh hai bờ. Mùi nước sông nồng nặc trộn với mùi rác từ ngõ chợ, quẩn rõ mùi vỏ mít nẫu dưới nắng nay rã dần trong mưa. Một anh chàng đứng dé chân chèo trong cửa tiệm Internet cách mặt con sông đen chưa đầy hai mét đang đùng đùng đoàng đoàng trò chơi game gì đó, khoái chí điều gì cười hầng hậc rồi văng tục. Cực kì sảng khoái. Có phải vì nóng nung người nay được trận mưa chăng?
Sự sống là thế ư? Cứ than ngán ngẩm hoài với nhau, mà chẳng bao giờ chán sống.
6.
Nhưng thật ra, khi phải vật vã với cơm áo hàng ngày, người ta chẳng than van. Có mệt vì áo cơm đến mức khùng lên, nói bằng ngôn ngữ của tuổi trẻ thời nay là chán (đến mức) cứt chẳng buồn ăn thì người ta cũng chỉ chửi rủa dăm ba câu một mình nếu chưa tìm ra đối tác để gây hấn, chứ thật ra chẳng thấy ai ngồi ngẫm ngợi với nhau về ý nghĩa tồn sinh như mấy anh ra tiền.
Chẳng hạn như cậu bạn thân của tôi.
Cứ ngồi cười khành khạch với nhau mỗi lần gặp mặt rằng may mà không lấy nhau chứ nếu không chẳng đứa nào biết thế nào là yêu, vậy mà quay trước quay sau đã ba mươi năm có lẻ là bạn, là cái tai nghe cho nhau những lúc gieo neo trong đời. Tôi lẩn thẩn đến giờ vẫn chỉ biết có một… – thôi, nhớ cái câu cực hay của bà lão nhà quê trong Bài học nông thôn của Nguyễn Huy Thiệp mà không dám dẫn, kẻo lại bị cho là (hì hì) – , còn bạn, hai đời vợ, mấy dòng con, vậy mà cái tình dành cho nhau vẫn vẹn nguyên cái tình tuổi học trò vô tư lự.
Đến thăm bạn ở khu Nam Thăng Long, hay còn gọi là Ciputra, thú thật là tôi choáng vì sự giàu có của ông bạn cũ. Nằm trên đất Phú Thượng gần hồ Tây, khu nhà rất hay được lên báo này giống hệt một góc phố ở một nước châu Âu nào đó, có điều hoành tráng hơn nhiều. Và có vẻ mới nỏi hơn nhiều. Thật, làm gì có một khu phố nào ở châu Âu dành cho dân, kể cả trên tiền, lại có cả đàn ngựa đúc đồng lồng lên với trời cao ở đầu phố cuối phố. Làm gì có khu dân cư nào ở châu Âu có người gác và người đi tuần ngày đêm như ở đây. Hệt những quãng phố ở khu Ba Đình thuộc diện bảo mật, như Nguyễn Cảnh Chân, Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu… Những biệt thự nằm bên nhau, tĩnh lặng. Những chiếc xe ô tô Mercedes bóng lộn, thù lù trong ga ra. Rồi dây leo, tán cọ thập thò vượt tường. Có cái gì đó chuẩn mực đến thành không thực. Càng không thực khi phố xá trong khu đó gần như không có bóng người ngoài đôi ba bóng đồng phục đi tuần. Ngoài kia, con đường Lạc Long Quân đang mở, xe cộ gầm gào, các gia đình mới chòi được ra mặt đường thi nhau xây nhà cao cao mãi, lởm chởm, quê mùa, hoạnh tiền, đầy vẻ thị xã tỉnh lẻ, bụi mờ mịt chỉ chực một cơn mưa đổ xuống để đáp trở lại mặt đất và biến thành bùn. Nắng lóa mắt và trời thì xanh. Vô ưu.
Gặp, chòng nhau tiếc không lấy nhau để được làm đại gia bà trước ống kính camera của đương kim chồng, mà lòng xót cho bạn quá. Già, béo, xệ ra. Ông chồng tôi đùa sao giống cựu thủ tướng Nam Triều Tiên. Còn tôi thầm nghĩ sao bạn mình giống hệt một tay viên chức cao cấp ở một cái hãng nổi tiếng nào của Nhật sắp tự tử vì căng thẳng. Có thể là tôi còn bị ám ảnh bởi câu chuyện dài về đường trường làm ăn của bạn mình bốn năm về trước. Chuyên môn giỏi? Chưa đủ! Đào tạo tại nước ngoài? Chưa đủ! Còn phải biết. Biết gì? Bạn cười khì khì. “Ngày xưa ở Nga viết thư cho Hà, toàn những chuyện đi dạo trên bờ sông Neva, xem lá mùa thu trong vườn ở Leningrad, nghe hòa nhạc ở Riga. Bây giờ thì là gói thầu, dự án, đối tác, những cuộc nhậu nhẹt và những chuyến bay… Bây giờ mình biết uống rượu rồi. Gan nát hết vì rượu. Nhưng không thế thì không làm ăn gì được.”
Một ngày sau buổi gặp gỡ đó bốn năm trước, tôi đi Hải Phòng. Trở lại Hà Nội, chui vào ngự trong cái xe chẳng biết mấy trăm ngàn euro của bạn, tôi đã cười khi bạn bảo „mấy hôm rồi không kịp nhớ ra Hà đang ở Việt Nam. Nếu không thì Hà đã chẳng ngồi yên ở Hải Phòng đâu“. Ngỡ tình xưa nghĩa cũ chứ. „Chán quá. Chán đến không buồn cáu. Mình đã thu xếp tất cả đồ đạc ở phòng làm việc. Tính tung hê. Về nhà nằm, tự dưng nghe tiếng trẻ con léo nhéo ngoài phố, lại nhớ mình còn con, mình không có quyền.. Nhưng … Như thế này mà là sống ư?“
Những đàn ông đang nháo nhào chạy xe, đang khuân vác, đang đào đất ngoài phố xa kia, những đàn bà đang nhớn nhác với gánh hàng đầu ngõ chợ, mặt mũi khắc khổ nhưng dễ cười hơn chúng tôi. Họ không biết có nỗi băn khoăn của bạn tôi, một đại gia: Như thế này mà là sống ư? Chỉ đơn giản là họ sống. Họ không có điều kiện để chọn lựa. Và sống với họ là làm sao đủ áo cơm, đủ tiền xây lại cái nhà, cho con ăn học.
Sống, với nhiều người, là còn hay được thở ra hít vào, đôi khi chỉ giản dị là như thế.
7.
Tôi lại lí sự mọn mất rồi. Sống không thở ra hít vào thì chẳng lẽ lại thở vào hít ra.
Cái sự thở hít sao cho cờ lờ xờ – CLC – chất lượng cao nay với nhiều người Hà Nội là rất quan trọng. Thành phố phình tướng ra, bao nhiêu con đường mới mở, các loại máy móc động cơ thi nhau gầm gào. Ô nhiễm âm thanh tạo cho mọi người khả năng nói to nghe nhỏ hay sao ấy. Khả năng mà tôi chưa có. Cứ phải nhấc điện thoại gọi hay trả lời là tôi luống cuống tìm chỗ để nghe. Lúc vào cầu thang máy đóng cửa một mình vi vu lên cao xuống thấp. Lúc chạy vào chỗ chẳng ai lại vào đó ăn hay nói. Lúc lao ra bãi đỗ ô tô. Nói chung, ở Việt Nam, chỗ này khá yên tĩnh vì lượng người có xe chưa được bao nhiêu… Chạy trốn âm thanh đã khó, chạy trốn không khí là bất khả. Ai có thể chấm dứt được cái sự thở ra hít vào. Sáng trưa chiều đêm mù mịt bụi, và khói, toả ra từ trăm ngàn ống xả xe máy gào rú trên đường. Trước khi tôi về thành phố còn bị phong tỏa bởi có nạn khói mù. Nguyên do đọc trên báo mạng thấy có nhiều, chẳng nhớ. Bà hàng xóm cao giọng giải thích tựu trung lại hoặc do nông dân ngoại thành đốt rạ sau khi hết vụ, hoặc do hiệu ứng thời tiết lung tung gì đó làm nghẹn mạch lưu thông không khí. Những ngày đó Hà Nội lúc nào cũng như lúc thành phố lên đèn giăng mù sương mùa thu ngày xưa, chỉ khác là nóng hực và khó thở. Ông anh rể hể hả may, chứ về đúng mấy hôm đó thì bọn mắt mờ chân chậm như vợ chồng con cái cô chú khéo không dắt díu nổi nhau qua đường. Bà chị gái thử giọng trước giờ đi dạy với chị hàng xóm, rằng nếu con bé (là tôi đấy, sáu mươi hai cân hơi và tuổi thì sắp đầu năm đít chơi vơi rồi) về vào đúng hôm có khói mù thì chắc mấy thằng bác sĩ phải bế thẳng từ sân bay vào bệnh viện cấp cứu. Bà chị thuộc loại du kích nhà ta ra thành phố, chẳng phân biệt được phương hướng, tưởng Nội Bài gần Trâu Qùy bệnh viện tâm thần, ra sức giảng giải tôi có nhiều bạn qúy là bác sĩ, kể cả bác sĩ ở Trâu Qùy, vào là được cứu chữa lập tức. Ơi giời, giá kể với ai có công cứu tử cũng phải lấy thân ra đền bồi thì tấm thân quả mít này biết xẻ bao nhiêu cho đủ.
Nhưng mà tôi đang đứng trên ban công một ngôi nhà cao tầng giữa Hà Nội bụi và khói bình thường. Không biết cái nơi một thuở vườn trong phố dù có đi bốn phương trời lòng vẫn nhớ này thở bằng lá phổi xanh sạch nào. Bây giờ. Những hàng cây thâm nghiêm trên phố cũ ngày xưa, những cơm nguội, những sao, những bằng lăng, phượng vĩ qua mùa hoa trông cằn cọc tội nghiệp bên vô thiên lủng nhà cao tầng mặt tiền hẹp nhảy hai bước là hết. Phố mới, cây vừa tròn bóng chưa lâu. Lại thêm giờ trên rất nhiều con đường mới mở chỉ thấy trồng cọ hay cau vua, không có bóng lá, nhang nhác những đại lộ Sài Gòn hay Los Angeles. Những làng quả làng hoa phía bắc thành phố, những Nghi Tàm Nhật Tân Quảng An Quảng Bá Xuân Đỉnh Xuân La giờ rối rít người xe, kín mít nhà cửa. Hồ ao thì ở cái nơi đất trên trời này đã được đắp được lấp. Những hồ ao tự nhiên mạn Đền Lừ, Ô Cầu Rền, Tương Mai, Quỳnh Lôi, Chùa Sét xưa nhiều khi chỉ phân cách nhau bằng con đường làng mảnh dẻ, đi qua sau mỗi trận mưa mà sơ ý hay cố ý làm trệch vòng bánh xe nhau một chút là đã có thể lăn ùm xuống với rau muống bè, nay không còn dấu tích. Hồ Tây, một chiều xưa hào hển chở tôi vượt dốc Yên Phụ, cô bạn ít khả năng tưởng tượng đã chỉ bảo “cứ đứng ở một góc hồ, tốt nhất phía đường Cổ Ngư, thaó kính rồi nhìn qua hồ sang bên kia, đằng nào mày cũng chả thấy nhà cửa đèn đóm gì, thế là coi như đã ra tới biển” nay bé tí hin, vì nhà cửa nêm san sát quanh hồ và cả vì mấy nhà hàng nổi. Thạch Lam giá còn sống ở cái nhà ven hồ Tây ngày xưa, dăm ba tuần gọi xe ben chở cho vài chuyến đất đóng kè đổ xuống thì khéo có thể gọi cả con từ Mỹ về cho hưởng thừa kế triệu đô không chừng. Ấy nhưng tưởng tượng này xúc phạm Thạch Lam rồi . Ông – Người Hà Nội của một Hà Nội nhã đến không thể nào nhã hơn thế, ông bỏ quá cho con.
Hà Nội hôm nay hừng hực sống. Hà Nội hôm nay không còn là đất của người đi nhẹ nói khẽ ăn ít no lâu. Hà Nội bụi và khói. Hà Nội bốc đủ thứ mùi đời. Trên mỗi bậc cầu thang ngôi nhà chung cư xập xệ này, phả vào tôi mùi hành tỏi phi, mùi cá rán, mùi canh măng nấu cá. Bước qua đường, mùi nước con sông hấp hối sát bên nhà, mùi chợ cóc xộc thẳng vào khứu giác. Cái chợ này ngày tôi ở nhà chưa có, thành hình chắc trên cơ sở cung cầu tự phát, họp ngay trên nền một trường mẫu giáo cũ, phình ra thu lại giữa các khối nhà. Một đồng nghiệp cũ của tôi hiện vẫn sống trong một trong các khối nhà đó. Cô bạn chung bàn với tôi thời cấp ba hiện đang thu mình sau sạp hàng tạp hóa ở đầu ngõ chợ đó. Với tác giả tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và tác giả trường ca Trầm tích, nơi này cũng từng là một cõi đi về.
Tôi nhớ Nam Cao. Nhớ Điền của ông. Đã ngồi viết, giữa tiếng con khóc, tiếng vợ léo nhéo và cả tiếng chửi của người hàng xóm ban đêm mất gà. Sông Tô Lịch ngày ông còn vật vờ kiếp sống mòn trong ngôi trường tư ngoại ô chắc chắn chưa bốc mùi như bây giờ.
8.
Thế nên sự người Hà Nội chăm lo cho việc thở ra hít vào là rất bình thường. Có tiền thì xây nhà to để phòng rộng chơi bóng bàn tại gia, cuối tuần lên trang trại chơi trò nông dân nghiệp dư hay du ngoạn các vùng sinh thái, hay chơi gôn, hay chơi tennis, hay đi bơi trong bể bơi thuộc khách sạn năm sao, hay nhảy tàu bay bay tuốt qua châu Âu tránh nóng. Ít tiền hơn thì tập luyện quanh nhà. Đứng trên ban công nhà bà chị nhìn qua hồ Thành Công, giờ nào cũng như giờ nào tôi đều thấy người rồng rắn vì lí do sức khoẻ. Giữa một khu chung cư lớn, cũ, xập xệ như cái khu Thành Công này, hồ Thành Công xứng đáng là mắt ngọc. Nếu nó lóng lánh giữa một khu vườn lớn thì tuyệt lắm. Nhưng đất Hà Nội có giá thế này, cái hồ chỉ còn được bao quanh bởi một con đường nhỏ nằm kề bên một vòng hoa cỏ nhỏ. Sát đó, là những biệt thự của abc, nhà múa hát (đám nghệ sĩ vừa ngồi cà phê với tôi gọi nhà hát ca múa nhạc Việt Nam thế), nhà của tổng công ti dầu khí và của các cơ quan xyj. Hôm trước, tôi thấy ở bảng tin phường dán một bài thơ của ông lão nào chẳng rõ, buồn bã vì nỗi hồ chưa bị lấp nhưng đất quanh hồ đều đã bị buôn đi bán lại, với câu kết kinh hoàng: hậu thế ơi hỏng mất rồi. Giờ thì không ai phải đối mặt với nỗi kinh hoàng này, vì bài thơ đã dĩ nhiên bị xé.
Ông anh rể cựu chiến binh của tôi, từng tây tiến thời chống Mỹ, đi qua mười năm tuổi trẻ ở chiến trường Pakhet, ôm một đống bệnh kể từ ngày đi từ trong rừng ra (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Minh Châu) nên rất chú trọng giữ gìn sức khoẻ … cho vợ. Ngày nào cũng như ngày nào, cứ sáu giờ sáng và hai giờ chiều là ông anh đánh cái áo ba lỗ và quần cộc, dận giày đi ra hồ. Nóng chảy tất cả thế này, sáu giờ sáng… đã đành, nhưng sao lại hai giờ chiều? Ông anh ngửa mặt cười kha kha kha: Qua tuổi tầm bồ rồi cô ơi. Đường đêm phải dành cho người tính yêu thêm chứ? Thằng cháu hồi còn chưa đi học – tị – nạn ở xứ người (chữ này cũng không phải của tôi mà của nhà văn Dạ Ngân) chiều chiều cữ hai giờ là ra hồ chạy, giải thích cho bà cô ngố rằng giờ đó mới tạm thời vắng vẻ, đỡ phải thở hít mồ hôi người.
Buổi sáng, tôi theo ông anh xông ra hồ. Xe máy vè vè lướt qua cửa vườn lủng củng một dãy xe đẩy chuyên chở rác cái lành cái thủng, bốc mùi nồng nặc. Những chiếc khẩu trang được gỡ xuống. Đồ đạc tập luyện được tháo khỏi xe. Từ cửa nhà vệ sinh công cộng, một phụ nữ đứng nhìn ra, và đó là người duy nhất tôi thấy vẫn kín mít trong khẩu trang, hoàn toàn dửng dưng với đám đông hiên ngang hăng hái. Cũng phải! Quần quật mấy tiếng đồng hồ để làm sạch cái trạm luân chuyển lương thực thực phẩm này, cần quái gì chạy bộ cho gầy người hay dưỡng sinh. Vẽ.
Người nhất loạt đi theo một hướng dòng dòng quanh hồ. Tôi nhận ra tức thì tinh thần thể dục ngày nay của dân mình có biểu hiện đậm đà qua tinh thần đi bộ, và đi kiểu này cũng dễ, ve vẩy nhẹ nhàng như đi chợ. Trẻ vừa đi vừa nghe nhạc. Già vừa đi vừa trầm ngâm. Một chị dáng mỡ màng trong bộ áo quần hoa phấp phới gió ban mai, tay khư khư ví, ý chừng tập xong quay về nhảo ngay ra cái chợ cóc họp sát bên hồ. Một ông chắc đã đi đủ chỉ tiêu ngày, dừng chân ở cái ghế đá trống, rút chiếc radio nhỏ nhỏ dò sóng, thảnh thơi chiếm ngự một đầu ghế. Một bà (chắc chắn không quen với ông) bám lấy đầu ghế bên kia, gắng gập người chổng mông làm một động tác cực khó với người đã trót để mình phì. Một bà khác đứng nhắm mắt dưỡng thần bên cạnh một đôi chíp hôi đang ngủ gật bên nhau như thể đã đi dạo suốt đêm. Rất hồn nhiên. Khác hẳn thời tôi ngày trước, chẳng ai cấm đoán nhưng đứa nào cũng ngượng nghịu mỗi lúc phải giơ chân giơ tay, kể cả lúc giơ tay hô quyết tâm quyết tâm. Tội ở mì gia công và hạt bo bo. No thì vẫn no, nhưng người ngợm cứ oải ra. Tập luyện nhằm mục đích giải trừ năng lượng là môn học xa xỉ với chúng tôi. Ngại. Đứa nào mà hăng hái thật thì nhất định là giống quái.
Người cứ đổ thêm vào dòng. Trước, sau, bên trái, bên phải, tay, chân, lưng, bụng. Ai cũng chăm chú và thành tâm. Tôi chưa từng thấy ở dân mình ý thức cá nhân, dám hết mình vì bản thân đẹp như thế này. Một thời hối thúc nhau “khoẻ vì nước kiến thiết quốc gia” cũng hớn hở đến thế này thôi chứ gì?
Bên lề cỏ, một mái tóc xác, một ánh mắt khô, một hàm răng hơi hô ngước lên. Hóa ra tôi suýt dẫm phải đống quần đùi áo cộc rẻ tiền vừa bày ra ngay lề cỏ, phục vụ tại chỗ bà con đi tập thể dục sớm của người đàn bà chắc ở quê ra. Tránh, tôi đụng phải một cánh tay rắn chắc vừa vung lên. Tiếng văng tục. May quá, anh chàng không để ý đến lời tôi xin lỗi mà còn mải bình luận với bạn về một đồng chí cầu thủ phường “hậu vệ gì mà đéo biết rê”, ngôn ngữ cực sống động.
Bước sát bên hai cậu chàng, hai ông bà có tuổi vừa vung tay vừa trò chuyện. Ông, trông rõ ra người quen nói lời gang thép khi xưa khoe thằng con trai đã tưởng phải nuôi báo cô một đời nay vừa chơi thêm một căn hộ cao cấp trên đường Hoàng Đạo Thúy và đổi xe năm chỗ lấy xe bảy chỗ. Bà, dáng cả đời cống hiến cho chồng con vô điều kiện, than mắc bệnh cao huyết áp vì thằng cháu biếng ăn, ngày nào cũng phải diễn trò bất đắc dĩ ôsin bế cháu bà bê bát, ông hát bài quần không có lấy áo ra mà phất có múa minh hoạ kèm theo, (lưu ý bạn đọc hát câu này theo giai điệu Tiến quân ca).
[còn tiếp]
1.
Sân bay Nội Bài. Nóng. Nhưng thoáng đãng. Nhân viên không cười. Nhưng cái nhìn hình như không căng thẳng như nhiều lần gặp trước. Đã chuẩn bị tinh thần cho thằng con trai lần đầu đến Việt Nam về một cuộc chờ đợi làm thủ tục nhập cảnh vừa lâu vừa lắm nỗi bực mình, lần trở về này là một bất ngờ. Nhất là khi cúm lợn đang làm cho thế giới này điên đảo. Thằng con hoan hỉ rằng mẹ nói vậy mà không phải vậy, sân bay Việt Nam to đẹp đàng hoàng hơn cả sân bay Nga, bất chợt ré lên mẹ ơi nước. Nước rỏ tí tách ngay chỗ chúng tôi đứng. Sân bay quốc tế bị giột. Đúng Việt Nam đây rồi. Bố già của nó cười khì khì. Vậy là có thể giữ cho riêng mình câu chuyện vừa vô tình nghe và thấy trong toillet. Hai cô nhân viên ngồi xổm trước một đống lõi giấy vệ sinh đã dùng hết, cãi vã nhau tưng bừng vì nỗi khách nhiều ít như nhau mà giấy… chùi … lại (hết) nhiều ít khác nhau ở mỗi ca. Giải pháp đưa tới hòa bình mà tôi được chứng kiến là các cô thoăn thoắt cuốn giấy từ cuộn mới vào các lõi cũ cho có vẻ nhiều, đủ dùng. Đừng nghĩ là tôi nói dỗi. Nhưng có phải là mỗi bước đi chúng ta thêm thương Tổ Quốc chính từ những nỗi này không?
Chỉ bốn năm trước thôi, chính ở chỗ này đây, tôi đã thấy đồng hương của tôi kẹp tiền vào hộ chiếu làm thủ tục hải quan. Và phải nói thực, vẻ lạnh lùng không chịu nổi của nhân viên công vụ không làm tôi e ngại bằng vẻ vừa kênh kênh vừa lo sợ của nhiều người trở về. Từ Đức, nhưng nhiều hơn là từ nước Nga. Rất nhiều người trong số đó về lại quê hương để giải quyết khâu oai bằng cách vung tiền, sau những ngày tháng nhọc nhằn quê người. Tuy nhiên, tiền nhiều vẫn không làm mất đi ở họ cái tâm lí lo sợ vô nguyên cớ nảy sinh ở một thời buổi mà không sống qua thì khó mà hiểu hết.
Chỉ bốn năm trước thôi, chính ở cái cửa cuối cùng để tôi ra với người thân, nhân viên hải quan khi không thấy tôi chìa hộ chiếu có kẹp thêm gì đó đã cấm cảu tôi chưa hỏi thì chị đừng nói và tôi đã nổi khùng tôi hỏi thì anh ngồi làm việc ở chỗ này phải trả lời. Nổi khùng rồi đâm phát hoảng nhỡ gặp chuyện gì sau rất nhiều lần phải đối mặt với chuyện gì ấy ngay cả khi đã rời xa Tổ Quốc. Thì thế, cứ gì một Nguyễn Tuân sống được nhờ hèn. Cứ gì một Tô Hải tự xưng tôi là thằng hèn. Đồng bào của các ông chỉ khác các ông ở chỗ không biết được điều ấy nên bình tâm sống thôi. Hoặc cũng biết nhưng cư xử khác, giản dị hơn nên nhiều khi được việc hơn, và cái gì không biết chứ không thiếu phần can đảm. Cô bạn tôi, Ái Thanh, mười năm trước truyền cho tôi kinh nghiệm đối phó khi nhập cảnh. Cậu ta bảo chị phải thế này thế nọ. Thế cái luật này nọ đâu đưa ra đây cho tôi xem. Cậu ta lại bảo chị về nhà mà tìm. Tôi chưa xong cái thủ tục này thì làm sao về được nhà. Cậu ta lầm bầm thôi chị ra đi. Tôi không ra, anh đại diện cho nhà nước yêu cầu thì tôi là công dân phải thực hiện. Chúng nó quay lại thì thào con mẹ này điên. Này này anh bảo ai điên. Sau lưng mình là một hàng người chờ đợi nhé. Cuối cùng thì mấy cô cậu hải quan đúng là phải khuân đồ ra, thiếu điều bế theo mình… Phải nghe cô bạn lên cái giọng dân ca ba miền vẽo vọt kèm bộ điệu kịch nói uốn cái lưng phì nhiêu cơ, cứ gọi là mỏi hết hàm vì cười.
Rồi buồn.
Rất buồn.
Nông nỗi (để) buồn / cười này hầu như không xảy đên cho ai lần trở về này. Trừ với mấy cậu thanh niên người Quảng Bình Nghệ An. Họ bay cùng chuyến với tôi. Mặt rất quen. Trên máy bay, mấy cậu bé hỏi xin đổi mấy chục Euro tiền lẻ. Để làm gì? Chúng cháu bị trục xuất cô ạ. Đổi tiền để về sân bay nhà mình đút cho các anh công an. Thế sẽ không bị giữ lâu.
Hiểu rồi. Hiểu vì sao thấy các cậu cứ quen quen rồi. Những gương mặt này, ít tuổi mà không trẻ, những dáng dấp này, còi cọc vì thiếu ăn tuổi bé, tôi vẫn gặp hàng ngày ở trung tâm tiếp nhận tị nạn.
Tại sân bay Nga, suốt thời gian quá cảnh, họ bị giữ bên trong không được ra ngoài. Lúc làm thủ tục lên máy bay, tôi thấy họ, được dẫn giải lên máy bay trước nhất. Mấy chàng trai vẫy chào tôi, mỉm cười, vẻ vừa mừng vừa buồn lo. Tôi biết chúng tôi không bao giờ gặp lại nhau được nữa.
Đấy cũng là một nụ cười của người trở về. Rất Việt Nam quê hương tôi.
2.
Phản xạ đầu tiên của thằng con lớn khi lên xe ô tô rời sân bay là với tay quàng dây bảo hiểm. Và không thấy. Ông cậu đang cầm lái bảo dây đang ở dưới đít cháu ngồi ấy và thằng con mặt mũi bần thần vì bất an. Nhưng rồi cậu chàng yên tâm ngay để ngắm cảnh dọc đường. Đây, bờ mương một dãy chuối chưa trổ buồng đứng rũ dưới nắng. Đây, một gốc cổ thụ trùm bóng mát lên những mái quán xiêu vẹo, quán chữa xe, quán cắt tóc, dĩ nhiên, bên cạnh đó là quán nước. Mát mẻ và thân thương tựa hồ những mái quán dọc con đường sơ tán tuổi thơ, những Ba La Bông Đỏ, những Vác ngả rẽ về bốn làng Vân ngả xuôi tới Vân Đình. Gương mặt người lại qua cũng hệt gương mặt người ngày tháng cũ, tần tảo, cằn cỗi mà tươi bưởi. Hình như người khá giả không dừng chân nơi này. Cái khác duy nhất mà tôi nhìn ra là đôi ba cái xe máy tòng tọc dựng trước quán và chồng bia lon nước ngọt hình tháp bên cạnh lọ bánh rán tẩm đường. Và bụi. Bụi mờ mịt khắp con đường dẫn vào thành phố. Thì thế! Nhà cửa mọc lên từng ngày, vật liệu chuyên chở từng ngày thế này. Khắp nơi thấy nhà cửa mới xây cực kì hoành tráng. Rồi còn sự đông người. Người lạng lách xe máy vèo vèo trước mũi ô tô khiến tôi biến thành cái phanh mồm lúc nào không biết. Về tới nhà, thằng bé con cười khì khì ở đây đi ô tô không cần quàng dây thật mẹ ạ. Con nhìn đồng hồ, tốc độ xe có lúc chỉ 10 km một giờ, không sợ. Ơ hơ, thế mới đúng là con trai mẹ, biết đường ta ta cứ đi.
Và nó cũng không tỏ vẻ kinh ngạc gì khi xe dừng trước một nhà cao tầng trong một khu nhà lắp ghép cũ, khu Thành Công. Nhà nhà cơi nới, đeo ba lô đằng trước đằng sau. Lởm chởm, lô nhô. Ôi, phố Phái sẽ muôn đời là Hà Nội của một thời dường như xa lắm trong nhịp sống cuồng nhiệt này. Hà Nội của thời tôi, là nhà lắp ghép, là chuồng cọp, còn bây giờ, ba lô đằng trước đằng sau. Bà chị gái tôi, giáo viên, nguyên vợ liệt sĩ, đương kim vợ cựu chiến binh, không được phân nhà cửa gì, liều lĩnh xây hẳn một tầng trên mái, chất lượng căn hộ mới nhìn hơn đứt chất lượng căn hộ cũ mua hỏa hồng. Nhưng có nguy hiểm không? Chị Kim Trâm em gái chị Đặng Thùy Trâm đến chơi, cười: yên tâm, nhà này chất lượng… Liên xô. Xây thêm tầng nén xuống thì không sao, lao rầm sắt ra đua thành phòng mới còn được nữa là. Chị là kĩ sư chị… biết. Mấy chị em cười rầm rĩ, rồi cười dịu dàng nho nhỏ dần khi nhắc cùng nhau một Hà Nội của ba mươi bốn mươi năm trước ngày còn tuổi bé, khi Hà Nội còn vườn trong phố, còn hương cây – Những ngày chúng tôi rồng rắn lên mây cùng nhau đi qua chiến tranh.
Khu tập thể Thành Công gần ba mươi năm trước là một bãi rác khổng lồ. Hồi tôi học Sư phạm, đi qua đê La Thành, hay tạt vào đây thăm cô bạn gái. Khi đó khu này là khu tập thể mới nhất của Hà Nội. Vượt qua triền đê (kéo từ Ô Chợ Dừa qua Nhạc viện, qua trường Mỹ thuật Công nghiệp, và đại học Văn hóa) bốc mùi giẻ rách dân đồng nát phơi là tới cái khu này. Có vẻ như hiện đại và hoành tráng và vân vân nhất vào thời đó, chí ít vì ở đó có cả căn hộ ba phòng. Đã nhiều đêm tôi nằm trong một căn phòng cheo leo trên tầng năm, ôm thằng bé cháu mồ côi cho mẹ nó mang chiếu đi giặt nhân ngày có nước, và lắng nghe… Tiếng chim lợn kêu ghê rợn ngoài kia, trên con sông đen lặng lẽ chở trăng mờ. Hai mươi mấy năm sau, đứa cháu đã là một chàng trai trưởng thành, dòng sông còn lại đó, chảy nặng nhọc hơn vì bùn đọng nhiều hơn, và bốc mùi khủng khiếp trước mỗi lần đổi giời. Thằng bé lớn thì cứ đeo theo mẹ hỏi mùi gì. Thằng bé bé buổi sáng theo bố ra hồ, đi men theo con sông bốc mùi, về nôn chớ cả ngày và một ông bạn bác sĩ bảo có thể nó bị ngộ hơi. Nhưng với bố mẹ chúng nó thì bình thường, chẳng có gì lạ cả. Với chúng tôi, đó chính là Tổ Quốc, là thành phố quê hương, là tuổi trẻ cọc cằn vì thiếu đói thời bao cấp, mà lòng vẫn im lìm xôn xao bao nhiêu khát khao.
Khu Thành Công giờ biến đổi, cũng với nhịp điệu y như mọi góc phố, ngõ hẹp ở thành phố này. Thành Công cũ thì xuống cấp, cơi nới loạn xạ. Thành Công mới, phải gọi như thế chăng cái phần phình ra sau này, là khu Láng Hạ, thì khác hẳn. Trên mảnh đất hôm nay sừng sững những ngôi nhà chọc giời, một ngày đã xa mà không muốn quên, tôi thả tóc bay trong gió trưa chang chang nắng cho đỡ nóng, đạp xe trên con đường nối từ Giảng Võ sang Láng qua một cánh đồng rác mênh mông. Đi mượn giáo trình ngôn ngữ của trường Tổng hợp để về lòe mấy đứa bạn Sư phạm. Kinh thật. Nghĩ mà phục tuổi mình. Làm sao ngày ấy đói xanh xao mà vẫn có thể nhồi vào đầu đứa thì cổ điển đứa thì sức bền vật liệu, và vẫn rưng rưng được cùng nhau trước một… chẳng hạn như câu thơ này hơi lạnh nào ngón tay cầm se giá suốt cuộc đời chưa hiểu hết vì sao (Lưu Quang Vũ). Chỉ đơn giản vì Đẹp. Chẳng lẽ chỉ đơn giản vì Đẹp? Cho đến bây giờ, tôi biết, vẫn có những người chưa thôi tự hỏi mình câu hỏi này.
3.
Hà Nội nóng khủng khiếp. Hơi nóng tỏa từ trời, dâng từ dất, phả ra từ trăm ngàn ống xả xe máy chạy điên cuồng trên phố, từ những máy điều hòa nhiệt độ lổm chổm chồm ra từ mọi bờ tường. Lại nhớ lần về trước, cũng ngày nắng hạ thế này, chủ nhân blog Quê choa, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã “ối em ơi em về mùa này nóng không chịu nổi đâu”. Mà ông anh chính cống dân xứ bọ, đất gió lào cát trắng Quảng Bình đấy.
Trong buổi chiều nóng nung người ngay sau hôm về, tôi nhận được lời mời tham dự một cuộc triển lãm của mấy họa sĩ sắp đặt, từ nhà văn Lê Anh Hoài, tác giả cuốn “Chuyện tình thời tạp kĩ”, cũng là người hóa thân vào tác phẩm hội họa “Cột điện” (dĩ nhiên, của Hà Nội, nơi chó và người đều có thể bắc cầu vồng dù có biển đề cấm đái, nơi người ta có thể treo lên đó đủ thứ quảng cáo, từ tư vấn du học đến thuốc chữa bệnh tổ đỉa hay liệt âm liệt dương). Người đàn ông trẻ này tôi đã gặp lần đầu cách đây bốn năm, trong một bữa ăn trưa chung cùng với nhà văn Phạm Xuân Nguyên và Đỗ Hoàng Diệu. Và khi đó, tôi đã không dám thú nhận rằng mình cảm động. Chẳng lẽ lại có thể nói điều ấy dễ dàng trước một đĩa thịt ngan kếch xù. Nhưng đúng là như vậy, khi anh nói về cảm giác của anh khi đọc những dòng chữ tôi viết về Hà Nội, và những ngày xanh xưa chúng tôi… Hai nhà văn Phạm Xuân Nguyên Đỗ Hoàng Diệu bây giờ còn công dân Hà Nội Phố hơn cả tôi, nhưng kí ức về một bờ tường hồng dịu màu hoa tigon chạy suốt đường Thụy Khê, về mùi lá sen tàn từ một góc hồ Tây thoảng về với phố, về tiếng chuông xe điện trong màn sương rạng sớm, và nắng nhỏ trên hàng cây rét muộn có thể nào không xui tôi nhớ… (Bằng Việt), thì tôi chung với Hoài. Cả hai tác phẩm văn và họa của Hoài đều có tiếng vang xa cả. Tác phẩm văn tôi đã đọc trên dạng bản thảo, mỗi tuần Hoài viết gửi một chương, cho ngày cuối tuần hai vợ chồng tranh nhau đọc rồi cười sặc sụa vì buồn cười quá. Hiếm có nhà văn Việt nào hài hước được như Người Hà Nội này. Chỉ tức nỗi Internet tuyệt vời, nhưng lại không được tin cậy trong khả năng sàng lọc. Thế nên khi tôi gửi bản thảo của Hoài đi tứ tung, chẳng thấy ai cười cùng, có lẽ vì chẳng ai để tâm đọc. Nhưng khi in ra, tác phẩm đã nhận được rất nhiều lời bình chắc nịch: Hay! Ừ, văn chương còn cần gì hơn thế. Và điều này làm tôi lại tin lắm vào sức mạnh của chữ, vào sức sống của mỗi cuốn sách chúng ta cầm lên tay. Cái còn lại để băn khoăn chỉ là ta có đủ sức dành thời gian cho chính mình, tìm về với chính mình qua chữ không thôi.
Cuộc triển lãm của Hoài và các bạn được tổ chức tại một xưởng vẽ của một trong số họ. Nói cho oai, nó giống một nhà kho bỏ không, mái tôn, nằm ngay trên bờ sông Tô Lịch và muốn vào thì phải vượt qua bụi bặm của cả một con đường đang mở, một ngõ nhỏ khấp khểnh chỗ ổ gà chỗ sống trâu, nhưng đâu đó vẫn còn lại dấu tích của một con đường làng lát gạch nghiêng từ một thời ca dao nào xa xôi lắm. Người đến rất đông, và phần lớn còn rất trẻ, trẻ nhất có lẽ là thằng bé con hai mươi tháng tuổi của tôi. Những bó hoa, một bom bia hay là trà đá gì đó tôi không rõ, dăm ba đĩa ổi găng và nhãn… và những nụ cười, thân tình hồ hởi của khách, phấn khích bồi hồi của chủ. Nói thật là tôi rất ngạc nhiên. Lâu lắm rồi tôi không tham dự vào một hoạt động nghệ thuật như thế này, không biết có thể có một hoạt động thuần túy nghệ thuật như thế này. Bốn năm trước, khi tôi về, mọi người đã rủ rê hò hẹn đến với chương trình đọc thơ của nhóm Mở Miệng tại viện Goeter, để rồi ngày trước lúc khai mạc cả lũ chưng hửng vì tin nhóm Mở Miệng không được mở miệng, chương trình bị dừng vì những lí do hành chính gì đó. Nhà thơ Dư Thị Hoàn tổng kết tại gia: Buổi đọc thơ đã thành công rực rỡ (vì bị cấm) và rủ tất cả về phố biển. Tiếc tôi là đàn bà, về được có mấy ngày, mải chơi đến mấy vẫn không dám bỏ việc nhà theo nhau đi rong.
Cuộc triển lãm của các bạn họa sĩ diễn ra suôn sẽ, có phần còn được trời chiều. Sấm. Chớp. Gió. Sáng lên. Thốc lên. Tưng bừng mưa ca trên mái tôn. Nhưng mùi sông không chảy ngoài kia vẫn đặc quánh. Còn trong, thuốc lá toả khói mù mịt. Thằng con lớn tủm tỉm “mẹ lại bảo thế này mới thật Việt Nam đây” khi tìm cách lẩn ra cửa hứng mưa tránh khói thuốc.
Dĩ nhiên là sau khi đã chắp tay sau đít ngắm nghía. Lê Anh Hoài với tác phẩm mang ngay trên người: Một mũi tên hào hùng lao xuống dưới và dòng chữ Tiến lên, trắng trên đen, rất nổi. Trần Đủ với những bức họa không hình khối, giống những tấm bảng ngày sơ tán xa xôi chúng tôi vẫn sơn quét bằng cách mắm môi mắm lợi chà xát bằng lá khoai nước. Còn nữa, của các nghệ sĩ khác: Một cái vò đặt hơi nghiêng, miệng tỏa sáng. Ba cái ghế đóng vào nhau trong một thế chênh vênh. Kim găm kín trên đầu trên cổ các gương mặt Phật… Và tuyên ngôn nghệ thuật của từng người. Không mang tầm triết học, không sâu xa như tuyên ngôn của nhóm Dạ đài ngày nào, nhưng đủ để thấy sự quẫy cựa đòi bùng nổ của khao khát sáng tạo.
Mưa vẫn rơi. Ngoài cửa, chớp loé làm sáng lên trong khoảnh khắc màu nước sông đen và đặc. Rất ấn tượng. Chợt tôi hiểu vì sao ngay trong cửa xưởng vẽ này lại có một bức tường và mấy bậc cầu thang. Để ngăn nước sông Tô lịch dềnh lên. Một cô bé chắc phải là chỗ thân tình lắm với chủ nhân giải thích. Hà Nội mùa này nhiều mưa lắm, và từ ngày đất nước đổi mới, người và nhà lớp lớp sinh ra, mọc lên, Hà Nội thường xuyên ngập sau mưa.
Chợt nghĩ, nếu mình cũng là họa sĩ, mình sẽ làm một dãy mũi tên đồng, phải sáng phải ngời, men theo bờ sông khấp khểnh, tới trước xưởng vẽ trống trơn có bức tường này, đặt ở đó một tấm biển thật hiện thực chủ nghĩa: Nơi sáng tạo của nghệ sĩ. Rồi cho người người ngày ngày đi qua.
Thế không phải là một tác phẩm nghệ thuật (có khi xứng đáng là hậu hiện đại) sao?
4.
Lần trở về trước, dù rất lo ngại cho hai cái đầu gối giữa dòng xe máy lạng lách điên cuồng, tôi vẫn suốt ngày long rong trên phố với mấy đồng chí xe ôm. Và tôi đã phát hiện ra rất nhiều anh xe ôm là người thành Nam. Lần trở về này, muốn làm chó cái trốn con cũng không xong, vì con bám mẹ quá và còn bé quá, nên đi đâu tôi cũng tha lôi theo cả nhà. Và vì thế lúc nào cũng phải gọi tắc xi. Và lại thú vị với phát hiện mới tinh, rất nhiều tài xế tắc xi là người Nam Định. Cũng có anh bạn loè người Hà Nội là tôi, chở lòng vòng khắp các phố mới mở mù mịt bụi để tới một phố sát nhà, lấy cớ đường tắc, đường một chiều, dễ bị các anh hùng Núp – một cách gọi cảnh sát giao thông rất gợi nhưng cũng không còn thông dụng lắm – xử lí. Nhưng nhìn chung, những phút ngồi tắc xi với tôi cực kì dễ chịu. Chẳng phải vì máy lạnh. Ơ hơ, sá gì cái nóng do hiệu ứng ống xả bê tông lung tung này. Mà là câu chuyện cùng họ. Chính là trước họ mà tôi nhận ra thành phố này biến đổi, thành phố này đang tạo cho nó một lớp người riêng. Trẻ. Học nhiều và học ít. Nói ngọng. Liều lĩnh và cam chịu, cần cù. Trong cách sống của họ có không ít điều với người Hà Nội cũ dường như chưa ngấu, chưa nhuyễn. Nhưng quả thật, chính là họ đang làm nên một phần rất cơ bản gương mặt của phố hôm nay.
Đúng là thế. Miếng xôi xéo sáng nay tôi vừa ăn không thoảng vị lá sen già, vì đựng trong hộp xốp. Vẫn cứ tưởng do một ban tay đàn bà phố nhỏ làm ra. Mà không phải, do một cặp vợ chồng trẻ người tận Đông Anh ngày ngày nấu, chở sang Hà Nội. Cứ lầm lũi hăm hở thế, mỗi ngày họ nhồi veo veo vào bụng người Hà Nội mấy thúng xôi xéo xôi vò, là cái miếng ngon một thuở tưởng chỉ đất này mới có. Ngọn rau thơm nhỏ nhỏ, vị không thật đậm, nhưng đúng là rau thơm Láng, cầm lên tay tần ngần biết chẳng còn được trồng đất cũ. Ở đâu? Chắc Giang Biên Đông Dư gì đấy. Bà chị gái, dạy học trường Láng Hạ thản nhiên giảng giải. Tấc đất tâc đô rô (đo la, euro), ai điên để đất trồng rau rồi ngồi khóc với trời mưa trời nắng. Chợt nhớ một ngày xa xôi lắm một lũ con gái con trai học trò Hà Nội phải đi lao động, thực tế là sang quấy nhiễu bà con nông dân hợp tác xã Giang Biên. Cả lớp quây quần bên một luống đất đã được cào xới tinh tươm, trêu chòng nhau cho quên đói, chờ đến lúc được thót lên xe qua cầu Long Biên ngược về với phố. Đằng xa kia, trên cánh đồng mênh mông gió, những dáng người hì hụi úp mặt vào đất. Sau này nghĩ lại cái sự đi lao động của mình và của các phụ mẫu, cả lũ đều cười. Rồi, kinh ngạc. Có một thời như vậy thật sao? Chỉ vục tay vào đất, chỉ quai búa, đục, khoan… mới được quyền tự hào công khai. Nhưng, vinh quang mà thiếu đói. Nhưng, từ đó, không ai được yên thân với công việc của chính mình. Nên mới có niềm vui quái gở cơ quan bộ này lôi nhau đi trồng sắn cơ quan bộ khác lôi nhau đi trồng rau, để cuối mùa chia nhau củ sắn dài ngoằng nhỉnh hơn củ sâm Triều Tiên, và dăm ba mớ rau cằn.
Chợt tưởng như mình còn đang đứng giữa cánh đồng mưa phùn gió lạnh đằng sau khu vực trường Đảng, thời sinh viên, dịp học quân sự, cười sằng sặc với nhau vì câu ca dao về vườn cây của các học viên trường này không biết đứa nào mới sưu tầm hoan hô các cụ trồng cây mười cây chết chín một cây gật gù thế là các cháu ta mù mười cây chết cả gật gù ở chỗ nào. Ôi những nụ cười tím. Vì rét. Mấy đứa bạn sinh viên người vùng xa lúc nào cũng chỉ thấy mặc có hai cái áo cánh, tay săn nổi da gà. Cái lạnh một thời, lạnh từ trong ruột lạnh ra, lạnh run chân, vì đói. Giờ ai nhớ?
Vườn cây xưa dĩ nhiên không còn nữa. Con đường qua đó dẫn về dốc Bưởi ngày xưa không tên cô đơn trong trưa trong chiều bây giờ xe cộ gầm gào và mang tên một lãnh tụ Đảng hi sinh từ hồi bóng tối. Nhà cửa mọc lên kín mít. Đất ở đó chắc vào hàng đắt nhất Hà Nội. Không thể không trầm trồ vì vẻ đẹp, và trước hết là giá trị tiền bạc của từng ngôi nhà, và sau đó, lực tiền lực bạc của chủ nhân. Nhưng cũng không thể phân biệt được kiến trúc của cả quần thể. Thời nào? Có mái vòm mái chóp. Có cột tròn cột thẳng. Cái giống nhau duy nhất là cửa sổ nhà nào cũng lắp chấn song sắt rất chắc. Kiến trúc thời nào đây? Vài mươi năm sau liệu điều này có là câu hỏi cho các sinh viên trường Kiến trúc? Chắc là không! Anh bạn kiến trúc sư cười khì khì. Phá rồi xây là điệp khúc bài ca xây dựng của dân mình mà, khi quy hoạch loạn cào cào thế này và giấy phép xây dựng được cấp không theo quy hoạch mà …
Có thể! Tôi vừa được một người bạn cũ mời tới thăm nhà. Ngôi nhà cũ, rất đẹp được xây cách đây chưa đầy hai mươi năm vừa bị đập bỏ xây mới. Mạnh nhỉ – Tôi trầm trồ. Mạnh gì – Bà mẹ già của anh bạn mau mắn trả lời – Thế thời phải thế thôi cháu ạ. Ngày trước, nhà cô cao hơn mặt đường gần một mét, rồi đất lún, tôn đường, nền nhà thấp hơn mặt đường cũng gần một mét, những ngày mưa…
5.
Ơi chao những ngày mưa Hà Nội. Khi viết cuốn Gió tự thời khuất mặt, dường như tôi đọc thẳng từ gan ruột mình ra mấy câu này: Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua – Trên bước chân em âm thầm lá đổ. “Những chuyến mưa qua…” Phải. Hà Nội mùa này nhiều mưa lắm… Những cơn mưa buộc người ta ngồi lại, lặng lẽ nơi này, để, đôi khi, chỉ đôi khi thôi mà lòng đau đớn mãi. “Nhìn lại lại mình đời đã xanh rêu”. Như không phải là mình viết nữa, mà là thời gian đục thẳng vào tâm hồn chúng tôi. Đau. Và rất chậm.
Mưa hôm nay trên phố phường Hà Nội khác quá những cơn mưa ngày tháng cũ. Trước cơn mưa không có cái lặng phắc của cây lá, không có cái nhịp điệu nhanh dần của những vòng bánh xe đạp quay quay, không có cái cảm giác gió lùa tóc bên vai, mơn man má nhỏ. Sau cơn mưa thiếu tiếng ve hớt hải gọi mặt trời về, thiếu những giọt mồ côi rơi từ lá rũ, trên hết, thiếu cảm giác thanh sạch, trong veo, nhẹ bỗng, tưởng chừng có thể bay lên.
Mưa hôm nay trên phố phường Hà Nội khác quá những cơn mưa ngày tháng cũ. Giống cơn mưa Sài Gòn. Sầm sập. Rào rạt. Một ngày nào xa xôi lắm tôi đã giang tay giữa một cơn mưa như thế. Hai mươi mấy năm rồi. Ngày đó cái áo đi mưa của người Sài Gòn còn là ao ước của dân Hà Nội, vốn quen chỉ có hai tấm nilon choàng trước choàng sau làm phép, nói thật, với bọn con gái chúng tôi chỉ có độc tác dụng che đôi vú hùng dũng nhô lên sau lớp áo mỏng ướt sũng. Trên một con đường Sài Gòn năm đó có một dáng con gái váy áo trắng tinh lướt thướt phóng xe máy trong mưa, hệt một cô dâu chạy trốn khỏi phòng cưới trong một bộ phim Triều Tiên Hồng Kong gì đó ngày nào cũng được phát trên sóng ở Việt Nam. Diễm My! Diễm My! Có bác xích lô Sài Gòn nào hân hoan. Cơn mưa phương Nam gắn với tôi hai mươi mấy năm qua cùng gương mặt người đàn bà cực kì khả ái quyến vờn cả nước khi đó.
Cơn mưa Hà Nội của chúng tôi cũng hân hoan, theo một cách khác. Lặng lẽ và dịu dàng. Tôi, vốn không phì nhiêu trong thời con gái, vốn khổ vì bệnh nắng mưa, mà vẫn cứ liều lĩnh tự thỏa mãn mình bằng cái thú đi chơi trong đêm mưa, ngang nhiên bước giữa lòng phố. Cùng hai người bạn cũng hâm dở như tôi. Một đứa con gái, hai thằng con trai, chúi trong một tấm nilon được sáu bàn tay cùng giữ mà vẫn phồng lên, chỉ chực bay như một cánh buồm giữa phố. Hình như chúng tôi không nói gì. Hình như mưa to lắm. Hình như bắp chân tôi ngứa ran vì mưa. Mưa dập dồn ca hát trên tấm nilon. Lòng chúng tôi ca hát. Hình như bàn tay tôi chạm vào tay ai, nóng bỏng mà ướt át … Ơi chúng mình ơi!
Nam thanh nữ tú bây giờ có muốn điên như chúng tôi ngày xưa cũng không thể nào điên nổi. Con mưa giông mưa trận ập về. Trên mọi ngả đường, dòng xe cộ lầm lụi trôi đi. Không dừng. Không chậm. Mưa không át nổi tiếng động kinh hoàng vọng lên từ dưới phố, có chăng, chỉ làm ngắt quãng được cái giai điệu ẽo ợt chẳng biết dân ca quan họ nước nào vọng ra từ nhà hàng xóm. Mấy hôm đầu nửa mê nửa tỉnh, tôi ngỡ nhạc phim Triều Tiên Trung Hoa Banglades gì đó. Nghe mãi mới ra bốn chữ nước mắt tuôn rơi. Chắc là cái người ta gọi nhạc não tình nhạc thị trường gì đây. Cười thầm hồi chiến tranh giả dụ cái thứ nhạc này được phép phổ biến, chứ không phải ta vượt trên đỉnh núi cao Trường Sơn đá mòn mà đôi gót không mòn ta đi nhằm phương nam ta về quê hương quân về trong gió đang dâng triều lên… (Bước chân trên dải Trường Sơn – Vũ Trọng Hối) thì cầm chắc miền Nam thắng. Nhưng, giả dụ là như thế, với cái não trạng không đi cùng tao thì là kẻ thù của tao của rất nhiều người Việt chúng ta, Việt Nam hôm nay sẽ như thế nào?
Thắt ruột vì một câu thơ Lưu Quang Vũ viết từ 1972, trên đất nước thời giông bão. Người ta còn muốn gì người nữa – Việt Nam ơi? Bởi vì tỉnh với quê hôm nay, những cảnh đời hôm nay, dù khác, vẫn còn nguyên đó cái vất vả và thương khó. Trong mưa, nỗi đó thêm nhọc nhằn.
Đây, một góc chợ chiều. Hàng quán rũ liệt không có người vào ra chao chát. Mưa gõ trên mái nilon, mưa hắt thẳng vào sạp hàng xanh xanh đỏ đỏ toàn đồ Trung quốc rẻ tiền bày ra trong cái chái vẩy thêm từ một căn hộ chung cư cũ. Cô hàng thịt quay luống cuống kéo tấm nilon che nơi đứng bán. Chị hàng rau người teo nhách khép nép đứng ghé dưới mái quán ăn. Có con bé hôm trước vừa bán cho tôi mấy quả dứa vừa kể chuyện tranh thủ đi buôn vặt thế này mấy tháng hè, hi vọng sang năm bố mẹ không bảo thôi con nghỉ học tùm hum trong cái áo mưa đứng như trời trồng bên cạnh chiếc xe đạp kềnh càng hai sọt hàng. Nó dân ở Phùng, nó học ở chính cái trường huyện tôi bắt đầu kiếp nhà giáo nhà nghèo của mình. Qua Diễn qua Nhổn qua Trôi Đăm là tới, chỉ cách Bờ Hồ chừng 30 cây số, có thời nhập tách và bây giờ lại nhập về Hà Nội. Quê ông Quang Dũng Tây Tiến đấy, người có câu thơ không hiểu vì sao tôi cứ muốn nhớ thành “chiều xanh không thấy đáy Ba Vì”.
Trong mưa, tôi nghe thấy một lời mời. Ngoảnh lại: người lái xe ôm tùm hụp trong cái áo mưa xám nhờ, chỉ thấy mắt chẳng biết già hay trẻ, ngồi trên cái xe ôm chân co chân duỗi. Y như con cò gầy. Cái cò đi đón cơn mưa … Con cò mày đi ăn đêm… Cái cò lặn lội bờ sông…
Chúng tôi cũng đang đứng trên một bờ sông. Sông Tô Lịch nuốt chửng bụng nước phì xuống từ trời, phềnh lên chiếm lĩnh hai bờ. Mùi nước sông nồng nặc trộn với mùi rác từ ngõ chợ, quẩn rõ mùi vỏ mít nẫu dưới nắng nay rã dần trong mưa. Một anh chàng đứng dé chân chèo trong cửa tiệm Internet cách mặt con sông đen chưa đầy hai mét đang đùng đùng đoàng đoàng trò chơi game gì đó, khoái chí điều gì cười hầng hậc rồi văng tục. Cực kì sảng khoái. Có phải vì nóng nung người nay được trận mưa chăng?
Sự sống là thế ư? Cứ than ngán ngẩm hoài với nhau, mà chẳng bao giờ chán sống.
6.
Nhưng thật ra, khi phải vật vã với cơm áo hàng ngày, người ta chẳng than van. Có mệt vì áo cơm đến mức khùng lên, nói bằng ngôn ngữ của tuổi trẻ thời nay là chán (đến mức) cứt chẳng buồn ăn thì người ta cũng chỉ chửi rủa dăm ba câu một mình nếu chưa tìm ra đối tác để gây hấn, chứ thật ra chẳng thấy ai ngồi ngẫm ngợi với nhau về ý nghĩa tồn sinh như mấy anh ra tiền.
Chẳng hạn như cậu bạn thân của tôi.
Cứ ngồi cười khành khạch với nhau mỗi lần gặp mặt rằng may mà không lấy nhau chứ nếu không chẳng đứa nào biết thế nào là yêu, vậy mà quay trước quay sau đã ba mươi năm có lẻ là bạn, là cái tai nghe cho nhau những lúc gieo neo trong đời. Tôi lẩn thẩn đến giờ vẫn chỉ biết có một… – thôi, nhớ cái câu cực hay của bà lão nhà quê trong Bài học nông thôn của Nguyễn Huy Thiệp mà không dám dẫn, kẻo lại bị cho là (hì hì) – , còn bạn, hai đời vợ, mấy dòng con, vậy mà cái tình dành cho nhau vẫn vẹn nguyên cái tình tuổi học trò vô tư lự.
Đến thăm bạn ở khu Nam Thăng Long, hay còn gọi là Ciputra, thú thật là tôi choáng vì sự giàu có của ông bạn cũ. Nằm trên đất Phú Thượng gần hồ Tây, khu nhà rất hay được lên báo này giống hệt một góc phố ở một nước châu Âu nào đó, có điều hoành tráng hơn nhiều. Và có vẻ mới nỏi hơn nhiều. Thật, làm gì có một khu phố nào ở châu Âu dành cho dân, kể cả trên tiền, lại có cả đàn ngựa đúc đồng lồng lên với trời cao ở đầu phố cuối phố. Làm gì có khu dân cư nào ở châu Âu có người gác và người đi tuần ngày đêm như ở đây. Hệt những quãng phố ở khu Ba Đình thuộc diện bảo mật, như Nguyễn Cảnh Chân, Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu… Những biệt thự nằm bên nhau, tĩnh lặng. Những chiếc xe ô tô Mercedes bóng lộn, thù lù trong ga ra. Rồi dây leo, tán cọ thập thò vượt tường. Có cái gì đó chuẩn mực đến thành không thực. Càng không thực khi phố xá trong khu đó gần như không có bóng người ngoài đôi ba bóng đồng phục đi tuần. Ngoài kia, con đường Lạc Long Quân đang mở, xe cộ gầm gào, các gia đình mới chòi được ra mặt đường thi nhau xây nhà cao cao mãi, lởm chởm, quê mùa, hoạnh tiền, đầy vẻ thị xã tỉnh lẻ, bụi mờ mịt chỉ chực một cơn mưa đổ xuống để đáp trở lại mặt đất và biến thành bùn. Nắng lóa mắt và trời thì xanh. Vô ưu.
Gặp, chòng nhau tiếc không lấy nhau để được làm đại gia bà trước ống kính camera của đương kim chồng, mà lòng xót cho bạn quá. Già, béo, xệ ra. Ông chồng tôi đùa sao giống cựu thủ tướng Nam Triều Tiên. Còn tôi thầm nghĩ sao bạn mình giống hệt một tay viên chức cao cấp ở một cái hãng nổi tiếng nào của Nhật sắp tự tử vì căng thẳng. Có thể là tôi còn bị ám ảnh bởi câu chuyện dài về đường trường làm ăn của bạn mình bốn năm về trước. Chuyên môn giỏi? Chưa đủ! Đào tạo tại nước ngoài? Chưa đủ! Còn phải biết. Biết gì? Bạn cười khì khì. “Ngày xưa ở Nga viết thư cho Hà, toàn những chuyện đi dạo trên bờ sông Neva, xem lá mùa thu trong vườn ở Leningrad, nghe hòa nhạc ở Riga. Bây giờ thì là gói thầu, dự án, đối tác, những cuộc nhậu nhẹt và những chuyến bay… Bây giờ mình biết uống rượu rồi. Gan nát hết vì rượu. Nhưng không thế thì không làm ăn gì được.”
Một ngày sau buổi gặp gỡ đó bốn năm trước, tôi đi Hải Phòng. Trở lại Hà Nội, chui vào ngự trong cái xe chẳng biết mấy trăm ngàn euro của bạn, tôi đã cười khi bạn bảo „mấy hôm rồi không kịp nhớ ra Hà đang ở Việt Nam. Nếu không thì Hà đã chẳng ngồi yên ở Hải Phòng đâu“. Ngỡ tình xưa nghĩa cũ chứ. „Chán quá. Chán đến không buồn cáu. Mình đã thu xếp tất cả đồ đạc ở phòng làm việc. Tính tung hê. Về nhà nằm, tự dưng nghe tiếng trẻ con léo nhéo ngoài phố, lại nhớ mình còn con, mình không có quyền.. Nhưng … Như thế này mà là sống ư?“
Những đàn ông đang nháo nhào chạy xe, đang khuân vác, đang đào đất ngoài phố xa kia, những đàn bà đang nhớn nhác với gánh hàng đầu ngõ chợ, mặt mũi khắc khổ nhưng dễ cười hơn chúng tôi. Họ không biết có nỗi băn khoăn của bạn tôi, một đại gia: Như thế này mà là sống ư? Chỉ đơn giản là họ sống. Họ không có điều kiện để chọn lựa. Và sống với họ là làm sao đủ áo cơm, đủ tiền xây lại cái nhà, cho con ăn học.
Sống, với nhiều người, là còn hay được thở ra hít vào, đôi khi chỉ giản dị là như thế.
7.
Tôi lại lí sự mọn mất rồi. Sống không thở ra hít vào thì chẳng lẽ lại thở vào hít ra.
Cái sự thở hít sao cho cờ lờ xờ – CLC – chất lượng cao nay với nhiều người Hà Nội là rất quan trọng. Thành phố phình tướng ra, bao nhiêu con đường mới mở, các loại máy móc động cơ thi nhau gầm gào. Ô nhiễm âm thanh tạo cho mọi người khả năng nói to nghe nhỏ hay sao ấy. Khả năng mà tôi chưa có. Cứ phải nhấc điện thoại gọi hay trả lời là tôi luống cuống tìm chỗ để nghe. Lúc vào cầu thang máy đóng cửa một mình vi vu lên cao xuống thấp. Lúc chạy vào chỗ chẳng ai lại vào đó ăn hay nói. Lúc lao ra bãi đỗ ô tô. Nói chung, ở Việt Nam, chỗ này khá yên tĩnh vì lượng người có xe chưa được bao nhiêu… Chạy trốn âm thanh đã khó, chạy trốn không khí là bất khả. Ai có thể chấm dứt được cái sự thở ra hít vào. Sáng trưa chiều đêm mù mịt bụi, và khói, toả ra từ trăm ngàn ống xả xe máy gào rú trên đường. Trước khi tôi về thành phố còn bị phong tỏa bởi có nạn khói mù. Nguyên do đọc trên báo mạng thấy có nhiều, chẳng nhớ. Bà hàng xóm cao giọng giải thích tựu trung lại hoặc do nông dân ngoại thành đốt rạ sau khi hết vụ, hoặc do hiệu ứng thời tiết lung tung gì đó làm nghẹn mạch lưu thông không khí. Những ngày đó Hà Nội lúc nào cũng như lúc thành phố lên đèn giăng mù sương mùa thu ngày xưa, chỉ khác là nóng hực và khó thở. Ông anh rể hể hả may, chứ về đúng mấy hôm đó thì bọn mắt mờ chân chậm như vợ chồng con cái cô chú khéo không dắt díu nổi nhau qua đường. Bà chị gái thử giọng trước giờ đi dạy với chị hàng xóm, rằng nếu con bé (là tôi đấy, sáu mươi hai cân hơi và tuổi thì sắp đầu năm đít chơi vơi rồi) về vào đúng hôm có khói mù thì chắc mấy thằng bác sĩ phải bế thẳng từ sân bay vào bệnh viện cấp cứu. Bà chị thuộc loại du kích nhà ta ra thành phố, chẳng phân biệt được phương hướng, tưởng Nội Bài gần Trâu Qùy bệnh viện tâm thần, ra sức giảng giải tôi có nhiều bạn qúy là bác sĩ, kể cả bác sĩ ở Trâu Qùy, vào là được cứu chữa lập tức. Ơi giời, giá kể với ai có công cứu tử cũng phải lấy thân ra đền bồi thì tấm thân quả mít này biết xẻ bao nhiêu cho đủ.
Nhưng mà tôi đang đứng trên ban công một ngôi nhà cao tầng giữa Hà Nội bụi và khói bình thường. Không biết cái nơi một thuở vườn trong phố dù có đi bốn phương trời lòng vẫn nhớ này thở bằng lá phổi xanh sạch nào. Bây giờ. Những hàng cây thâm nghiêm trên phố cũ ngày xưa, những cơm nguội, những sao, những bằng lăng, phượng vĩ qua mùa hoa trông cằn cọc tội nghiệp bên vô thiên lủng nhà cao tầng mặt tiền hẹp nhảy hai bước là hết. Phố mới, cây vừa tròn bóng chưa lâu. Lại thêm giờ trên rất nhiều con đường mới mở chỉ thấy trồng cọ hay cau vua, không có bóng lá, nhang nhác những đại lộ Sài Gòn hay Los Angeles. Những làng quả làng hoa phía bắc thành phố, những Nghi Tàm Nhật Tân Quảng An Quảng Bá Xuân Đỉnh Xuân La giờ rối rít người xe, kín mít nhà cửa. Hồ ao thì ở cái nơi đất trên trời này đã được đắp được lấp. Những hồ ao tự nhiên mạn Đền Lừ, Ô Cầu Rền, Tương Mai, Quỳnh Lôi, Chùa Sét xưa nhiều khi chỉ phân cách nhau bằng con đường làng mảnh dẻ, đi qua sau mỗi trận mưa mà sơ ý hay cố ý làm trệch vòng bánh xe nhau một chút là đã có thể lăn ùm xuống với rau muống bè, nay không còn dấu tích. Hồ Tây, một chiều xưa hào hển chở tôi vượt dốc Yên Phụ, cô bạn ít khả năng tưởng tượng đã chỉ bảo “cứ đứng ở một góc hồ, tốt nhất phía đường Cổ Ngư, thaó kính rồi nhìn qua hồ sang bên kia, đằng nào mày cũng chả thấy nhà cửa đèn đóm gì, thế là coi như đã ra tới biển” nay bé tí hin, vì nhà cửa nêm san sát quanh hồ và cả vì mấy nhà hàng nổi. Thạch Lam giá còn sống ở cái nhà ven hồ Tây ngày xưa, dăm ba tuần gọi xe ben chở cho vài chuyến đất đóng kè đổ xuống thì khéo có thể gọi cả con từ Mỹ về cho hưởng thừa kế triệu đô không chừng. Ấy nhưng tưởng tượng này xúc phạm Thạch Lam rồi . Ông – Người Hà Nội của một Hà Nội nhã đến không thể nào nhã hơn thế, ông bỏ quá cho con.
Hà Nội hôm nay hừng hực sống. Hà Nội hôm nay không còn là đất của người đi nhẹ nói khẽ ăn ít no lâu. Hà Nội bụi và khói. Hà Nội bốc đủ thứ mùi đời. Trên mỗi bậc cầu thang ngôi nhà chung cư xập xệ này, phả vào tôi mùi hành tỏi phi, mùi cá rán, mùi canh măng nấu cá. Bước qua đường, mùi nước con sông hấp hối sát bên nhà, mùi chợ cóc xộc thẳng vào khứu giác. Cái chợ này ngày tôi ở nhà chưa có, thành hình chắc trên cơ sở cung cầu tự phát, họp ngay trên nền một trường mẫu giáo cũ, phình ra thu lại giữa các khối nhà. Một đồng nghiệp cũ của tôi hiện vẫn sống trong một trong các khối nhà đó. Cô bạn chung bàn với tôi thời cấp ba hiện đang thu mình sau sạp hàng tạp hóa ở đầu ngõ chợ đó. Với tác giả tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và tác giả trường ca Trầm tích, nơi này cũng từng là một cõi đi về.
Tôi nhớ Nam Cao. Nhớ Điền của ông. Đã ngồi viết, giữa tiếng con khóc, tiếng vợ léo nhéo và cả tiếng chửi của người hàng xóm ban đêm mất gà. Sông Tô Lịch ngày ông còn vật vờ kiếp sống mòn trong ngôi trường tư ngoại ô chắc chắn chưa bốc mùi như bây giờ.
8.
Thế nên sự người Hà Nội chăm lo cho việc thở ra hít vào là rất bình thường. Có tiền thì xây nhà to để phòng rộng chơi bóng bàn tại gia, cuối tuần lên trang trại chơi trò nông dân nghiệp dư hay du ngoạn các vùng sinh thái, hay chơi gôn, hay chơi tennis, hay đi bơi trong bể bơi thuộc khách sạn năm sao, hay nhảy tàu bay bay tuốt qua châu Âu tránh nóng. Ít tiền hơn thì tập luyện quanh nhà. Đứng trên ban công nhà bà chị nhìn qua hồ Thành Công, giờ nào cũng như giờ nào tôi đều thấy người rồng rắn vì lí do sức khoẻ. Giữa một khu chung cư lớn, cũ, xập xệ như cái khu Thành Công này, hồ Thành Công xứng đáng là mắt ngọc. Nếu nó lóng lánh giữa một khu vườn lớn thì tuyệt lắm. Nhưng đất Hà Nội có giá thế này, cái hồ chỉ còn được bao quanh bởi một con đường nhỏ nằm kề bên một vòng hoa cỏ nhỏ. Sát đó, là những biệt thự của abc, nhà múa hát (đám nghệ sĩ vừa ngồi cà phê với tôi gọi nhà hát ca múa nhạc Việt Nam thế), nhà của tổng công ti dầu khí và của các cơ quan xyj. Hôm trước, tôi thấy ở bảng tin phường dán một bài thơ của ông lão nào chẳng rõ, buồn bã vì nỗi hồ chưa bị lấp nhưng đất quanh hồ đều đã bị buôn đi bán lại, với câu kết kinh hoàng: hậu thế ơi hỏng mất rồi. Giờ thì không ai phải đối mặt với nỗi kinh hoàng này, vì bài thơ đã dĩ nhiên bị xé.
Ông anh rể cựu chiến binh của tôi, từng tây tiến thời chống Mỹ, đi qua mười năm tuổi trẻ ở chiến trường Pakhet, ôm một đống bệnh kể từ ngày đi từ trong rừng ra (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Minh Châu) nên rất chú trọng giữ gìn sức khoẻ … cho vợ. Ngày nào cũng như ngày nào, cứ sáu giờ sáng và hai giờ chiều là ông anh đánh cái áo ba lỗ và quần cộc, dận giày đi ra hồ. Nóng chảy tất cả thế này, sáu giờ sáng… đã đành, nhưng sao lại hai giờ chiều? Ông anh ngửa mặt cười kha kha kha: Qua tuổi tầm bồ rồi cô ơi. Đường đêm phải dành cho người tính yêu thêm chứ? Thằng cháu hồi còn chưa đi học – tị – nạn ở xứ người (chữ này cũng không phải của tôi mà của nhà văn Dạ Ngân) chiều chiều cữ hai giờ là ra hồ chạy, giải thích cho bà cô ngố rằng giờ đó mới tạm thời vắng vẻ, đỡ phải thở hít mồ hôi người.
Buổi sáng, tôi theo ông anh xông ra hồ. Xe máy vè vè lướt qua cửa vườn lủng củng một dãy xe đẩy chuyên chở rác cái lành cái thủng, bốc mùi nồng nặc. Những chiếc khẩu trang được gỡ xuống. Đồ đạc tập luyện được tháo khỏi xe. Từ cửa nhà vệ sinh công cộng, một phụ nữ đứng nhìn ra, và đó là người duy nhất tôi thấy vẫn kín mít trong khẩu trang, hoàn toàn dửng dưng với đám đông hiên ngang hăng hái. Cũng phải! Quần quật mấy tiếng đồng hồ để làm sạch cái trạm luân chuyển lương thực thực phẩm này, cần quái gì chạy bộ cho gầy người hay dưỡng sinh. Vẽ.
Người nhất loạt đi theo một hướng dòng dòng quanh hồ. Tôi nhận ra tức thì tinh thần thể dục ngày nay của dân mình có biểu hiện đậm đà qua tinh thần đi bộ, và đi kiểu này cũng dễ, ve vẩy nhẹ nhàng như đi chợ. Trẻ vừa đi vừa nghe nhạc. Già vừa đi vừa trầm ngâm. Một chị dáng mỡ màng trong bộ áo quần hoa phấp phới gió ban mai, tay khư khư ví, ý chừng tập xong quay về nhảo ngay ra cái chợ cóc họp sát bên hồ. Một ông chắc đã đi đủ chỉ tiêu ngày, dừng chân ở cái ghế đá trống, rút chiếc radio nhỏ nhỏ dò sóng, thảnh thơi chiếm ngự một đầu ghế. Một bà (chắc chắn không quen với ông) bám lấy đầu ghế bên kia, gắng gập người chổng mông làm một động tác cực khó với người đã trót để mình phì. Một bà khác đứng nhắm mắt dưỡng thần bên cạnh một đôi chíp hôi đang ngủ gật bên nhau như thể đã đi dạo suốt đêm. Rất hồn nhiên. Khác hẳn thời tôi ngày trước, chẳng ai cấm đoán nhưng đứa nào cũng ngượng nghịu mỗi lúc phải giơ chân giơ tay, kể cả lúc giơ tay hô quyết tâm quyết tâm. Tội ở mì gia công và hạt bo bo. No thì vẫn no, nhưng người ngợm cứ oải ra. Tập luyện nhằm mục đích giải trừ năng lượng là môn học xa xỉ với chúng tôi. Ngại. Đứa nào mà hăng hái thật thì nhất định là giống quái.
Người cứ đổ thêm vào dòng. Trước, sau, bên trái, bên phải, tay, chân, lưng, bụng. Ai cũng chăm chú và thành tâm. Tôi chưa từng thấy ở dân mình ý thức cá nhân, dám hết mình vì bản thân đẹp như thế này. Một thời hối thúc nhau “khoẻ vì nước kiến thiết quốc gia” cũng hớn hở đến thế này thôi chứ gì?
Bên lề cỏ, một mái tóc xác, một ánh mắt khô, một hàm răng hơi hô ngước lên. Hóa ra tôi suýt dẫm phải đống quần đùi áo cộc rẻ tiền vừa bày ra ngay lề cỏ, phục vụ tại chỗ bà con đi tập thể dục sớm của người đàn bà chắc ở quê ra. Tránh, tôi đụng phải một cánh tay rắn chắc vừa vung lên. Tiếng văng tục. May quá, anh chàng không để ý đến lời tôi xin lỗi mà còn mải bình luận với bạn về một đồng chí cầu thủ phường “hậu vệ gì mà đéo biết rê”, ngôn ngữ cực sống động.
Bước sát bên hai cậu chàng, hai ông bà có tuổi vừa vung tay vừa trò chuyện. Ông, trông rõ ra người quen nói lời gang thép khi xưa khoe thằng con trai đã tưởng phải nuôi báo cô một đời nay vừa chơi thêm một căn hộ cao cấp trên đường Hoàng Đạo Thúy và đổi xe năm chỗ lấy xe bảy chỗ. Bà, dáng cả đời cống hiến cho chồng con vô điều kiện, than mắc bệnh cao huyết áp vì thằng cháu biếng ăn, ngày nào cũng phải diễn trò bất đắc dĩ ôsin bế cháu bà bê bát, ông hát bài quần không có lấy áo ra mà phất có múa minh hoạ kèm theo, (lưu ý bạn đọc hát câu này theo giai điệu Tiến quân ca).
[còn tiếp]
Nguyễn Minh Cần - Suy ngẫm khi đọc "Ngày long trời đêm lở đất" của Trần Thế Nhân
Nguyễn Minh Cần gửi 04.07.2010
… Ôi ! quê hương
Hỡi những ngày xưa !
Thuỷ chung - nhân ái
Tất cả chìm-ngâm
Trong lừa dối cuồng điên…
Phùng Cung (1965)
Trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm của Dân Tộc ta, chưa từng có một trận thảm sát nào mà người Việt lại giết hại người Việt khủng khiếp như trong cuộc Cải cách Ruộng đất dưới “thời đại Hồ Chí Minh” hồi giữa thập niên 50 thế kỷ 20! Đó là trận thảm sát dân lành cực kỳ man rợ do đầu óc kỳ thị giai cấp, do ý thức hệ cộng sản của tập đoàn cầm quyền gây nên!
Trên thế giới đã từng có nhiều nước làm cải cách ruộng đất. Phần đông người ta làm một cách ôn hoà bằng cách Nhà nước mua lại số ruộng đất chủ sở hữu có trên tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, hoặc cho phép họ được hiến tặng. Nhờ đó, các nước ấy đã nhẹ nhàng xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh, đồng thời giữ được hoà khí và ổn định xã hội, tránh những đảo lộn nguy hại.
Thế nhưng, các “lãnh tụ” cộng sản thì cho đó là con đường “thoả hiệp giai cấp”, không đúng đường lối chủ nghĩa Marx-Lenin, không thể hiện tinh thần “đấu tranh giai cấp”, không phát động được lòng “căm thù giai cấp”, không mang tính “cách mạng triệt để”… Theo họ, Cải cách Ruộng đất phải là một “cuộc cách mạng long trời lở đất”. Phải “phóng tay phát động quần chúng”, nghĩa là làm hết sức mãnh liệt, thẳng tay, không khoan nhượng, không thương xót, có thế mới dấy lên lòng căm thù giai cấp cao độ trong quần chúng bần cố nông mà họ coi là “quân chủ lực cách mạng” để đánh gục giai cấp địa chủ.
Đảng Cộng Sản dõng dạc tuyên bố Cải cách Ruộng đất là để thực hiện “người cày có ruộng”, ước mơ ngàn đời của nông dân. (1) Nhưng, đó chỉ là trên lời nói! Còn trong thâm tâm, các “lãnh tụ” cộng sản có một ý đồ khác hẳn, nhắm những mục tiêu khác hẳn. Họ dùng khẩu hiệu “người cày có ruộng” làm “con mồi” nhử nông dân mà họ coi là “đồng minh chiến lược” (2) đi theo họ thực hiện những mục đích xa hơn, độc địa hơn. Họ dùng Cải cách Ruộng đất để tiêu diệt giới hữu sản bị họ coi là “giai cấp bóc lột” ở nông thôn, để truy quét các thành phần mà họ cho là “phản động”, quét sạch các tư tưởng và hệ thống giá trị đạo lý cổ truyền nặng về quyền tư hữu, loại bỏ cuộc sống tâm linh trái với chủ nghĩa vô thần của họ, xoá bỏ đạo đức truyền thống của gia đình, thôn xóm mà nền văn hoá làng xã lâu đời ở nước ta đã để lại. Chủ ý của họ còn là khủng bố tinh thần nhân dân, gây ra nỗi khiếp sợ triền miên trong người dân nhằm triệt tiêu mọi mầm mống chống đối họ. Họ ra sức xúi giục, kích động lòng hận thù, gieo rắc tính độc ác, tham lam, dối trá, đểu cáng… vào lòng người nông dân vốn chất phác, hiền lành… Tất cả những điều đó nhằm mở đường thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và huy động “quân chủ lực cách mạng” xông vào trận chiến đánh chiếm miền Nam.
Chính với ý đồ đó, các “lãnh tụ” cộng sản đã gây ra những tội ác tày trời đối với Dân Tộc: họ đã biến Cải cách Ruộng đất và Chỉnh đốn Tổ chức thành một cuộc đày đoạ, tàn sát dân lành và cả các cán bộ đã từng đứng dưới lá cờ của họ. Trong lúc nhân dân đang sống yên lành thì bỗng dưng Đảng phái những “Đội cải cách” về làng xã khép “tội” địa chủ cho nửa triệu người trong nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (với dân số nông thôn hồi đó trên 10 triệu) (3), và số người này ngay lập tức bị hành hạ, bị đoạ đày, bị giày xéo tận bùn đen! Hơn nữa, trên 172 ngàn sinh mạng vô tội đã gục xuống dưới lưỡi gươm “chuyên chính vô sản” vì bị quy oan là địa chủ cường hào gian ác, Việt gian, phản động, gián điệp, Quốc Dân Đảng! (4) Những cuộc “đấu tố” với cảnh con đấu cha, vợ tố chồng, con dâu vu oan cho bố chồng, con rể giá hoạ cho mẹ vợ, bà con, hàng xóm, láng giềng tố điêu lẫn nhau… đã đảo lộn đạo đức thông thường, giày xéo lên nền văn hiến lâu đời của người Việt, phá hoại truyền thống hoà hiếu, “lá lành đùm lá rách”, “tối lửa tắt đèn có nhau” của cư dân làng xã nước ta. Còn điều các “lãnh tụ” cộng sản không ngừng rao giảng: “xây dựng con người mới” theo “đạo đức mới”, tức là “đạo đức cộng sản” và “tư tưởng Hồ Chí Minh”, thì… than ôi, ngày nay, nhân dân ta đã thấy quá rõ “kết quả” thực tế rồi: đạo đức băng hoại, xã hội sa đoạ, nạn tham nhũng tràn lan, nạn mua quan bán chức phổ biến, tệ nạn lừa dối, đảo điên, đểu cáng, độc ác… nhan nhản khắp nơi trong nước.
Còn câu chuyện hoang đường “người cày có ruộng” hoá ra là… một “quả lừa vĩ đại” mà Đảng Cộng Sản đã cho nông dân “xơi” đến bội thực! Vì Cải cách Ruộng đất vừa xong hồi cuối năm 1956, một số nông dân vừa mới hí hửng “cắm thẻ nhận ruộng” để Đảng chụp ảnh quay phim tuyên truyền thì đến năm 1957-1958, họ đã bị Đảng lùa vào hợp tác xã để “tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội”. Thế là ruộng đất của nông dân biến thành của hợp tác xã, còn người nông dân thì hoàn toàn lệ thuộc vào ban chủ nhiệm hợp tác xã, vào đảng uỷ và uỷ ban xã như những nông nô! Đến khi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà “được” Đảng chuyển thành Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì… chỉ bằng một câu ngắn gọn trong Điều 19 của Hiến pháp năm 1980 “Đất đai, rừng núi, sông hồ… đều thuộc sở hữu toàn dân”, Đảng đã tịch thu một cách ngon ơ toàn bộ ruộng đất của nông dân, đất đai của toàn dân! Nông dân và nhân dân bị Đảng tước đoạt quyền sở hữu về ruộng đất, nói chung về đất đai, trong nháy mắt! Thế là ước mơ ngàn đời của nông dân mãi mãi vẫn chỉ là… “ước” và “mơ”!
“Quả lừa vĩ đại” này của Đảng chẳng phải một mình nông dân bị mà cả đại bộ phận nhân dân nước ta cũng bị. Thậm chí nhiều nạn nhân, khi đã “dựa cọc” rồi, sắp bị hành quyết mà vẫn chưa tỉnh, cứ nghĩ rằng tai hoạ của họ là do mấy “ông bà Đội” gây ra, nên trước khi chết có người vẫn gắng gượng kêu lên mấy tiếng “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Con cái của họ, kể cả nhiều người có học thức mà vẫn cứ bị lừa cho đến… hơi thở cuối cùng! Mà chẳng những nhân dân ta, ngay cả một phần dư luận thế giới, một số nhà đại trí thức nổi tiếng cũng bị đánh lừa! Cố nhiên, đến bây giờ thì thế giới người ta tỉnh rồi, chỉ có một số khá đông người Việt Nam ta vẫn còn mê muội hoặc… giả vờ mê muội.
Mỉa mai thay, nửa thế kỷ sau cuộc “cách mạng long trời lở đất”, dường như Lịch Sử Việt Nam lại trôi theo dòng chảy ngược! Cải cách Ruộng đất (1953-1956) “đã đánh đổ giai cấp địa chủ” thì giờ đây, ở nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, lại xuất hiện những địa chủ mới mà dân ta gọi là bọn “cường hào đỏ”, vì chúng là những cán bộ cộng sản lợi dụng chức quyền chiếm dụng đất đai (là sở hữu toàn dân!) phát canh, thu tô, cho vay nặng lãi ở nông thôn để bóc lột chẳng khác gì địa chủ thời xưa. Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn đã phải nói thẳng thừng: “Không có nước nào (như ở nước ta) người nông dân bị bạc đãi, bóc lột, hiếp đáp bởi bọn cường hào mới, đa số là đảng viên trong các đảng ủy điạ phương được cấp trên thông đồng che chở. Không ở đâu, chưa bao giờ nông dân bị tước đoạt đất ruộng qua “thu hồi” kiểu cưỡng bức và tùy tiện, với chính sách “đền bù” nhảm nhí, “bèo bọt” chỉ bằng một phần 10, có khi chỉ một phần 20 của giá trị thực!” Giờ đây lại xuất hiện cảnh nông dân cầm cố ruộng đất mà họ được phép sử dụng để đi làm thuê làm mướn hoặc đi tha phương cầu thực, các nhà khoa học xã hội gọi đó là “tình trạng ly nông”. Giờ đây xuất hiện thêm một lớp người “mới” có tên gọi là “dân oan”, tức là gần một triệu nông dân và người lao động bị chiếm đoạt đất đai, bị cướp đoạt nhà cửa đi “kêu oan”, thậm chí đi biểu tình, ở các “cửa quan” cộng sản hàng chục năm trời mà vẫn “không đi đến đâu cả”! Giờ đây còn xuất hiện thêm những cảnh tượng nhục nhã chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà: “nhà nước xã hội chủ nghĩa” đem trên nửa triệu nam nữ nông dân, lao động “xuất khẩu” ra nước ngoài bán cơ bắp, mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa để nhà nước thu về hàng nhiều triệu đô la (5); “nhà nước xã hội chủ nghĩa” cho phép các dịch vụ “buôn người” dưới dạng “lấy chồng ngoại quốc” đưa hàng mấy trăm ngàn cô gái nông thôn vì nghèo đói phải bỏ mẹ cha, bỏ anh chị em, bỏ quê hương làng xóm để… bán mình cho các “ông… chồng” Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc…, thực chất là đi làm nô lệ, kể cả nô lệ tình dục!(6) Nhiều nhà nghiên cứu và nhà báo trung thực trong nước đã mô tả cuộc sống của người nông dân Việt Nam ngày nay còn lầm than, khổ ải hơn hồi trước “cách mạng”, hơn trước ngày “thống nhất đất nước”! Đó là sự thật hết sức phũ phàng mà nông dân Việt Nam đang phải ngậm đắng nuốt cay cúi đầu chịu đựng!
Cải cách Ruộng đất “long trời lở đất” như vậy, một sự kiện lịch sử lớn lao như vậy, thế mà đã trên nửa thế kỷ qua, chưa có một công trình nghiên cứu chân thật, khách quan nào của các nhà khoa học trong nước được công bố! Chưa có một tác phẩm nghệ thuật, văn chương nào của các nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà điêu khắc, nhà văn, nhà thơ… trong nước diễn tả lại tấn thảm kịch đầy đau thương của Dân Tộc! Chẳng phải vì giới trí thức sáng tạo nước ta thiếu người có tài, có tâm, mà chỉ vì ngay sau Cải cách Ruộng đất các “lãnh tụ” cộng sản đã coi đó là một trong những đề tài cấm kỵ không ai được đụng đến. Cái tabou khắc nghiệt này thì đám quan chức của chế độ cực quyền ngày đêm canh giữ nghiêm ngặt mãi cho đến ngày nay!
Hồi đầu cuộc “đổi mới”, cuốn “Ác Mộng” của Ngô Ngọc Bội chỉ mới dám lướt nhẹ qua chuyện “cải cách”… Mãi đến gần đây, đầu thế kỷ 21, mới lác đác xuất hiện vài cuốn tiểu thuyết đề cập thẳng đến đề tài cấm kỵ đó. Cuốn “Ba Người Khác” của Tô Hoài, hoàn thành từ năm 1992 nhưng chật vật mãi đến năm 2006 mới được xuất bản. Cuốn “Nước Mắt Một Thời” của Nguyễn Khoa Đăng sắp xuất bản thì bị cấm ngay tức thì và cuốn “Thời Của Thánh Thần” của Hoàng Minh Tường vừa in xong, chưa kịp phát hành thì số sách in đã bị Đảng ra lệnh thu hồi để nghiền làm bột giấy!! Một hành động man rợ, phản văn hoá của bọn Tần Thuỷ Hoàng thời nay!
Người viết những dòng này đã phải sống suốt quãng thời gian “long trời lở đất” rất kinh hoàng, đầy bi thương, đầy máu lệ, đầy chết chóc, đầy tàn phá, đầy “lừa dối cuồng điên” ... Đã nhiều lần dự hội nghị về Cải cách Ruộng đất, được nghe “Bác Hồ vĩ đại” và “Anh Cả Trường Chinh” huấn thị về “Cải cách Ruộng đất”, “Chỉnh đốn Tổ chức”, về “phóng tay phát động quần chúng”... Đã từng chứng kiến nhiều cuộc đấu “địa chủ cường hào ác bá” ở Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Đông. Cũng đã từng đi làm nửa đợt “cải cách” ở Thái Bình, giữa chừng thì Thành uỷ xin về Hà Nội để nhận trách nhiệm lãnh đạo công tác “sửa sai cải cách” ở Ngoại Thành Hà Nội. Cải cách Ruộng đất quả là một cú đẩy mạnh làm người viết thức tỉnh, đánh giá lại Đảng Cộng Sản và các “lãnh tụ” của Đảng, cũng như nhìn lại con đường mình đã đi… Đó là khởi đầu cho một quá trình đấu tranh, dằn vặt, đau đớn để có được một nhãn quan mới, tư duy mới, cuối cùng dẫn đến việc rời bỏ Đảng Cộng Sản. Chính vì thế, người viết biết rõ nỗi đau khổ của bà con nông dân, vô cùng thông cảm với các nạn nhân của Cải cách Ruộng đất và nóng lòng mong mỏi được thấy những tác phẩm văn học nghệ thuật chân thật mô tả về sự kiện lịch sử đau thương này.
Thế rồi, hồi năm 1996, tôi đặc biệt cảm động khi lần đầu tiên được cầm trong tay tập copy bản thảo tiểu thuyết “Ba Người Khác” của Tô Hoài. Tôi thầm cảm ơn nhà văn Tô Hoài đã giáng một đòn mạnh vào cái tabou kỳ quái của Đảng để hé ra cho độc giả biết được phần nào sự thật về Cải cách Ruộng đất. Ông là nhà văn lão thành có tên tuổi ở nước ta nên cái gương sáng của ông sẽ cổ vũ nhiều người khác noi theo.
Đọc xong, tôi đưa “Ba Người Khác” cho một ông bạn già xem. Ông ta đọc kỹ lắm rồi gặp tôi, ông bực bội phán: “Viết về Cải cách Ruộng đất mà Tô Hoài chỉ kể về ba thằng Đội ba lăng nhăng ấy thì không được! Phải nói đến “Ba Người Khác” cơ!” Tôi hỏi lại: “Là ai?” Ông đáp: “Ai nữa? Là Bác Hồ vĩ đại, Bác Mao cũng vĩ đại và Cụ Xít càng vĩ đại! Chính ba ông đầu nậu ấy đã bày ra cái chuyện “cải cách” ở nước ta”. Tôi nói: “Anh nói cũng đúng thôi! Không có Cụ Hồ và Đảng Cộng Sản, và Cụ Hồ không đi xin “chỉ thị” Cụ Xít, không xin phép Cụ Mao cho rước đoàn cố vấn Tàu sang thì chẳng có chuyện “cải cách” khủng khiếp này”. Anh ta hăng lên: “Đó là nói hàng trên. Còn dưới một bậc thì “Ba Người Khác” là “Anh Thận” (Trường Chinh), sau đổi là Năm để nhún nhường đứng sau Ba Duẩn, rồi đến thằng cha Hồ Viết Thắng và “Anh Lành” (Tố Hữu) “nhưng dạ chẳng lành” (7). Tôi hỏi: “Tố Hữu thì có liên quan gì đến? Lão ta không có chân trong Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương mà”. Anh ta đáp: “Thế anh không biết à, y là kẻ “gác cổng” tư tưởng của Đảng ta. Y phụ trách công tác tuyên truyền cho chiến dịch “cải cách” đấy. Chính y đã đánh tơi bời Trần Bá Xá chỉ vì cái truyện ngắn chân thật “Anh Cò Lấm” đăng trên tạp chí “Tổ Quốc” hồi tháng 1 năm 1956, y buộc cho tác giả những tội “chết người”, như có tư tưởng phản động của giai cấp địa chủ, chống phá chính sách Cải cách Ruộng đất! Ban biên tập “Tổ Quốc” cũng điêu đứng vì y. Rồi đến khi Hà Minh Tuân cho ra cuốn “Vào Đời” có đụng chi mấy đến chuyện “cải cách” đâu mà y và lão (Nguyễn Chí) Thanh xúm vào đánh cho tơi bời, kỷ luật tùm lum. Cũng chính y đã tung ra những câu thơ sặc mùi đao phủ để kích thêm đầu óc hiếu sát của các Đội cải cách. Anh còn nhớ không?” Rồi anh ta đọc vanh vách:
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế (8) mau xong,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt”…
Chuyện phiếm đàm của hai ông bạn già chúng tôi còn dài. Nhưng, nói chuyện nghiêm chỉnh thì phải công nhận là Tô Hoài đã bất chấp tabou, đề cập đến một đề tài “rất nhạy cảm”, và với văn tài của mình ông đã tạo nên một cuốn tiểu thuyết khá hấp dẫn. Ông đã vẽ lên rất rõ nét hình ảnh ba “anh Đội” cải cách – đội trưởng Cự, đội phó Bối kiêm chánh án và một cán bộ Đội tên Đình. Cả ba gã này mỗi tên một vẻ nhưng đều có tính lưu manh, đều hám quyền lực, đều dối trá, ham gái, dâm đãng và không gờm tay trước tội ác. Tác giả đã mô tả rất “ấn tượng” những cảnh hoang dâm, quần dâm của ba “anh Đội” với các cô “rễ chuỗi” bần cố, với các nàng dân quân… tạo nên một cảm giác tởm lợm của người đọc đối với mấy tên này. Tuy nhiên, người đọc tinh ý thấy rõ rằng Tô Hoài dù đã đụng đến đề tài Cải cách Ruộng đất nhưng lại tránh né, không dám phơi bày thực chất và nguồn cơn tấn thảm kịch của Dân Tộc đã diễn ra trong lịch sử. Độc giả chờ đợi rất nhiều ở một nhà văn có tầm cỡ như Tô Hoài, nhà văn đã từng tham gia hai đợt Cải cách Ruộng đất, làm đội phó lại kiêm chánh án Đội cải cách, họ hy vọng được thấy từ ngòi bút của ông hiện lên một bức tranh toàn cảnh đồ sộ, chân thật về cuộc đảo lộn khủng khiếp này. Nhưng, đọc xong “Ba Người Khác”, độc giả vẫn chưa thấy được toàn bộ sự thật, “sự thật trần truồng” không che đậy. Người đọc bàng hoàng nghĩ rằng lẽ nào chỉ vì ba cái thằng khốn nạn này mà mọi sự trong xã hội dưới thời “dân chủ cộng hoà” lại đảo lộn tùng phèo đến như thế ư? Thế thì ai cho chúng nó cái quyền “nhất Đội nhì Trời” để chúng nó tác oai tác quái làm những chuyện “long trời lở đất” như vậy? Ai đã vạch đường chỉ lối cho chúng, ai đã “phóng tay” cho chúng làm “cách mạng long trời lở đất”, làm loạn xị cả một vùng nông thôn như vậy? Ai đã đã kích động chúng “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ” để cho chúng thẳng tay tàn sát dân lành không chút xót thương? Ai? Ai?? Nhiều người cho rằng Tô Hoài là đảng viên cộng sản, một cán bộ quan trọng của Đảng trong lĩnh vực văn học, một nhà văn-con cưng của chế độ, ông muốn sống “tròn” với Đảng nên dù có đề cập đến Cải cách Ruộng đất, nhưng ông đã hết sức gượng nhẹ, cố lái câu chuyện sang một hướng khác. Đoạn kết của tiểu thuyết, tác giả “cho” Đội trưởng Cự chạy vào Nam đầu hàng địch và bị “quân ta” giết… thì càng làm cho người đọc lạc hướng hơn nữa, dường như “Mỹ Nguỵ” có dính líu gì đến những chuyện xấu xa, những điều man rợ, những đảo lộn xã hội khủng khiếp hồi Cải cách Ruộng đất. Cố nhiên, cách kết cấu cốt truyện, hư cấu tình tiết là quyền của tác giả, nhưng độc giả có quyền đòi hỏi tác giả phải làm sáng tỏ sự thật của những tội ác tày trời.
Cuốn “Nước Mắt Một Thời” của Nguyễn Khoa Đăng và cuốn “Thời Của Thánh Thần” của Hoàng Minh Tường tôi cũng được đọc khá sớm bản photocopy từ trong nước gửi ra. Sau đó ít lâu, một người bạn thân trong nước gửi cho cuốn “Thời Của Thánh Thần” còn thơm mùi mực. Đó là một trong những cuốn may mắn “lọt lưới” thu hồi của nhà nước!
Điều đáng nêu lên ở đây là cả hai nhà văn Nguyễn Khoa Đăng và Hoàng Minh Tường đều rất can đảm “xông xáo” vào đề tài cấm kỵ này. Họ không ngần ngại mô tả rõ nét thảm cảnh kinh hoàng của nông thôn trong thời kỳ “cải cách”. Tuy nhiên, độc giả vẫn cảm thấy đôi chỗ còn gượng nhẹ, tránh né, dè dặt, mà đó là điều dễ hiểu, vì các tác giả đang sống dưới chế độ cực quyền khắc nghiệt, lưỡi gươm “chuyên chính” luôn luôn lơ lửng trên đầu… Hơn nữa, những ai đã từng sống trong thời kỳ “cách mạng long trời lở đất” cũng dễ nhận thấy là hai tác giả chủ yếu chỉ được nghe kể lại những cảnh khủng khiếp thời “cải cách” chứ chưa thật sự sống trong đó, nên có những chỗ phản ánh không thật sát thực tế, dùng lời ăn tiếng nói không phải thuộc về thời ấy. Riêng Hoàng Minh Tường còn đi xa hơn thời “cải cách”, ông đã mở rộng khung cảnh xã hội ra cả giai đoạn sau này, muốn giúp độc giả thấy rõ tính liên tục của cả một thời đại lịch sử. Đó là một ý định rất tốt, nhưng vì mở rộng quá nên phần sau của tiểu thuyết “Thời Của Thánh Thần” hơi bị loãng.
Còn tiểu thuyết sắp ra mắt người đọc nay mai, cuốn “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân mà tôi vừa được xem bản thảo mới từ trong nước “vượt biên” ra ngoài thì chủ yếu tập trung phản ánh cuộc Cải cách Ruộng đất ở một vùng thuộc tỉnh Thanh Hoá. Nhưng qua những màn “cải cách”, qua chuyện kể của các nhân vật, đôi lúc tác giả cũng nhẹ nhàng đụng đến những chuyện về sau, chuyện “hậu cải cách”.
Tác giả là một người đã sống trong cuộc, cảm nhận sâu sắc nỗi đau của nhân dân và dũng cảm phơi bày sự thật kinh hoàng trên những trang viết. Tôi vốn là “dân” Khu Bốn (9), có dịp qua lại, quen biết vùng được mô tả trong truyện, biết rõ các “vị” mà dân địa phương coi là “hung thần cải cách”, như Hồ Viết Thắng, Đặng Thí, Chu Văn Biên… Ngay cả vài nạn nhân trong truyện tôi cũng đã từng nghe tên, vì tác giả giữ tên thật. Còn một số nhân vật khác tôi hơi ngờ ngợ là mình đã nghe đâu đấy, có lẽ vì lý do tế nhị nào đó tác giả đã đổi tên chút ít chăng. Cho nên tôi rất xúc động khi đọc những trang viết đượm đầy nước mắt trong “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất”. Tôi có thể khẳng định rằng cuốn tiểu thuyết này của nhà văn Trần Thế Nhân đã dựa trên “người thật việc thật” mô tả sự kiện kinh hoàng đúng như nó đã diễn ra, không chút dè dặt, e ngại, không chút gượng nhẹ. Có thể độc giả trẻ tuổi ngày nay khi đọc nhiều cảnh tượng hết sức lạ lùng, kỳ dị, quái đản, rùng rợn quá sức tưởng tượng, thì không thể nào hiểu nổi làm sao trong cuộc sống đã có thể diễn ra những điều như thế được, đâm ra nghi ngờ tính chân thật của truyện. Nhưng, than ôi, những chuyện quái đản như thế hồi đó thật sự đã diễn ra và diễn ra ở nhiều nơi!
Cố nhiên, đã là tiểu thuyết thì tác giả phải hư cấu. Điều hư cấu nổi bật nhất là Trần Thế Nhân đã dùng “những người âm” của thế giới Bên Ấy để kể chuyện thật, rất thật của thế giới Bên Này. Tác giả dùng lối hư cấu đó vì… “Chết thật rồi/ mới dám nói/ Và Nói Thật!” (Khúc Dạo Đầu). Lối hư cấu này gần với tín ngưỡng dân gian, gần với đạo Phật, dễ được đại chúng chấp nhận. Có lẽ lối hư cấu này cũng không xa khoa học lắm khi gần đây các nhà vật lý học hiện đại đã phát hiện ra “vật chất đen”… Nhưng, điều quan trọng đáng nói là tác giả sử dụng lối hư cấu này thật nhuần nhuyễn đến mức người đọc thấy mọi sự kiện, mọi tình tiết trôi chảy rất tự nhiên, và câu chuyện rất đau thương lại cuốn hút mạnh tâm trí người đọc từ đầu đến cuối sách. Chính nhờ lối hư cấu này tác giả đã mô tả được rất chân thật nội tâm các nạn nhân của những “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” nửa thế kỷ trước. Trong một lá thư gửi bạn, tác giả tâm sự: khi viết tiểu thuyết này, tác giả có cảm giác rất thật rằng mọi lời nói, mọi sự kiện… trong tác phẩm là do chính người âm đồng hành, nhập vào tác giả mà kể lại.
Đọc “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất”, tôi cảm nhận rằng Trần Thế Nhân đã thực hiện đúng thiên chức cao quý của người cầm bút để không tự nhốt mình trong cái “chuồng văn” tù túng, ngột ngạt với đủ loại ý thức hệ Mác-Lê, đảng tính, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa… vớ vẩn, nhảm nhí, không tự ép mình phải đi theo “lề phải” của kẻ cầm quyền, ông mới có thể sáng tạo nên một thiên tiểu thuyết – nói theo từ ngữ thời thượng trong nước – sáng giá như vậy. Sáng giá cả về tính chân thật, cả về mặt văn chương.
Bút pháp của tác giả bình dị mà táo bạo, trầm tĩnh, nhẹ nhàng mà da diết, xoáy sâu vào lòng người đọc. Lối viết hình ảnh, bóng bẩy, ẩn dụ đôi khi xen vào những triết lý sâu xa. Giọng văn hóm hỉnh, châm biếm, hài hước, trào lộng gây hứng thú dù bức tranh toàn cảnh thật vô cùng ảm đạm.
Có những câu nói thật thà, thơ ngây của nhân vật lại rất thâm thuý, nêu lên được thực chất của những vấn đề lớn. Chẳng hạn, câu nói mộc mạc của Thuỳ Dương, một nhân vật nữ: “Ông chồng yêu quý của em có lần bảo Bác Mao viết kịch bản. Nhà Hát tuồng Thiên An Môn diễn trước, rồi đưa sang Ba Đình Hà Nội… Ta cứ thế mà làm theo Tàu…”. Suy cho cùng, câu nói đó phản ánh sự thật nửa thế kỷ trước và cả sự thật ngày nay, và cả những gì rất đắng cay cho Đất Nước, cho Dân Tộc ta nằm đằng sau sự thật khốn nạn đó nữa! Đúng thế, như chúng ta đều biết, chính sự thần phục, quỵ luỵ đớn hèn và sự lệ thuộc nhục nhã của kẻ cầm quyền cộng sản đối với “Thiên triều Đỏ” nửa thế kỷ trước và cả ngày nay đã gây cho Đất Nước ta biết bao tai ách, kể cả việc mất đất, mất biển, và hiện đang đặt Dân Tộc ta trước hiểm hoạ mất nước rành rành!!
Cái nhìn của tác giả đối với nông dân trong truyện rất công bằng: trong khi mô tả những “rễ chuỗi” gọi là “bần cố” có tính lưu manh, tham lam, độc ác, vô ơn vô nghì, gieo oan giá hoạ cho người ngay, ông lại đưa lên hình ảnh những người nông dân hiền lành bị Đội ép buộc phải miễn cưỡng “tố điêu” ở “đấu trường” theo lời mớm của Đội, nhưng sau lưng Đội họ vẫn lén lút, thầm lặng giúp đỡ cho người bị oan. Hồi đó mà dám làm như vậy thì thật là liều lĩnh, nhưng lương tâm thôi thúc họ phải hành động theo tính người, theo tình người, bất chấp hiểm nguy.
Khác với mấy cuốn tiểu thuyết viết về Cải cách Ruộng đất mà nhiều người đã biết, như “Ba Người Khác” của Tô Hoài, “Nước Mắt Một Thời” của Nguyễn Khoa Đăng, “Thời Của Thánh Thần” của Hoàng Minh Tường, cuốn “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân không chỉ phơi bày rất rõ nét những tội ác tày trời trong Cải cách Ruộng đất, mà còn khéo léo vẽ lên bằng những đường nét ẩn dụ để người đọc tinh ý có thể liên tưởng nhận ra được bộ măt thật của những thủ phạm chính đã gây ra tội ác.
Nhà văn mở đầu thiên tiểu thuyết của mình bằng mấy chương kể lại câu chuyện bi thảm của nàng cung phi thời xưa. Nhưng chuyện xưa lại phảng phất bóng dáng một nàng “cung nữ” thời nay - thời “dân chủ cộng hoà” - cùng với “Đức Vua” và viên “Thượng Thư” đầy quyền lực cũng thời nay… Hoá ra, “khúc cung oán” thời nay lại ngậm ngùi, ai oán, bi thương, thê thảm hơn nhiều so với “Cung oán Ngâm Khúc” thời cụ Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều! Lối mở đầu như vậy làm người đọc cảm thấy dường như tấn thảm kịch đầy máu lệ của một con người bé nhỏ, yếu ớt lại mở đầu cho cả một loạt thảm kịch triền miên của nhân dân…
Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong truyện tác giả đã nói rõ tuổi tác của “Đức Vua” «triều nhà Nguyễn»: «Năm ấy Người đã 66 xuân». Nếu lấy năm 1955 là năm xảy ra cuộc Cải cách Ruộng đất ở huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá để tính, thì năm sinh của “Đức Vua” thời nay nhằm đúng vào năm 1890. Một chi tiết khác – «Sáu năm trước, Triều đình đã xử chém ngang lưng một viên quan tổng kho. Dẫu y là công thần, đã từng theo gót chân Thiên Tử xông pha nơi lam chướng ngàn trùng, vào ra trong máu lửa, tên khuyển nho đầy tớ hoang dâm vô độ này đã biển thủ công quỹ và xài phí tài sản vương quốc để cung phụng tiệc cưới xa hoa của hắn….» – hoàn toàn ăn khớp với sự kiện ngày 5 tháng 9 năm 1950, viên Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục quân nhu của Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bị xử tử theo lệnh của “Đức Vua”, vì tên này đã phạm tội tham ô lãng phí, lấy của công để tổ chức đám cưới xa hoa của y. Vụ án này xảy ra đúng sáu năm trước cuộc Cải cách Ruộng đất ở Thanh Hoá hồi năm 1955 mà tác giả đã mô tả.
Giọng lưỡi của “Đức Vua” «triều nhà Nguyễn» nói về mình với nàng cung nữ – “Lòng Trẫm nặng một nỗi thương đau. Khanh có biết chăng? Trẫm thương những con dân cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm, bầy trẻ lớn lên chưa được cắp sách tới trường… Đất nước ngàn năm loạn lạc chinh chiến; may Trời cho còn lại được ít ngày thái bình yên vui… Vậy mà nay ngoại bang quay trở lại xâm chiếm, cắt chia. Chiến tranh lại tiếp nối chiến tranh. Nghe tiếng suối khóc, lắng tiếng gió than, lòng Trẫm càng não nề xót xa. Trăng càng sáng, nước non xinh đẹp càng tang thương, lòng Trẫm càng nặng nỗi lo cho dân, chua xót niềm đau cho xứ sở. Trẫm làm sao nhắm mắt ngủ yên?...” – sao mà giông giống giọng văn trong «Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động … » của… Trần Dân Tiên đến thế!
Đó là vài chi tiết về “Đức Vua”. Còn về nàng cung nữ thời xưa thì những nét chấm phá rất nhỏ, như «cái áo màu xanh chàm kiểu bà ba không có túi, cái váy dệt thổ cẩm dài sát đất», «vẻ đẹp sơn dã thâm u», «giọng nói của đàn bà phương Bắc»… làm người đọc dễ nhận ra đây chính là cô thôn nữ miền núi, một đoá hoa rừng Việt Bắc, thậm chí người am hiểu có thể đoán được cả họ tên cô «cung nữ» bất hạnh thời nay. Ngay cả cái kết cục đầy bi thương của nàng trong truyện không thể không làm cho ta liên tưởng đến cái chết tức tưởi đầy oan nghiệt của người «cung nữ» thời «dân chủ cộng hoà» mà cô em của nàng đã kể lại cho người chồng chưa cưới của cô…
Người viết những dòng này cảm thấy dường như những chữ, những câu sau đây trong truyện cũng nhắm vào một hay những đối tượng cụ thể nào đó: … “Tội ác bọn Quỷ Thần vòi vọi/chồng chất đỉnh Muôn Năm!” ...“Những cái gì trái phản với Tự Nhiên/dù bay có cố công vẽ tô xây đắp/thành đầu lâu Núi Tháp/rồi cũng có ngày rã tan đổ sập!/Chỉ cần nỗi oan khốc của một người đàn bà/ngây thơ chân thật/cũng đủ góp phần vào tiêu tan cả Ác Nghiệp/của một Quỷ Vương Chí Linh Chí Thánh Chí Thần!” (Khúc Dạo Đầu),… hay …«Im lặng. Bỗng nhiên họ nghe tiếng ai đó vọng lên:
“Đời là sân khấu của những tấn bi hài kịch. Bốn ngàn năm lịch sử, cái người đóng kịch tài ba điệu nghệ nhất là ai các con có biết không? Nó kia kìa! Các con không thấy sao? Khi phải cười, nó cười; lúc cần khóc, nó khóc. Cứ y như thật. Và sân khấu ngập tràn máu, nước mắt. Nó là người, chỉ là người thôi. Vậy mà ma xui quỷ khiến thế nào, ai cũng coi nó là Chí Thần, Chí Thánh?... ” (Chương 5)… hay lời của Thuỳ Dương nói với Mai Duy Vỹ: «Bác ơi! Hồi còn ở Bên Này, dẫu nhiều khi sống lăng nhăng bậy bạ, cháu vẫn ăn nói thật lòng không chút giả trá. Chị Uyên không am hiểu đời sống xã hội bằng cháu đâu. Cháu biết rõ, cái lũ tự phong ta đây là thần thánh, chẳng có đứa nào đáng được gọi là người, toàn một bọn chó má, quỷ sứ, đồ ba que xỏ lá cả!» (Chương 45).
Đặc biệt là tác giả đã giành cả chương 41 để mô tả cuộc hội ngộ kỳ lạ như trong giấc mơ của Mai Duy Vỹ, người tử tù của cuộc Cải cách Ruộng đất, với «Hoàng Thượng ngự trên Ngai Rồng Đỏ».
«….- Muôn tâu Bệ hạ!...
« - Ta không phải là Vua, chẳng phải Tổng Thống…
« - Ta là Đấng Chí Tôn, Chí Linh, Chí Thánh, Chí Thần, Chí… (Đức Vua kịp dừng lại, suýt nữa thì Người nói thêm một chữ có thể làm lộ mình ra – người viết ghi thêm).
« - Ta đây! Ta là người nô bộc trung thành của muôn dân. Hãy nghe và trả lời những câu hỏi của ta!»
Và cuộc đối thoại bắt đầu giữa Mai Duy Vỹ, người tử tù, với «Đấng Chí Tôn». Sau khi buộc tội cho Mai Duy Vỹ «Mi là thằng địa chủ phản động, bán nước hại dân… » và bị người tử tù này khéo léo, lễ phép phản bác lại, cuối cùng «Đấng Chí Tôn» đuối lý đã phải nói:
«…- Ta biết anh vô tội, lòng anh trong trắng. Nhưng… ta không thể cứu anh được. Mà cho dù ta có muốn cứu anh, ban lệnh xuống thì đã chắc gì quần chúng nhân dân người ta nghe cho? Cải cở thủ ti - Cải cách Ruộng đất là cuộc Cách mạng lớn nhất trong lịch sử đấu tranh giai cấp của dân tộc, mang tầm cỡ nhân loại… Trong cơn trời long đất lở này, sóng thần Cách mạng đang ào ào dâng cao, cuộn tới, bánh xe lịch sử đang lăn đi... Ai người bị cuốn trôi, nghiến nát âu cũng là lẽ thường tình. Miễn sao Cách mạng Thế giới đạt được thắng lợi cuối cùng! (Chữ đậm do người viết nhấn mạnh).
Có một người phụ nữ lòng dạ còn trong trắng tốt đẹp hơn anh, còn đáng thương, đáng quý hơn anh ở cách đây không xa lắm… Một người đàn bà! Ta đau lòng nhắc lại: Một người đàn bà! (Ý nói bà Nguyễn Thị Năm chăng ?! – người viết ghi thêm) Anh đã nghe rõ chưa? Vậy mà ta cũng không cứu được! Mong anh thông cảm cho ta… »
Nói xong, «Đấng Chí Tôn vụt biến. Trong mây mù còn vọng lại tiếng sấm rền xa xa.
- Ta... không… thể… cứu anh được!"
Đoạn trích trên đây nêu bật ý đồ sâu xa của Đảng Cộng sản khi làm Cải cách Ruộng đất không phải để cho "người cày có ruộng" mà chính là để chủ nghĩa cộng sản thắng lợi trên toàn Thế giới, đồng thời nó vạch trần cái nhẫn tâm, lòng tàn ác cũng như sự dối trá của các «lãnh tụ» cộng sản.
Có thể nói, trong văn chương đương đại thật là hiếm thấy ở các văn nghệ sĩ trong nước ta cái thái độ dũng cảm, thẳng thắn phê phán như vậy đối với kẻ cầm quyền toàn trị.
Xin nói thêm rằng, trong thư gửi bạn, tác giả cho biết cuốn tiểu thuyết “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” đã được hình thành cách đây10 năm, được tác giả chỉnh sửa nhiều lần, nay coi như đã xong. Vì lường trước được rằng khó có một nhà xuất bản nào ở Việt Nam nhận in tác phẩm này mà không phải gánh chịu những rủi ro, nên tác giả đã có ý định “bỏ tủ khoá lại”. Nhưng, sau khi vượt qua nỗi sợ chính mình, lại gặp được “thiện duyên”, tác giả đã quyết định cho “đứa con tinh thần” của mình xuất ngoại tìm đường tự do để kể lại cho đồng bào trong và ngoài nước, cũng như cho toàn Nhân Loại biết những chuyện hãi hùng, khủng khiếp khôn cùng, những đau thương, khổ nhục ê chề nơi Địa Ngục trần gian mà người dân Việt Nam đã và đang chịu đựng.
Cũng có thể ai đó nghĩ rằng chuyện Cải cách Ruộng đất xảy ra đã hơn nửa thế kỷ rồi, kể lại làm chi cho thêm đau lòng, nên quên đi thì hơn. Còn tập đoàn cộng sản cầm quyền đương thời thì luôn miệng hô hào nhân dân “quên quá khứ, hướng tới tương lại”. Đó là một thủ đoạn bịp bợm, một chính sách ngu dân thực thụ của kẻ cầm quyền xảo quyệt. Vì một dân tộc quên quá khứ thì không bao giờ có tương lai tốt đẹp cả!
Vả lại, quên làm sao được khi nỗi oan khốc của hàng triệu con người không hề được giải toả, nó ngấm sâu vào tiềm thức của Dân Tộc đã trên nửa thế kỷ rồi? Quên làm sao được khi những thủ phạm chính gây ra tội ác không bị đưa ra ánh sáng, khi cái Đảng gây ra tội ác không bị vạch trần, và Đảng ấy lại không hề sám hối và thề sẽ không tái phạm nữa? Quên làm sao được khi ngày nay giữa thanh thiên bạch nhật tập đoàn cộng sản cầm quyền vẫn ngang nhiên tiếp tục dùng những thủ đoạn tàn bạo thời Cải cách Ruộng đất để đối xử với nhân dân? Những vụ cướp đoạt ruộng đất, nhà cửa trắng trợn, những cuộc “đấu tố” các nhà dân chủ ở phường, ở làng, những cuộc “làm việc” của công an với tính cách sách nhiễu, nhục mạ, hành hạ đối với các nhà trí thức dân chủ bất đồng chính kiến, việc sử dụng bọn cặn bã xã hội, bọn “xã hội đen”, giống như “rẽ chuỗi” hồi “cải cách”, để cùng với công an “nhân dân” đánh đập dã man các nhà tu hành, các giáo dân, Phật tử, tín đồ Hoà Hảo, Tin Lành, Cao Đài, phá chùa, phá nhà thờ, đập nát Thánh giá, xúc phạm tượng thờ, bao vây suốt ngày đêm nhà cửa các chiến sĩ dân chủ không cho họ đi lại làm ăn, bao vây kinh tế không cho họ sinh sống bình thường, ném đồ dơ bẩn thối tha vào nhà người dân… tất cả những chiêu thức độc ác, đê tiện đó có khác chi thời Cải cách Ruộng đất? Thậm chí, lối xét xử của các toà án “nhân dân” ngày nay đối với các chiến sĩ dân chủ, đối với thanh niên, trí thức yêu nước dám lên tiếng bảo vệ chủ quyền của Tổ Quốc thì có khác chi lối xét xử của các toà án “nhân dân đặc biệt” đối với các người bị quy là “địa chủ, cường hào” hồi “cải cách”? Vẫn cái lối buộc tội vu khống, oan uổng, vẫn cái cách xử độc đoán, độc tài của “quan” toà, cố tình trấn áp không cho bị cáo được nói, thậm chí công nhiên bịt miệng bị cáo trước toà, cái lối xử mà bắt bị cáo chỉ được phép cúi đầu nhận tội, không cho tranh cãi, còn ai dám phản bác cáo trạng thì “quan” toà hèn hạ trả thù bằng cách tăng mức án thêm nhiều năm tù! Chính vì thế chúng ta không có quyền quên, mà phải nhớ, nhớ mãi cái bài học đắng cay của thời Cải cách Ruộng đất đã qua. Nhớ không phải để trả thù ai mà để cho chính mình bớt ngu dại, bớt ngây thơ, để khôn thêm, cảnh giác hơn, dũng cảm hơn và để không còn bị đánh lừa, không còn bị đè đầu cưỡi cổ nữa.
Tiểu thuyết “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” chắc sẽ giúp cho những ai đọc nó sẽ không quên mà nhớ mãi những ngày đen tối, khủng khiếp của thời qua để tăng thêm nghị lực và quyết tâm đấu tranh cho một tương lai tươi sáng hơn, không còn bóng dáng những kẻ nhân danh chủ thuyết này, chủ nghĩa nọ, tư tưởng kia để đè nén, áp chế, hành hạ, thậm chí giết hại dân lành.
Có thể coi cuốn tiểu thuyết này là một đài tưởng niệm không gì phá vỡ nổi, một nén tâm hương thơm ngát của tác giả Trần Thế Nhân thắp cho vong linh các nạn nhân của chế độ cộng sản cực quyền toàn trị ở nước ta! Đài tưởng niệm và nén tâm hương đó làm ấm lòng người Bến Ấy cũng như Bên Này!
Moskva, ngày 23 tháng 1 năm 2010,
nhân dịp kỷ niệm Ngàn Năm Thăng Long
Viết thêm vài đoạn ngày 31 tháng 5 năm 2010.
NGUYỄN MINH CẦN
Ghi chú:
1/ Tại kỳ họp thứ ba của Quốc Hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khoá 1 (tháng 12 năm 1953), để thông qua Luật Cải cách Ruộng đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh dõng dạc khẳng định một lần nữa khẩu hiệu “người cày có ruộng” và tính chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình của cuộc Cải cách Ruộng đất. Ông nói: "Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ" (nguyên văn). Ngày nay, mọi người đều thấy rõ lời nói của “lãnh tụ” cộng sản kiêm Chủ tịch Nước khác nhau một trời một vực so với thực tế và việc làm của những người cộng sản! Thật đúng là “nói dzậy mà không phải dzậy”!
2/ Hồi đó, nông dân chiếm đến trên 90 phần trăm dân số của nước ta.
3/ Trong báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước Quốc Hội đã nói rõ địa chủ chỉ có 5% dân số mà chiếm phần lớn ruộng đất ở nông thôn. Vì thế, trong Cải cách Ruộng đất, Đảng chính thức quy định tỷ lệ địa chủ trong dân số nông thôn là 5%. Tỷ lệ 5% đó dựa trên cơ sở nào không ai biết, vì hồi đó không hề có một cuộc điều tra nào về tình hình kinh tế, xã hội và ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà phân tích cho rằng đó là nhận định chủ quan của các “lãnh tụ” cộng sản theo kiểu volontarisme (duy ý chí). Cái tỷ lệ 5% này đã gây ra biết bao oan khốc cho người dân, vì các Đội Cải cách phải cố sức “đôn” nhiều người lên “thành phần địa chủ” cho đủ số tỷ lệ!
4/ Số liệu này trích từ bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000” gồm 3 tập, do Viện Kinh tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội – xem tập 2.
5/ Theo báo cáo Cục quản lý Lao động nước ngoài của Việt Nam, năm 2008 có trên 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 nước trên thế giới. Từ năm 2005, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mã Lai bắt đầu nhận người Việt “xuất khẩu lao động”. Báo cáo còn cho biết trong vài năm tới, số lao động “xuất khẩu” có thể sẽ tăng lên đến một triệu.
6/ Theo tài liệu năm 2008 từ Văn phòng Kinh tế Văn hoá Đài Bắc tại Việt Nam, có khoảng 770 ngàn cô gái Việt Nam sang Đài Loan “làm… dâu”! Đáng chú ý là trong số đó, phụ nữ miền Tây Nam Bộ (vốn là vùng có cuộc sống trước năm 1975 tương đối sung túc) bị bán qua Đài Loan chiếm tỷ lệ cao nhất so với các tỉnh thành trong nước. Báo chí ở một vài nước sở tại cho biết nhiều cô bị đánh đập, bị bỏ đói, bị buộc phục vụ sinh lý cho cả gia đình hoặc bị bán cho các “động” mãi dâm. Một số cô không chịu được nhục nhã đã tự tử, hoặc phản ứng lại và bị đánh chết!
7/ “Anh Lành nhưng dạ chẳng lành” là một câu vè về Tố Hữu lưu truyền trong giới văn nghệ sĩ hồi ông ta còn sống, ám chỉ những vụ đàn áp tàn nhẫn trí thức, văn nghệ sĩ dưới thời ông.
8/ Ý nói thuế nông nghiệp là nguồn thu chính của chính quyền, được áp dụng hồi đó (từ năm 1951) ở nông thôn miền Bắc Việt Nam. Đây cũng là một cơn ác mộng nữa đối với nông dân, vì thuế đánh theo lối lũy tiến, nghĩa là thu hoạch được nhiều thì phải nộp thuế cao hơn gấp bội. Nếu không nộp đủ thuế thì người nông dân bị đày đoạ đủ cách, thậm chí bị bỏ tù. Và nếu không muốn bị ở tù thì nông dân đành phải mang trâu bò ra bán, hết trâu bò thì phải bán đến nữ trang, đồ vật trong nhà, thậm chí cả những đồ tế tự trên bàn thờ, v.v… để nộp thuế. Những cuộc “bình diện tích” và “bình sản lượng” nhằm tính số lượng thu hoạch để định mức thuế chủ ruộng phải nộp đều do các đảng viên cộng sản mớm cho các cốt cán bần cố nông “phát giác” để tăng mức thuế lên và gán ép cho chủ ruộng nhắm “đánh” vào lớp người hữu sản ở nông thôn. Trong tác phẩm “Chuyện Làng Ngày Ấy” (xuất bản năm 2006), nhà văn Võ Văn Trực đã mô tả rất rõ nét những cảnh cưỡng bức trắng trợn nông dân đóng thuế hồi đó.
9/ Liên khu Bốn hồi đó có sáu tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Ba tỉnh phía Nam vì hoàn cảnh bị chiếm, hợp thành Phân khu Bình Trị Thiên, ở trong Khu Bốn.
… Ôi ! quê hương
Hỡi những ngày xưa !
Thuỷ chung - nhân ái
Tất cả chìm-ngâm
Trong lừa dối cuồng điên…
Phùng Cung (1965)
Trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm của Dân Tộc ta, chưa từng có một trận thảm sát nào mà người Việt lại giết hại người Việt khủng khiếp như trong cuộc Cải cách Ruộng đất dưới “thời đại Hồ Chí Minh” hồi giữa thập niên 50 thế kỷ 20! Đó là trận thảm sát dân lành cực kỳ man rợ do đầu óc kỳ thị giai cấp, do ý thức hệ cộng sản của tập đoàn cầm quyền gây nên!
Trên thế giới đã từng có nhiều nước làm cải cách ruộng đất. Phần đông người ta làm một cách ôn hoà bằng cách Nhà nước mua lại số ruộng đất chủ sở hữu có trên tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, hoặc cho phép họ được hiến tặng. Nhờ đó, các nước ấy đã nhẹ nhàng xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh, đồng thời giữ được hoà khí và ổn định xã hội, tránh những đảo lộn nguy hại.
Thế nhưng, các “lãnh tụ” cộng sản thì cho đó là con đường “thoả hiệp giai cấp”, không đúng đường lối chủ nghĩa Marx-Lenin, không thể hiện tinh thần “đấu tranh giai cấp”, không phát động được lòng “căm thù giai cấp”, không mang tính “cách mạng triệt để”… Theo họ, Cải cách Ruộng đất phải là một “cuộc cách mạng long trời lở đất”. Phải “phóng tay phát động quần chúng”, nghĩa là làm hết sức mãnh liệt, thẳng tay, không khoan nhượng, không thương xót, có thế mới dấy lên lòng căm thù giai cấp cao độ trong quần chúng bần cố nông mà họ coi là “quân chủ lực cách mạng” để đánh gục giai cấp địa chủ.
Đảng Cộng Sản dõng dạc tuyên bố Cải cách Ruộng đất là để thực hiện “người cày có ruộng”, ước mơ ngàn đời của nông dân. (1) Nhưng, đó chỉ là trên lời nói! Còn trong thâm tâm, các “lãnh tụ” cộng sản có một ý đồ khác hẳn, nhắm những mục tiêu khác hẳn. Họ dùng khẩu hiệu “người cày có ruộng” làm “con mồi” nhử nông dân mà họ coi là “đồng minh chiến lược” (2) đi theo họ thực hiện những mục đích xa hơn, độc địa hơn. Họ dùng Cải cách Ruộng đất để tiêu diệt giới hữu sản bị họ coi là “giai cấp bóc lột” ở nông thôn, để truy quét các thành phần mà họ cho là “phản động”, quét sạch các tư tưởng và hệ thống giá trị đạo lý cổ truyền nặng về quyền tư hữu, loại bỏ cuộc sống tâm linh trái với chủ nghĩa vô thần của họ, xoá bỏ đạo đức truyền thống của gia đình, thôn xóm mà nền văn hoá làng xã lâu đời ở nước ta đã để lại. Chủ ý của họ còn là khủng bố tinh thần nhân dân, gây ra nỗi khiếp sợ triền miên trong người dân nhằm triệt tiêu mọi mầm mống chống đối họ. Họ ra sức xúi giục, kích động lòng hận thù, gieo rắc tính độc ác, tham lam, dối trá, đểu cáng… vào lòng người nông dân vốn chất phác, hiền lành… Tất cả những điều đó nhằm mở đường thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và huy động “quân chủ lực cách mạng” xông vào trận chiến đánh chiếm miền Nam.
Chính với ý đồ đó, các “lãnh tụ” cộng sản đã gây ra những tội ác tày trời đối với Dân Tộc: họ đã biến Cải cách Ruộng đất và Chỉnh đốn Tổ chức thành một cuộc đày đoạ, tàn sát dân lành và cả các cán bộ đã từng đứng dưới lá cờ của họ. Trong lúc nhân dân đang sống yên lành thì bỗng dưng Đảng phái những “Đội cải cách” về làng xã khép “tội” địa chủ cho nửa triệu người trong nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (với dân số nông thôn hồi đó trên 10 triệu) (3), và số người này ngay lập tức bị hành hạ, bị đoạ đày, bị giày xéo tận bùn đen! Hơn nữa, trên 172 ngàn sinh mạng vô tội đã gục xuống dưới lưỡi gươm “chuyên chính vô sản” vì bị quy oan là địa chủ cường hào gian ác, Việt gian, phản động, gián điệp, Quốc Dân Đảng! (4) Những cuộc “đấu tố” với cảnh con đấu cha, vợ tố chồng, con dâu vu oan cho bố chồng, con rể giá hoạ cho mẹ vợ, bà con, hàng xóm, láng giềng tố điêu lẫn nhau… đã đảo lộn đạo đức thông thường, giày xéo lên nền văn hiến lâu đời của người Việt, phá hoại truyền thống hoà hiếu, “lá lành đùm lá rách”, “tối lửa tắt đèn có nhau” của cư dân làng xã nước ta. Còn điều các “lãnh tụ” cộng sản không ngừng rao giảng: “xây dựng con người mới” theo “đạo đức mới”, tức là “đạo đức cộng sản” và “tư tưởng Hồ Chí Minh”, thì… than ôi, ngày nay, nhân dân ta đã thấy quá rõ “kết quả” thực tế rồi: đạo đức băng hoại, xã hội sa đoạ, nạn tham nhũng tràn lan, nạn mua quan bán chức phổ biến, tệ nạn lừa dối, đảo điên, đểu cáng, độc ác… nhan nhản khắp nơi trong nước.
Còn câu chuyện hoang đường “người cày có ruộng” hoá ra là… một “quả lừa vĩ đại” mà Đảng Cộng Sản đã cho nông dân “xơi” đến bội thực! Vì Cải cách Ruộng đất vừa xong hồi cuối năm 1956, một số nông dân vừa mới hí hửng “cắm thẻ nhận ruộng” để Đảng chụp ảnh quay phim tuyên truyền thì đến năm 1957-1958, họ đã bị Đảng lùa vào hợp tác xã để “tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội”. Thế là ruộng đất của nông dân biến thành của hợp tác xã, còn người nông dân thì hoàn toàn lệ thuộc vào ban chủ nhiệm hợp tác xã, vào đảng uỷ và uỷ ban xã như những nông nô! Đến khi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà “được” Đảng chuyển thành Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì… chỉ bằng một câu ngắn gọn trong Điều 19 của Hiến pháp năm 1980 “Đất đai, rừng núi, sông hồ… đều thuộc sở hữu toàn dân”, Đảng đã tịch thu một cách ngon ơ toàn bộ ruộng đất của nông dân, đất đai của toàn dân! Nông dân và nhân dân bị Đảng tước đoạt quyền sở hữu về ruộng đất, nói chung về đất đai, trong nháy mắt! Thế là ước mơ ngàn đời của nông dân mãi mãi vẫn chỉ là… “ước” và “mơ”!
“Quả lừa vĩ đại” này của Đảng chẳng phải một mình nông dân bị mà cả đại bộ phận nhân dân nước ta cũng bị. Thậm chí nhiều nạn nhân, khi đã “dựa cọc” rồi, sắp bị hành quyết mà vẫn chưa tỉnh, cứ nghĩ rằng tai hoạ của họ là do mấy “ông bà Đội” gây ra, nên trước khi chết có người vẫn gắng gượng kêu lên mấy tiếng “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Con cái của họ, kể cả nhiều người có học thức mà vẫn cứ bị lừa cho đến… hơi thở cuối cùng! Mà chẳng những nhân dân ta, ngay cả một phần dư luận thế giới, một số nhà đại trí thức nổi tiếng cũng bị đánh lừa! Cố nhiên, đến bây giờ thì thế giới người ta tỉnh rồi, chỉ có một số khá đông người Việt Nam ta vẫn còn mê muội hoặc… giả vờ mê muội.
Mỉa mai thay, nửa thế kỷ sau cuộc “cách mạng long trời lở đất”, dường như Lịch Sử Việt Nam lại trôi theo dòng chảy ngược! Cải cách Ruộng đất (1953-1956) “đã đánh đổ giai cấp địa chủ” thì giờ đây, ở nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, lại xuất hiện những địa chủ mới mà dân ta gọi là bọn “cường hào đỏ”, vì chúng là những cán bộ cộng sản lợi dụng chức quyền chiếm dụng đất đai (là sở hữu toàn dân!) phát canh, thu tô, cho vay nặng lãi ở nông thôn để bóc lột chẳng khác gì địa chủ thời xưa. Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn đã phải nói thẳng thừng: “Không có nước nào (như ở nước ta) người nông dân bị bạc đãi, bóc lột, hiếp đáp bởi bọn cường hào mới, đa số là đảng viên trong các đảng ủy điạ phương được cấp trên thông đồng che chở. Không ở đâu, chưa bao giờ nông dân bị tước đoạt đất ruộng qua “thu hồi” kiểu cưỡng bức và tùy tiện, với chính sách “đền bù” nhảm nhí, “bèo bọt” chỉ bằng một phần 10, có khi chỉ một phần 20 của giá trị thực!” Giờ đây lại xuất hiện cảnh nông dân cầm cố ruộng đất mà họ được phép sử dụng để đi làm thuê làm mướn hoặc đi tha phương cầu thực, các nhà khoa học xã hội gọi đó là “tình trạng ly nông”. Giờ đây xuất hiện thêm một lớp người “mới” có tên gọi là “dân oan”, tức là gần một triệu nông dân và người lao động bị chiếm đoạt đất đai, bị cướp đoạt nhà cửa đi “kêu oan”, thậm chí đi biểu tình, ở các “cửa quan” cộng sản hàng chục năm trời mà vẫn “không đi đến đâu cả”! Giờ đây còn xuất hiện thêm những cảnh tượng nhục nhã chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà: “nhà nước xã hội chủ nghĩa” đem trên nửa triệu nam nữ nông dân, lao động “xuất khẩu” ra nước ngoài bán cơ bắp, mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa để nhà nước thu về hàng nhiều triệu đô la (5); “nhà nước xã hội chủ nghĩa” cho phép các dịch vụ “buôn người” dưới dạng “lấy chồng ngoại quốc” đưa hàng mấy trăm ngàn cô gái nông thôn vì nghèo đói phải bỏ mẹ cha, bỏ anh chị em, bỏ quê hương làng xóm để… bán mình cho các “ông… chồng” Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc…, thực chất là đi làm nô lệ, kể cả nô lệ tình dục!(6) Nhiều nhà nghiên cứu và nhà báo trung thực trong nước đã mô tả cuộc sống của người nông dân Việt Nam ngày nay còn lầm than, khổ ải hơn hồi trước “cách mạng”, hơn trước ngày “thống nhất đất nước”! Đó là sự thật hết sức phũ phàng mà nông dân Việt Nam đang phải ngậm đắng nuốt cay cúi đầu chịu đựng!
Cải cách Ruộng đất “long trời lở đất” như vậy, một sự kiện lịch sử lớn lao như vậy, thế mà đã trên nửa thế kỷ qua, chưa có một công trình nghiên cứu chân thật, khách quan nào của các nhà khoa học trong nước được công bố! Chưa có một tác phẩm nghệ thuật, văn chương nào của các nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà điêu khắc, nhà văn, nhà thơ… trong nước diễn tả lại tấn thảm kịch đầy đau thương của Dân Tộc! Chẳng phải vì giới trí thức sáng tạo nước ta thiếu người có tài, có tâm, mà chỉ vì ngay sau Cải cách Ruộng đất các “lãnh tụ” cộng sản đã coi đó là một trong những đề tài cấm kỵ không ai được đụng đến. Cái tabou khắc nghiệt này thì đám quan chức của chế độ cực quyền ngày đêm canh giữ nghiêm ngặt mãi cho đến ngày nay!
Hồi đầu cuộc “đổi mới”, cuốn “Ác Mộng” của Ngô Ngọc Bội chỉ mới dám lướt nhẹ qua chuyện “cải cách”… Mãi đến gần đây, đầu thế kỷ 21, mới lác đác xuất hiện vài cuốn tiểu thuyết đề cập thẳng đến đề tài cấm kỵ đó. Cuốn “Ba Người Khác” của Tô Hoài, hoàn thành từ năm 1992 nhưng chật vật mãi đến năm 2006 mới được xuất bản. Cuốn “Nước Mắt Một Thời” của Nguyễn Khoa Đăng sắp xuất bản thì bị cấm ngay tức thì và cuốn “Thời Của Thánh Thần” của Hoàng Minh Tường vừa in xong, chưa kịp phát hành thì số sách in đã bị Đảng ra lệnh thu hồi để nghiền làm bột giấy!! Một hành động man rợ, phản văn hoá của bọn Tần Thuỷ Hoàng thời nay!
Người viết những dòng này đã phải sống suốt quãng thời gian “long trời lở đất” rất kinh hoàng, đầy bi thương, đầy máu lệ, đầy chết chóc, đầy tàn phá, đầy “lừa dối cuồng điên” ... Đã nhiều lần dự hội nghị về Cải cách Ruộng đất, được nghe “Bác Hồ vĩ đại” và “Anh Cả Trường Chinh” huấn thị về “Cải cách Ruộng đất”, “Chỉnh đốn Tổ chức”, về “phóng tay phát động quần chúng”... Đã từng chứng kiến nhiều cuộc đấu “địa chủ cường hào ác bá” ở Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Đông. Cũng đã từng đi làm nửa đợt “cải cách” ở Thái Bình, giữa chừng thì Thành uỷ xin về Hà Nội để nhận trách nhiệm lãnh đạo công tác “sửa sai cải cách” ở Ngoại Thành Hà Nội. Cải cách Ruộng đất quả là một cú đẩy mạnh làm người viết thức tỉnh, đánh giá lại Đảng Cộng Sản và các “lãnh tụ” của Đảng, cũng như nhìn lại con đường mình đã đi… Đó là khởi đầu cho một quá trình đấu tranh, dằn vặt, đau đớn để có được một nhãn quan mới, tư duy mới, cuối cùng dẫn đến việc rời bỏ Đảng Cộng Sản. Chính vì thế, người viết biết rõ nỗi đau khổ của bà con nông dân, vô cùng thông cảm với các nạn nhân của Cải cách Ruộng đất và nóng lòng mong mỏi được thấy những tác phẩm văn học nghệ thuật chân thật mô tả về sự kiện lịch sử đau thương này.
Thế rồi, hồi năm 1996, tôi đặc biệt cảm động khi lần đầu tiên được cầm trong tay tập copy bản thảo tiểu thuyết “Ba Người Khác” của Tô Hoài. Tôi thầm cảm ơn nhà văn Tô Hoài đã giáng một đòn mạnh vào cái tabou kỳ quái của Đảng để hé ra cho độc giả biết được phần nào sự thật về Cải cách Ruộng đất. Ông là nhà văn lão thành có tên tuổi ở nước ta nên cái gương sáng của ông sẽ cổ vũ nhiều người khác noi theo.
Đọc xong, tôi đưa “Ba Người Khác” cho một ông bạn già xem. Ông ta đọc kỹ lắm rồi gặp tôi, ông bực bội phán: “Viết về Cải cách Ruộng đất mà Tô Hoài chỉ kể về ba thằng Đội ba lăng nhăng ấy thì không được! Phải nói đến “Ba Người Khác” cơ!” Tôi hỏi lại: “Là ai?” Ông đáp: “Ai nữa? Là Bác Hồ vĩ đại, Bác Mao cũng vĩ đại và Cụ Xít càng vĩ đại! Chính ba ông đầu nậu ấy đã bày ra cái chuyện “cải cách” ở nước ta”. Tôi nói: “Anh nói cũng đúng thôi! Không có Cụ Hồ và Đảng Cộng Sản, và Cụ Hồ không đi xin “chỉ thị” Cụ Xít, không xin phép Cụ Mao cho rước đoàn cố vấn Tàu sang thì chẳng có chuyện “cải cách” khủng khiếp này”. Anh ta hăng lên: “Đó là nói hàng trên. Còn dưới một bậc thì “Ba Người Khác” là “Anh Thận” (Trường Chinh), sau đổi là Năm để nhún nhường đứng sau Ba Duẩn, rồi đến thằng cha Hồ Viết Thắng và “Anh Lành” (Tố Hữu) “nhưng dạ chẳng lành” (7). Tôi hỏi: “Tố Hữu thì có liên quan gì đến? Lão ta không có chân trong Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương mà”. Anh ta đáp: “Thế anh không biết à, y là kẻ “gác cổng” tư tưởng của Đảng ta. Y phụ trách công tác tuyên truyền cho chiến dịch “cải cách” đấy. Chính y đã đánh tơi bời Trần Bá Xá chỉ vì cái truyện ngắn chân thật “Anh Cò Lấm” đăng trên tạp chí “Tổ Quốc” hồi tháng 1 năm 1956, y buộc cho tác giả những tội “chết người”, như có tư tưởng phản động của giai cấp địa chủ, chống phá chính sách Cải cách Ruộng đất! Ban biên tập “Tổ Quốc” cũng điêu đứng vì y. Rồi đến khi Hà Minh Tuân cho ra cuốn “Vào Đời” có đụng chi mấy đến chuyện “cải cách” đâu mà y và lão (Nguyễn Chí) Thanh xúm vào đánh cho tơi bời, kỷ luật tùm lum. Cũng chính y đã tung ra những câu thơ sặc mùi đao phủ để kích thêm đầu óc hiếu sát của các Đội cải cách. Anh còn nhớ không?” Rồi anh ta đọc vanh vách:
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế (8) mau xong,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt”…
Chuyện phiếm đàm của hai ông bạn già chúng tôi còn dài. Nhưng, nói chuyện nghiêm chỉnh thì phải công nhận là Tô Hoài đã bất chấp tabou, đề cập đến một đề tài “rất nhạy cảm”, và với văn tài của mình ông đã tạo nên một cuốn tiểu thuyết khá hấp dẫn. Ông đã vẽ lên rất rõ nét hình ảnh ba “anh Đội” cải cách – đội trưởng Cự, đội phó Bối kiêm chánh án và một cán bộ Đội tên Đình. Cả ba gã này mỗi tên một vẻ nhưng đều có tính lưu manh, đều hám quyền lực, đều dối trá, ham gái, dâm đãng và không gờm tay trước tội ác. Tác giả đã mô tả rất “ấn tượng” những cảnh hoang dâm, quần dâm của ba “anh Đội” với các cô “rễ chuỗi” bần cố, với các nàng dân quân… tạo nên một cảm giác tởm lợm của người đọc đối với mấy tên này. Tuy nhiên, người đọc tinh ý thấy rõ rằng Tô Hoài dù đã đụng đến đề tài Cải cách Ruộng đất nhưng lại tránh né, không dám phơi bày thực chất và nguồn cơn tấn thảm kịch của Dân Tộc đã diễn ra trong lịch sử. Độc giả chờ đợi rất nhiều ở một nhà văn có tầm cỡ như Tô Hoài, nhà văn đã từng tham gia hai đợt Cải cách Ruộng đất, làm đội phó lại kiêm chánh án Đội cải cách, họ hy vọng được thấy từ ngòi bút của ông hiện lên một bức tranh toàn cảnh đồ sộ, chân thật về cuộc đảo lộn khủng khiếp này. Nhưng, đọc xong “Ba Người Khác”, độc giả vẫn chưa thấy được toàn bộ sự thật, “sự thật trần truồng” không che đậy. Người đọc bàng hoàng nghĩ rằng lẽ nào chỉ vì ba cái thằng khốn nạn này mà mọi sự trong xã hội dưới thời “dân chủ cộng hoà” lại đảo lộn tùng phèo đến như thế ư? Thế thì ai cho chúng nó cái quyền “nhất Đội nhì Trời” để chúng nó tác oai tác quái làm những chuyện “long trời lở đất” như vậy? Ai đã vạch đường chỉ lối cho chúng, ai đã “phóng tay” cho chúng làm “cách mạng long trời lở đất”, làm loạn xị cả một vùng nông thôn như vậy? Ai đã đã kích động chúng “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ” để cho chúng thẳng tay tàn sát dân lành không chút xót thương? Ai? Ai?? Nhiều người cho rằng Tô Hoài là đảng viên cộng sản, một cán bộ quan trọng của Đảng trong lĩnh vực văn học, một nhà văn-con cưng của chế độ, ông muốn sống “tròn” với Đảng nên dù có đề cập đến Cải cách Ruộng đất, nhưng ông đã hết sức gượng nhẹ, cố lái câu chuyện sang một hướng khác. Đoạn kết của tiểu thuyết, tác giả “cho” Đội trưởng Cự chạy vào Nam đầu hàng địch và bị “quân ta” giết… thì càng làm cho người đọc lạc hướng hơn nữa, dường như “Mỹ Nguỵ” có dính líu gì đến những chuyện xấu xa, những điều man rợ, những đảo lộn xã hội khủng khiếp hồi Cải cách Ruộng đất. Cố nhiên, cách kết cấu cốt truyện, hư cấu tình tiết là quyền của tác giả, nhưng độc giả có quyền đòi hỏi tác giả phải làm sáng tỏ sự thật của những tội ác tày trời.
Cuốn “Nước Mắt Một Thời” của Nguyễn Khoa Đăng và cuốn “Thời Của Thánh Thần” của Hoàng Minh Tường tôi cũng được đọc khá sớm bản photocopy từ trong nước gửi ra. Sau đó ít lâu, một người bạn thân trong nước gửi cho cuốn “Thời Của Thánh Thần” còn thơm mùi mực. Đó là một trong những cuốn may mắn “lọt lưới” thu hồi của nhà nước!
Điều đáng nêu lên ở đây là cả hai nhà văn Nguyễn Khoa Đăng và Hoàng Minh Tường đều rất can đảm “xông xáo” vào đề tài cấm kỵ này. Họ không ngần ngại mô tả rõ nét thảm cảnh kinh hoàng của nông thôn trong thời kỳ “cải cách”. Tuy nhiên, độc giả vẫn cảm thấy đôi chỗ còn gượng nhẹ, tránh né, dè dặt, mà đó là điều dễ hiểu, vì các tác giả đang sống dưới chế độ cực quyền khắc nghiệt, lưỡi gươm “chuyên chính” luôn luôn lơ lửng trên đầu… Hơn nữa, những ai đã từng sống trong thời kỳ “cách mạng long trời lở đất” cũng dễ nhận thấy là hai tác giả chủ yếu chỉ được nghe kể lại những cảnh khủng khiếp thời “cải cách” chứ chưa thật sự sống trong đó, nên có những chỗ phản ánh không thật sát thực tế, dùng lời ăn tiếng nói không phải thuộc về thời ấy. Riêng Hoàng Minh Tường còn đi xa hơn thời “cải cách”, ông đã mở rộng khung cảnh xã hội ra cả giai đoạn sau này, muốn giúp độc giả thấy rõ tính liên tục của cả một thời đại lịch sử. Đó là một ý định rất tốt, nhưng vì mở rộng quá nên phần sau của tiểu thuyết “Thời Của Thánh Thần” hơi bị loãng.
Còn tiểu thuyết sắp ra mắt người đọc nay mai, cuốn “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân mà tôi vừa được xem bản thảo mới từ trong nước “vượt biên” ra ngoài thì chủ yếu tập trung phản ánh cuộc Cải cách Ruộng đất ở một vùng thuộc tỉnh Thanh Hoá. Nhưng qua những màn “cải cách”, qua chuyện kể của các nhân vật, đôi lúc tác giả cũng nhẹ nhàng đụng đến những chuyện về sau, chuyện “hậu cải cách”.
Tác giả là một người đã sống trong cuộc, cảm nhận sâu sắc nỗi đau của nhân dân và dũng cảm phơi bày sự thật kinh hoàng trên những trang viết. Tôi vốn là “dân” Khu Bốn (9), có dịp qua lại, quen biết vùng được mô tả trong truyện, biết rõ các “vị” mà dân địa phương coi là “hung thần cải cách”, như Hồ Viết Thắng, Đặng Thí, Chu Văn Biên… Ngay cả vài nạn nhân trong truyện tôi cũng đã từng nghe tên, vì tác giả giữ tên thật. Còn một số nhân vật khác tôi hơi ngờ ngợ là mình đã nghe đâu đấy, có lẽ vì lý do tế nhị nào đó tác giả đã đổi tên chút ít chăng. Cho nên tôi rất xúc động khi đọc những trang viết đượm đầy nước mắt trong “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất”. Tôi có thể khẳng định rằng cuốn tiểu thuyết này của nhà văn Trần Thế Nhân đã dựa trên “người thật việc thật” mô tả sự kiện kinh hoàng đúng như nó đã diễn ra, không chút dè dặt, e ngại, không chút gượng nhẹ. Có thể độc giả trẻ tuổi ngày nay khi đọc nhiều cảnh tượng hết sức lạ lùng, kỳ dị, quái đản, rùng rợn quá sức tưởng tượng, thì không thể nào hiểu nổi làm sao trong cuộc sống đã có thể diễn ra những điều như thế được, đâm ra nghi ngờ tính chân thật của truyện. Nhưng, than ôi, những chuyện quái đản như thế hồi đó thật sự đã diễn ra và diễn ra ở nhiều nơi!
Cố nhiên, đã là tiểu thuyết thì tác giả phải hư cấu. Điều hư cấu nổi bật nhất là Trần Thế Nhân đã dùng “những người âm” của thế giới Bên Ấy để kể chuyện thật, rất thật của thế giới Bên Này. Tác giả dùng lối hư cấu đó vì… “Chết thật rồi/ mới dám nói/ Và Nói Thật!” (Khúc Dạo Đầu). Lối hư cấu này gần với tín ngưỡng dân gian, gần với đạo Phật, dễ được đại chúng chấp nhận. Có lẽ lối hư cấu này cũng không xa khoa học lắm khi gần đây các nhà vật lý học hiện đại đã phát hiện ra “vật chất đen”… Nhưng, điều quan trọng đáng nói là tác giả sử dụng lối hư cấu này thật nhuần nhuyễn đến mức người đọc thấy mọi sự kiện, mọi tình tiết trôi chảy rất tự nhiên, và câu chuyện rất đau thương lại cuốn hút mạnh tâm trí người đọc từ đầu đến cuối sách. Chính nhờ lối hư cấu này tác giả đã mô tả được rất chân thật nội tâm các nạn nhân của những “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” nửa thế kỷ trước. Trong một lá thư gửi bạn, tác giả tâm sự: khi viết tiểu thuyết này, tác giả có cảm giác rất thật rằng mọi lời nói, mọi sự kiện… trong tác phẩm là do chính người âm đồng hành, nhập vào tác giả mà kể lại.
Đọc “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất”, tôi cảm nhận rằng Trần Thế Nhân đã thực hiện đúng thiên chức cao quý của người cầm bút để không tự nhốt mình trong cái “chuồng văn” tù túng, ngột ngạt với đủ loại ý thức hệ Mác-Lê, đảng tính, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa… vớ vẩn, nhảm nhí, không tự ép mình phải đi theo “lề phải” của kẻ cầm quyền, ông mới có thể sáng tạo nên một thiên tiểu thuyết – nói theo từ ngữ thời thượng trong nước – sáng giá như vậy. Sáng giá cả về tính chân thật, cả về mặt văn chương.
Bút pháp của tác giả bình dị mà táo bạo, trầm tĩnh, nhẹ nhàng mà da diết, xoáy sâu vào lòng người đọc. Lối viết hình ảnh, bóng bẩy, ẩn dụ đôi khi xen vào những triết lý sâu xa. Giọng văn hóm hỉnh, châm biếm, hài hước, trào lộng gây hứng thú dù bức tranh toàn cảnh thật vô cùng ảm đạm.
Có những câu nói thật thà, thơ ngây của nhân vật lại rất thâm thuý, nêu lên được thực chất của những vấn đề lớn. Chẳng hạn, câu nói mộc mạc của Thuỳ Dương, một nhân vật nữ: “Ông chồng yêu quý của em có lần bảo Bác Mao viết kịch bản. Nhà Hát tuồng Thiên An Môn diễn trước, rồi đưa sang Ba Đình Hà Nội… Ta cứ thế mà làm theo Tàu…”. Suy cho cùng, câu nói đó phản ánh sự thật nửa thế kỷ trước và cả sự thật ngày nay, và cả những gì rất đắng cay cho Đất Nước, cho Dân Tộc ta nằm đằng sau sự thật khốn nạn đó nữa! Đúng thế, như chúng ta đều biết, chính sự thần phục, quỵ luỵ đớn hèn và sự lệ thuộc nhục nhã của kẻ cầm quyền cộng sản đối với “Thiên triều Đỏ” nửa thế kỷ trước và cả ngày nay đã gây cho Đất Nước ta biết bao tai ách, kể cả việc mất đất, mất biển, và hiện đang đặt Dân Tộc ta trước hiểm hoạ mất nước rành rành!!
Cái nhìn của tác giả đối với nông dân trong truyện rất công bằng: trong khi mô tả những “rễ chuỗi” gọi là “bần cố” có tính lưu manh, tham lam, độc ác, vô ơn vô nghì, gieo oan giá hoạ cho người ngay, ông lại đưa lên hình ảnh những người nông dân hiền lành bị Đội ép buộc phải miễn cưỡng “tố điêu” ở “đấu trường” theo lời mớm của Đội, nhưng sau lưng Đội họ vẫn lén lút, thầm lặng giúp đỡ cho người bị oan. Hồi đó mà dám làm như vậy thì thật là liều lĩnh, nhưng lương tâm thôi thúc họ phải hành động theo tính người, theo tình người, bất chấp hiểm nguy.
Khác với mấy cuốn tiểu thuyết viết về Cải cách Ruộng đất mà nhiều người đã biết, như “Ba Người Khác” của Tô Hoài, “Nước Mắt Một Thời” của Nguyễn Khoa Đăng, “Thời Của Thánh Thần” của Hoàng Minh Tường, cuốn “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân không chỉ phơi bày rất rõ nét những tội ác tày trời trong Cải cách Ruộng đất, mà còn khéo léo vẽ lên bằng những đường nét ẩn dụ để người đọc tinh ý có thể liên tưởng nhận ra được bộ măt thật của những thủ phạm chính đã gây ra tội ác.
Nhà văn mở đầu thiên tiểu thuyết của mình bằng mấy chương kể lại câu chuyện bi thảm của nàng cung phi thời xưa. Nhưng chuyện xưa lại phảng phất bóng dáng một nàng “cung nữ” thời nay - thời “dân chủ cộng hoà” - cùng với “Đức Vua” và viên “Thượng Thư” đầy quyền lực cũng thời nay… Hoá ra, “khúc cung oán” thời nay lại ngậm ngùi, ai oán, bi thương, thê thảm hơn nhiều so với “Cung oán Ngâm Khúc” thời cụ Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều! Lối mở đầu như vậy làm người đọc cảm thấy dường như tấn thảm kịch đầy máu lệ của một con người bé nhỏ, yếu ớt lại mở đầu cho cả một loạt thảm kịch triền miên của nhân dân…
Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong truyện tác giả đã nói rõ tuổi tác của “Đức Vua” «triều nhà Nguyễn»: «Năm ấy Người đã 66 xuân». Nếu lấy năm 1955 là năm xảy ra cuộc Cải cách Ruộng đất ở huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá để tính, thì năm sinh của “Đức Vua” thời nay nhằm đúng vào năm 1890. Một chi tiết khác – «Sáu năm trước, Triều đình đã xử chém ngang lưng một viên quan tổng kho. Dẫu y là công thần, đã từng theo gót chân Thiên Tử xông pha nơi lam chướng ngàn trùng, vào ra trong máu lửa, tên khuyển nho đầy tớ hoang dâm vô độ này đã biển thủ công quỹ và xài phí tài sản vương quốc để cung phụng tiệc cưới xa hoa của hắn….» – hoàn toàn ăn khớp với sự kiện ngày 5 tháng 9 năm 1950, viên Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục quân nhu của Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bị xử tử theo lệnh của “Đức Vua”, vì tên này đã phạm tội tham ô lãng phí, lấy của công để tổ chức đám cưới xa hoa của y. Vụ án này xảy ra đúng sáu năm trước cuộc Cải cách Ruộng đất ở Thanh Hoá hồi năm 1955 mà tác giả đã mô tả.
Giọng lưỡi của “Đức Vua” «triều nhà Nguyễn» nói về mình với nàng cung nữ – “Lòng Trẫm nặng một nỗi thương đau. Khanh có biết chăng? Trẫm thương những con dân cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm, bầy trẻ lớn lên chưa được cắp sách tới trường… Đất nước ngàn năm loạn lạc chinh chiến; may Trời cho còn lại được ít ngày thái bình yên vui… Vậy mà nay ngoại bang quay trở lại xâm chiếm, cắt chia. Chiến tranh lại tiếp nối chiến tranh. Nghe tiếng suối khóc, lắng tiếng gió than, lòng Trẫm càng não nề xót xa. Trăng càng sáng, nước non xinh đẹp càng tang thương, lòng Trẫm càng nặng nỗi lo cho dân, chua xót niềm đau cho xứ sở. Trẫm làm sao nhắm mắt ngủ yên?...” – sao mà giông giống giọng văn trong «Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động … » của… Trần Dân Tiên đến thế!
Đó là vài chi tiết về “Đức Vua”. Còn về nàng cung nữ thời xưa thì những nét chấm phá rất nhỏ, như «cái áo màu xanh chàm kiểu bà ba không có túi, cái váy dệt thổ cẩm dài sát đất», «vẻ đẹp sơn dã thâm u», «giọng nói của đàn bà phương Bắc»… làm người đọc dễ nhận ra đây chính là cô thôn nữ miền núi, một đoá hoa rừng Việt Bắc, thậm chí người am hiểu có thể đoán được cả họ tên cô «cung nữ» bất hạnh thời nay. Ngay cả cái kết cục đầy bi thương của nàng trong truyện không thể không làm cho ta liên tưởng đến cái chết tức tưởi đầy oan nghiệt của người «cung nữ» thời «dân chủ cộng hoà» mà cô em của nàng đã kể lại cho người chồng chưa cưới của cô…
Người viết những dòng này cảm thấy dường như những chữ, những câu sau đây trong truyện cũng nhắm vào một hay những đối tượng cụ thể nào đó: … “Tội ác bọn Quỷ Thần vòi vọi/chồng chất đỉnh Muôn Năm!” ...“Những cái gì trái phản với Tự Nhiên/dù bay có cố công vẽ tô xây đắp/thành đầu lâu Núi Tháp/rồi cũng có ngày rã tan đổ sập!/Chỉ cần nỗi oan khốc của một người đàn bà/ngây thơ chân thật/cũng đủ góp phần vào tiêu tan cả Ác Nghiệp/của một Quỷ Vương Chí Linh Chí Thánh Chí Thần!” (Khúc Dạo Đầu),… hay …«Im lặng. Bỗng nhiên họ nghe tiếng ai đó vọng lên:
“Đời là sân khấu của những tấn bi hài kịch. Bốn ngàn năm lịch sử, cái người đóng kịch tài ba điệu nghệ nhất là ai các con có biết không? Nó kia kìa! Các con không thấy sao? Khi phải cười, nó cười; lúc cần khóc, nó khóc. Cứ y như thật. Và sân khấu ngập tràn máu, nước mắt. Nó là người, chỉ là người thôi. Vậy mà ma xui quỷ khiến thế nào, ai cũng coi nó là Chí Thần, Chí Thánh?... ” (Chương 5)… hay lời của Thuỳ Dương nói với Mai Duy Vỹ: «Bác ơi! Hồi còn ở Bên Này, dẫu nhiều khi sống lăng nhăng bậy bạ, cháu vẫn ăn nói thật lòng không chút giả trá. Chị Uyên không am hiểu đời sống xã hội bằng cháu đâu. Cháu biết rõ, cái lũ tự phong ta đây là thần thánh, chẳng có đứa nào đáng được gọi là người, toàn một bọn chó má, quỷ sứ, đồ ba que xỏ lá cả!» (Chương 45).
Đặc biệt là tác giả đã giành cả chương 41 để mô tả cuộc hội ngộ kỳ lạ như trong giấc mơ của Mai Duy Vỹ, người tử tù của cuộc Cải cách Ruộng đất, với «Hoàng Thượng ngự trên Ngai Rồng Đỏ».
«….- Muôn tâu Bệ hạ!...
« - Ta không phải là Vua, chẳng phải Tổng Thống…
« - Ta là Đấng Chí Tôn, Chí Linh, Chí Thánh, Chí Thần, Chí… (Đức Vua kịp dừng lại, suýt nữa thì Người nói thêm một chữ có thể làm lộ mình ra – người viết ghi thêm).
« - Ta đây! Ta là người nô bộc trung thành của muôn dân. Hãy nghe và trả lời những câu hỏi của ta!»
Và cuộc đối thoại bắt đầu giữa Mai Duy Vỹ, người tử tù, với «Đấng Chí Tôn». Sau khi buộc tội cho Mai Duy Vỹ «Mi là thằng địa chủ phản động, bán nước hại dân… » và bị người tử tù này khéo léo, lễ phép phản bác lại, cuối cùng «Đấng Chí Tôn» đuối lý đã phải nói:
«…- Ta biết anh vô tội, lòng anh trong trắng. Nhưng… ta không thể cứu anh được. Mà cho dù ta có muốn cứu anh, ban lệnh xuống thì đã chắc gì quần chúng nhân dân người ta nghe cho? Cải cở thủ ti - Cải cách Ruộng đất là cuộc Cách mạng lớn nhất trong lịch sử đấu tranh giai cấp của dân tộc, mang tầm cỡ nhân loại… Trong cơn trời long đất lở này, sóng thần Cách mạng đang ào ào dâng cao, cuộn tới, bánh xe lịch sử đang lăn đi... Ai người bị cuốn trôi, nghiến nát âu cũng là lẽ thường tình. Miễn sao Cách mạng Thế giới đạt được thắng lợi cuối cùng! (Chữ đậm do người viết nhấn mạnh).
Có một người phụ nữ lòng dạ còn trong trắng tốt đẹp hơn anh, còn đáng thương, đáng quý hơn anh ở cách đây không xa lắm… Một người đàn bà! Ta đau lòng nhắc lại: Một người đàn bà! (Ý nói bà Nguyễn Thị Năm chăng ?! – người viết ghi thêm) Anh đã nghe rõ chưa? Vậy mà ta cũng không cứu được! Mong anh thông cảm cho ta… »
Nói xong, «Đấng Chí Tôn vụt biến. Trong mây mù còn vọng lại tiếng sấm rền xa xa.
- Ta... không… thể… cứu anh được!"
Đoạn trích trên đây nêu bật ý đồ sâu xa của Đảng Cộng sản khi làm Cải cách Ruộng đất không phải để cho "người cày có ruộng" mà chính là để chủ nghĩa cộng sản thắng lợi trên toàn Thế giới, đồng thời nó vạch trần cái nhẫn tâm, lòng tàn ác cũng như sự dối trá của các «lãnh tụ» cộng sản.
Có thể nói, trong văn chương đương đại thật là hiếm thấy ở các văn nghệ sĩ trong nước ta cái thái độ dũng cảm, thẳng thắn phê phán như vậy đối với kẻ cầm quyền toàn trị.
Xin nói thêm rằng, trong thư gửi bạn, tác giả cho biết cuốn tiểu thuyết “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” đã được hình thành cách đây10 năm, được tác giả chỉnh sửa nhiều lần, nay coi như đã xong. Vì lường trước được rằng khó có một nhà xuất bản nào ở Việt Nam nhận in tác phẩm này mà không phải gánh chịu những rủi ro, nên tác giả đã có ý định “bỏ tủ khoá lại”. Nhưng, sau khi vượt qua nỗi sợ chính mình, lại gặp được “thiện duyên”, tác giả đã quyết định cho “đứa con tinh thần” của mình xuất ngoại tìm đường tự do để kể lại cho đồng bào trong và ngoài nước, cũng như cho toàn Nhân Loại biết những chuyện hãi hùng, khủng khiếp khôn cùng, những đau thương, khổ nhục ê chề nơi Địa Ngục trần gian mà người dân Việt Nam đã và đang chịu đựng.
Cũng có thể ai đó nghĩ rằng chuyện Cải cách Ruộng đất xảy ra đã hơn nửa thế kỷ rồi, kể lại làm chi cho thêm đau lòng, nên quên đi thì hơn. Còn tập đoàn cộng sản cầm quyền đương thời thì luôn miệng hô hào nhân dân “quên quá khứ, hướng tới tương lại”. Đó là một thủ đoạn bịp bợm, một chính sách ngu dân thực thụ của kẻ cầm quyền xảo quyệt. Vì một dân tộc quên quá khứ thì không bao giờ có tương lai tốt đẹp cả!
Vả lại, quên làm sao được khi nỗi oan khốc của hàng triệu con người không hề được giải toả, nó ngấm sâu vào tiềm thức của Dân Tộc đã trên nửa thế kỷ rồi? Quên làm sao được khi những thủ phạm chính gây ra tội ác không bị đưa ra ánh sáng, khi cái Đảng gây ra tội ác không bị vạch trần, và Đảng ấy lại không hề sám hối và thề sẽ không tái phạm nữa? Quên làm sao được khi ngày nay giữa thanh thiên bạch nhật tập đoàn cộng sản cầm quyền vẫn ngang nhiên tiếp tục dùng những thủ đoạn tàn bạo thời Cải cách Ruộng đất để đối xử với nhân dân? Những vụ cướp đoạt ruộng đất, nhà cửa trắng trợn, những cuộc “đấu tố” các nhà dân chủ ở phường, ở làng, những cuộc “làm việc” của công an với tính cách sách nhiễu, nhục mạ, hành hạ đối với các nhà trí thức dân chủ bất đồng chính kiến, việc sử dụng bọn cặn bã xã hội, bọn “xã hội đen”, giống như “rẽ chuỗi” hồi “cải cách”, để cùng với công an “nhân dân” đánh đập dã man các nhà tu hành, các giáo dân, Phật tử, tín đồ Hoà Hảo, Tin Lành, Cao Đài, phá chùa, phá nhà thờ, đập nát Thánh giá, xúc phạm tượng thờ, bao vây suốt ngày đêm nhà cửa các chiến sĩ dân chủ không cho họ đi lại làm ăn, bao vây kinh tế không cho họ sinh sống bình thường, ném đồ dơ bẩn thối tha vào nhà người dân… tất cả những chiêu thức độc ác, đê tiện đó có khác chi thời Cải cách Ruộng đất? Thậm chí, lối xét xử của các toà án “nhân dân” ngày nay đối với các chiến sĩ dân chủ, đối với thanh niên, trí thức yêu nước dám lên tiếng bảo vệ chủ quyền của Tổ Quốc thì có khác chi lối xét xử của các toà án “nhân dân đặc biệt” đối với các người bị quy là “địa chủ, cường hào” hồi “cải cách”? Vẫn cái lối buộc tội vu khống, oan uổng, vẫn cái cách xử độc đoán, độc tài của “quan” toà, cố tình trấn áp không cho bị cáo được nói, thậm chí công nhiên bịt miệng bị cáo trước toà, cái lối xử mà bắt bị cáo chỉ được phép cúi đầu nhận tội, không cho tranh cãi, còn ai dám phản bác cáo trạng thì “quan” toà hèn hạ trả thù bằng cách tăng mức án thêm nhiều năm tù! Chính vì thế chúng ta không có quyền quên, mà phải nhớ, nhớ mãi cái bài học đắng cay của thời Cải cách Ruộng đất đã qua. Nhớ không phải để trả thù ai mà để cho chính mình bớt ngu dại, bớt ngây thơ, để khôn thêm, cảnh giác hơn, dũng cảm hơn và để không còn bị đánh lừa, không còn bị đè đầu cưỡi cổ nữa.
Tiểu thuyết “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” chắc sẽ giúp cho những ai đọc nó sẽ không quên mà nhớ mãi những ngày đen tối, khủng khiếp của thời qua để tăng thêm nghị lực và quyết tâm đấu tranh cho một tương lai tươi sáng hơn, không còn bóng dáng những kẻ nhân danh chủ thuyết này, chủ nghĩa nọ, tư tưởng kia để đè nén, áp chế, hành hạ, thậm chí giết hại dân lành.
Có thể coi cuốn tiểu thuyết này là một đài tưởng niệm không gì phá vỡ nổi, một nén tâm hương thơm ngát của tác giả Trần Thế Nhân thắp cho vong linh các nạn nhân của chế độ cộng sản cực quyền toàn trị ở nước ta! Đài tưởng niệm và nén tâm hương đó làm ấm lòng người Bến Ấy cũng như Bên Này!
Moskva, ngày 23 tháng 1 năm 2010,
nhân dịp kỷ niệm Ngàn Năm Thăng Long
Viết thêm vài đoạn ngày 31 tháng 5 năm 2010.
NGUYỄN MINH CẦN
Ghi chú:
1/ Tại kỳ họp thứ ba của Quốc Hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khoá 1 (tháng 12 năm 1953), để thông qua Luật Cải cách Ruộng đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh dõng dạc khẳng định một lần nữa khẩu hiệu “người cày có ruộng” và tính chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình của cuộc Cải cách Ruộng đất. Ông nói: "Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ" (nguyên văn). Ngày nay, mọi người đều thấy rõ lời nói của “lãnh tụ” cộng sản kiêm Chủ tịch Nước khác nhau một trời một vực so với thực tế và việc làm của những người cộng sản! Thật đúng là “nói dzậy mà không phải dzậy”!
2/ Hồi đó, nông dân chiếm đến trên 90 phần trăm dân số của nước ta.
3/ Trong báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước Quốc Hội đã nói rõ địa chủ chỉ có 5% dân số mà chiếm phần lớn ruộng đất ở nông thôn. Vì thế, trong Cải cách Ruộng đất, Đảng chính thức quy định tỷ lệ địa chủ trong dân số nông thôn là 5%. Tỷ lệ 5% đó dựa trên cơ sở nào không ai biết, vì hồi đó không hề có một cuộc điều tra nào về tình hình kinh tế, xã hội và ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà phân tích cho rằng đó là nhận định chủ quan của các “lãnh tụ” cộng sản theo kiểu volontarisme (duy ý chí). Cái tỷ lệ 5% này đã gây ra biết bao oan khốc cho người dân, vì các Đội Cải cách phải cố sức “đôn” nhiều người lên “thành phần địa chủ” cho đủ số tỷ lệ!
4/ Số liệu này trích từ bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000” gồm 3 tập, do Viện Kinh tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội – xem tập 2.
5/ Theo báo cáo Cục quản lý Lao động nước ngoài của Việt Nam, năm 2008 có trên 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 nước trên thế giới. Từ năm 2005, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mã Lai bắt đầu nhận người Việt “xuất khẩu lao động”. Báo cáo còn cho biết trong vài năm tới, số lao động “xuất khẩu” có thể sẽ tăng lên đến một triệu.
6/ Theo tài liệu năm 2008 từ Văn phòng Kinh tế Văn hoá Đài Bắc tại Việt Nam, có khoảng 770 ngàn cô gái Việt Nam sang Đài Loan “làm… dâu”! Đáng chú ý là trong số đó, phụ nữ miền Tây Nam Bộ (vốn là vùng có cuộc sống trước năm 1975 tương đối sung túc) bị bán qua Đài Loan chiếm tỷ lệ cao nhất so với các tỉnh thành trong nước. Báo chí ở một vài nước sở tại cho biết nhiều cô bị đánh đập, bị bỏ đói, bị buộc phục vụ sinh lý cho cả gia đình hoặc bị bán cho các “động” mãi dâm. Một số cô không chịu được nhục nhã đã tự tử, hoặc phản ứng lại và bị đánh chết!
7/ “Anh Lành nhưng dạ chẳng lành” là một câu vè về Tố Hữu lưu truyền trong giới văn nghệ sĩ hồi ông ta còn sống, ám chỉ những vụ đàn áp tàn nhẫn trí thức, văn nghệ sĩ dưới thời ông.
8/ Ý nói thuế nông nghiệp là nguồn thu chính của chính quyền, được áp dụng hồi đó (từ năm 1951) ở nông thôn miền Bắc Việt Nam. Đây cũng là một cơn ác mộng nữa đối với nông dân, vì thuế đánh theo lối lũy tiến, nghĩa là thu hoạch được nhiều thì phải nộp thuế cao hơn gấp bội. Nếu không nộp đủ thuế thì người nông dân bị đày đoạ đủ cách, thậm chí bị bỏ tù. Và nếu không muốn bị ở tù thì nông dân đành phải mang trâu bò ra bán, hết trâu bò thì phải bán đến nữ trang, đồ vật trong nhà, thậm chí cả những đồ tế tự trên bàn thờ, v.v… để nộp thuế. Những cuộc “bình diện tích” và “bình sản lượng” nhằm tính số lượng thu hoạch để định mức thuế chủ ruộng phải nộp đều do các đảng viên cộng sản mớm cho các cốt cán bần cố nông “phát giác” để tăng mức thuế lên và gán ép cho chủ ruộng nhắm “đánh” vào lớp người hữu sản ở nông thôn. Trong tác phẩm “Chuyện Làng Ngày Ấy” (xuất bản năm 2006), nhà văn Võ Văn Trực đã mô tả rất rõ nét những cảnh cưỡng bức trắng trợn nông dân đóng thuế hồi đó.
9/ Liên khu Bốn hồi đó có sáu tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Ba tỉnh phía Nam vì hoàn cảnh bị chiếm, hợp thành Phân khu Bình Trị Thiên, ở trong Khu Bốn.
Subscribe to:
Posts (Atom)