Showing posts with label van hoc. Show all posts
Showing posts with label van hoc. Show all posts

Tuesday, 16 November 2010

Nguyễn Đăng Mạnh nói về hồi ký - không rõ ngày phỏng vấn

Thụy Khuê

Nói chuyện với giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh là một trong những nhà phê bình, nhà giáo không ngừng hoạt động trên hai lãnh vực đào tạo sinh viên và nghiên cứu văn học trong hơn nửa thế kỷ qua. Ngay từ những năm 87-90, trong thời kỳ đổi mới văn học, ông đã đưa ra những biện pháp giáo dục và nghiên cứu mới, tách rời chính trị ra khỏi văn học, về Hồ Chí Minh, về Nguyễn Tuân, v.v..., đồng thời ông cũng nhấn mạnh đến việc cần phải nhận định lại các giai đoạn văn học sử, định vị lại giá trị tác phẩm theo tiêu chuẩn văn học chứ không theo đòi hỏi chính trị nữa. Những công trình nghiên cứu của ông về Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, v.v... nói lên phong cách phê bình độc đáo của Nguyễn Đăng Mạnh. Một đời sống với văn học và thế giới nhà văn như thế, đã được ông ghi lại trên những trang hồi ký. Hôm nay, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nói chuyện với chúng ta về quan niệm viết hồi ký, về quan niệm phê bình của ông, đồng thời ông cũng lên tiếng về hiện tượng hồi ký của ông bị đưa lên mạng trái với ý định của tác giả. Chúng tôi xin thành thật cám ơn giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã có nhã ý dành cho thính giả RFI buổi nói chuyện hôm nay.

Thụy Khuê: Thưa anh, gần đây thấy xuất hiện trên mạng Internet, một số bài trích từ hồi ký của anh, ngoài ra, trong câu chuyện riêng với anh, có lúc anh cũng cho biết là anh có ý định viết hồi ký. Vậy thưa anh, anh đã viết xong chưa và anh có ý định công bố hay không?

Nguyễn Đăng Mạnh: Chị Thụy Khuê ạ, hiện tượng hồi ký của tôi được tung lên mạng là ngoài ý muốn của tôi, tôi không có ý định công bố đâu. Tôi quan niệm viết hồi ký để giải tỏa cho bản thân mình thôi, như một hình thức giải trí cho bản thân mình và cũng có thể là cho một số người thân, thế thôi, hoàn toàn không có ý định công bố bằng bất cứ phương tiện thông tin nào. Vậy mà có ai đó, bằng một cách nào đó, khui ra được và đưa lên mạng. Tôi rất bất ngờ và cũng rất bất bình về chuyện này. Tôi là người không thạo gì về Internet cả. Anh Hoàng Dũng, người bạn của tôi trong Thành phố Hồ Chí Minh, giúp tôi mail cho một số người đã đưa lên mạng và nói rõ sự bất bình của tôi và họ đã xóa bỏ đi rồi. Nhưng chị biết đấy, một khi đã đưa lên mạng rồi thì không thể nào ngăn cấm người ta khai thác được. Tôi nói rõ với chị như vậy và cũng nói rõ với công chúng Internet như thế, tôi không có ý định công bố mà đấy là do ai đó công bố ngoài ý muốn của tôi

T.K.: Thưa anh, dĩ nhiên là một người viết hồi ký và một người đã gắn liền cuộc đời mình với văn học như anh phải có một quan niệm riêng về hồi ký, vậy thưa anh, quan niệm về hồi ký của anh là như thế nào?

N.Đ.M.: Tôi quan niệm viết hồi ký là một cách để giải tỏa cho mình. Mình có những hiểu biết, ý nghĩ với những trải nghiệm trong cả một đời, chứa chất trong lòng, đến một lúc nào đấy cũng muốn trút ra, tôi cho đấy là nhu cầu tự thân mình và cũng là một khoái thú. Tôi cho rằng mọi khoái thú trên đời, xét đến cùng đều là trút ra khỏi con người mình một gánh nặng nào đó. Viết hồi ký tôi muốn nói thẳng, nói thật, thành thật với mình, thành thật với người, có gì nói thế, không làm văn chương gì cả, không tô vẽ hoa lá cành và nói luôn bằng ngôn ngữ của sự thật. Vì thế trong tình hình hiện nay tôi không hề có ý định công bố. Hồi ký là chuyện của cá nhân. Mỗi cá nhân đều là một chứng nhân của lịch sử ở một mức độ nào đấy, do quan hệ riêng của mỗi người đối với hiện thực, đối với xã hội, đối với đất nước, với lịch sử. Vì thế, hồi ký tuy là của một cá nhân nhưng cũng có ích với người đọc về nhận thức xã hội, lịch sử của đất nước. Tôi là người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, nghiên cứu phê bình văn học và tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc tranh luận tư tưởng trong văn học suốt trong mấy chục năm, tôi cũng trực tiếp tiếp xúc với hàng loạt nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại cho nên cũng biết nhiều chuyện. Những tư liệu ấy có thể phản ánh được nhiều phương diện của nền văn học Việt Nam hiện đại. Nhưng thực sự thì tôi cũng chưa có ý định công bố những điều ấy bởi vì nhiều chuyện cũng chưa tiện nói, vì nói về sự thật thì nhiều khi cũng đụng chạm chuyện này, chuyện khác.

T.K.: Thưa anh, trong hồi ký anh không thể không nhắc đến hành trình viết phê bình của anh trong hơn nửa thế kỷ qua, vậy xin anh cho biết anh quan niệm thế nào về vấn đề phê bình văn học?

N.Đ.M.: Trước kia tôi nghiên cứu về lịch sử văn học, từ năm 1968 tôi mới bắt đầu viết phê bình là bài Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút ký chống Mỹ. Bài vừa viết xong đã có chuyện này chuyện khác rồi. Cho nên viết phê bình hay gắn với công chúng một cách trực tiếp, gắn liền với thời sự. Trước hết tôi muốn nêu vấn đề: Phê bình khó hay sáng tác khó? Theo tôi, phê bình hay sáng tác có giá trị đều khó cả, còn viết dở thì phê bình hay sáng tác đều dễ thôi; nhưng có hiện tượng này rất phổ biến ở các nền văn học trên thế giới, là nhà phê bình lớn, thật sự tài năng, bao giờ cũng rất hiếm so với những nhà sáng tác lớn; đây là tôi chỉ nói những người có tài năng thật sự thôi. Lịch sử văn học các nước đề có bằng chứng như vậy, văn học Pháp, Nga, Việt Nam đều thế cả. Vì sao như vậy, thì tôi nghĩ là phê bình có hai yêu cầu, một là phải có năng lực cảm thụ nghệ thuật rất tốt, hai là phải có trình độ văn hóa rộng rãi. Sáng tác có thể có thần đồng, một đứa trẻ tám, chín tuổi như Trần Đăng Khoa chẳng hạn, có thể làm thơ rất hay, nhưng phê bình thì không có chuyện ấy.

T.K.: Thưa anh, sau nửa thế kỷ viết phê bình, anh có thể rút ra kinh nghiệm gì về phương pháp phê bình cho những người sắp bước hay sẽ bước vào địa hạt này?

N.Đ.M.: Một người viết lịch sử phê bình Pháp, Roger Fayol, nói, tôi cho là rất đúng, phê bình ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của báo chí và ngành đại học, tức là nhà phê bình phải đọc, đọc nhiều, phải có tư duy khoa học tốt. Nhà thơ Xuân Diệu có nói là muốn hiểu được thơ là gì thì phải đọc nhiều thơ hay. Hoài Thanh cũng nói là dù phê bình theo impressionisme, ấn tượng chủ nghĩa, vẫn phải có tin tức, vẫn phải có văn hóa. Còn khả năng cảm thụ văn chương nghĩa là có phản ứng nhậy bén và chính xác về tình cảm, cảm xúc trước cái đẹp của văn chương thì tôi gọi là một khâu phi phương pháp luận, nghĩa là không thể học được một phương pháp nào đấy rồi sau đó có thể có năng lực. Đấy là chuyện năng khiếu. Tôi không cho đây là chuyện thần bí gì cả, nhưng đòi hỏi tích lũy được một trường liên tưởng thẩm mỹ tốt, phong phú và muốn thế phải sống sâu sắc với những điều mình được thấy, được nghe, được đọc, được sống. Sống hời hợt thì dù có đi nhiều, đọc nhiều, thì sống đến trăm tuổi cũng không có được một trường liên tưởng thẩm mỹ tử tế. Khi ta đọc một tác phẩm nghệ thuật, thì những yếu tố nào đó ở trong cái tác phẩm ấy, nó gợi lên, nó có liên tưởng một cách rất tự nhiên đến những ấn tượng nào đó trong trường liên tưởng thẩm mỹ của mỗi người và vì thế nên có xúc động, có rung cảm. Viết phê bình là sự gặp gỡ giữa tư tưởng người viết phê bình và tư tưởng của tác phẩm văn học và điều đó tạo nên cảm hứng cho nhà phê bình. Tôi cho phê bình cũng phải có cảm hứng mới viết hay được. Phê bình thật sự là người bạn tốt của sáng tác, là người hiểu biết sâu sắc về sáng tác.

T.K.: Thưa anh, theo anh thì các nhà phê bình phải có hay nên có một thái độ thế nào đối với các nhà sáng tác?

N.Đ.M.: Có một thời gian ở Việt Nam, chắc chị cũng biết có một thời kỳ các nhà sáng tác rất ghét những nhà phê bình, nhà phê bình chính thống. Ông Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân nói nhiều câu chế giễu các nhà phê bình đó, vì hồi ấy các nhà phê bình cứ muốn dậy dỗ các nhà sáng tác, cứ như là người lãnh đạo sáng tác mà thực ra xuất phát từ những lý thuyết giáo điều không ăn nhập gì đến sáng tác cả. Ông Xuân Diệu ông ấy gọi những nhà phê bình ấy là cái xe tăng mù húc bừa bãi chẳng biết gì về văn học nghệ thuật. Ông Nguyễn Đình Thi gọi một người phê bình là bà dì ghẻ cay nghiệt v.v... Tôi cho nhà phê bình phải là người bạn thực sự, người bạn tốt của sáng tác, hiểu biết sáng tác, không nên đặt mình lên trên sáng tác.

T.K.: Thưa anh, xin hỏi anh là một giáo sư, một văn bản phê bình văn học, theo anh, cần phải có những yếu tố gì để có thể trở thành một bài phê bình có giá trị?

N.Đ.M.: Viết phê bình cũng cần phải có văn, nhiều người viết phê bình hiện nay, theo tôi, chưa có văn. Nhưng không nên quan niệm văn phê bình chỉ là chuyện hình thức, hoa lá cành, văn phê bình phải đẻ ra được chính nội dung của phê bình, yêu cầu nội dung của phê bình. Vì muốn chuyển tải tình cảm thẩm mỹ thì phải có văn, nều cần phải dùng cả hình tượng nữa.

Nhưng hình tượng của bài phê bình khác với hình tượng của người sáng tác vì phải thực hiện một lúc hai nhiệm vụ: một là phải chuyển tải tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ, hai là phải làm sáng tỏ được những khái niệm, quy luật của văn chương. Nhà phê bình phải tạo ra một văn bản văn chương để làm sáng tỏ văn bản văn chương của người sáng tác. Trong hiểu biết và kinh nghiệm của tôi, tôi cho là có ba dạng bài phê bình. Có loại bài phê bình chỉ gắn với một tác phẩm là đối tượng phê bình mà thôi. Có bài phê bình đi từ tác phẩm phê bình rồi bàn rộng ra về các vấn đề văn học nói chung của một thời kỳ lịch sử hay một thời đại. Thứ ba là từ phê bình một tác phẩm cụ thể, xoay ra nói chuyện đời. Tôi thấy nhà phê bình lớn đều hay viết như thế và tôi rất thích những cách viết như vậy. Thánh Thán phê bình Tây Sương ký mà xoay ra nói đủ thứ chuyện trên đời rất thú vị. Muốn như thế thì dù dưới hình thức nào, phê bình cũng phải có tư tưởng. Tôi cho là phê bình hay sáng tác đều phải có tư tưởng. Tư tưởng ở đây là tư tưởng thấm nhuần tình cảm thẩm mỹ, thể hiện yêu ghét, khinh trọng, chân thật và sâu sắc của người viết sáng tác cũng như phê bình. Sáng tác cũng như phê bình, không có tư tưởng, tôi cho là chẳng có giá trị gì hết.

T.K.: Thưa anh, anh nghĩ thế nào về mối tương giao giữa lý luận và phê bình?

N.Đ.M.: Tôi quan niệm một nhà lý luận giỏi, uyên bác, sâu sắc, không hẳn có thể viết được phê bình, nhưng một nhà phê bình thì bao giờ cũng phải có lý luận. Lý luận giáo điều là sự trói buộc rất tai hại cho phê bình. Một thời các nhà phê bình ở nước ta đã bị trói buộc bởi nhiều lý thuyết giáo điều. Lý luận của nhà phê bình phải như thế nào? Theo tôi, phải đi từ thực tế văn học, kinh nghiệm của đời sống văn học mà tiếp nhận lý luận. Lý luận phải gắn liền với cây đời, theo kinh nghiệm của tôi, tôi vẫn tiếp nhận lý luận như thế tức là xuất phát từ những kinh nghiệm của mình, những suy nghĩ của mình về thực tế sáng tác và mình tìm lý thuyết để tìm những lý thuyết, khái niệm nào đấy giúp mình diễn tả, phân tích được những thực tế mà mình cảm nhận được trong đầu. Tức là từ thực tế sáng tác mà mình cảm nhận được, mà suy nghĩ, tiếp nhận lý luận. Đó là cách làm việc, cách tìm hiểu lý luận của tôi. Do tư tưởng và năng lực cảm thụ của nhà phê bình, bao giờ cũng gắn với một thời đại nhất định, vì thế nên nhà phê bình nào, dù lớn đến đâu, tài năng đến đâu, cũng chỉ có một thời thôi. Tôi nghĩ thế. Ông Hoài Thanh, ông Vũ Ngọc Phan cũng chỉ tiêu biểu cho một thời. Tất nhiên tôi cũng thế thôi.

T.K.: Thưa anh, qua một số chân dung văn học mà người ta đã đưa lên mạng Internet ngoài ý muốn của anh, người đọc thấy rõ là anh có một lối viết chân dung văn học rất độc đáo, vậy xin anh cho biết quan niệm của anh về chân dung văn học.

N.Đ.M.: Nói thật với chị là tôi rất thích viết chân dung văn học, nhưng mãi gần đây thôi tức là từ khoảng những năm 2000, tôi thích viết chân dung văn học; vì có lẽ phải đến một lúc nào đó, do mình am hiểu sâu sắc các nhà văn, am hiểu đời sống riêng của họ, tiếp xúc nhiều với họ mới có thể viết được chân dung văn học. Chân dung văn học là một dạng bút ký về người thật, việc thật; người thật ở đây là nhà văn, một tài năng văn học mà người tài, người đẹp bao giờ cũng rất hấp dẫn. Đọc một bài chân dung văn học là được tiếp xúc trực tiếp, tiếp xúc cận cảnh với người tài mà lại tiếp xúc trong sinh hoạt đời thường, con người ta rất thích được tiếp xúc với người tài, những danh nhân trong những sinh hoạt đời thường, trong sinh hoạt gần gũi. Có nhiều người đặt tên cho bài viết của mình là chân dung văn học nhưng theo tôi không phải là chân dung văn học đích thực. Có bài chỉ là một tiểu luận nghiên cứu về một nhà văn, có bài chỉ là chép lại một cuộc phỏng vấn nhà văn, có bài nói nhiều chi tiết về con người nhà văn nhưng không nói gì được về cái văn của nhà văn ấy.

T.K.: Thưa anh, thế nào là một bức chân dung văn học thành công, có thể gọi là đạt?

N.Đ.M.: Theo tôi, chân dung văn học là một dạng của phê bình văn học. Qua chân dung, người đọc hiểu được văn của nhà văn, chỗ khó nhất là ở đó. Nhưng làm thế nào cho độc giả hiểu được văn của nhà văn ấy, thông qua những chi tiết đời thường mới là chân dung văn học. Vì thế cho nên viết chân dung, phải hiểu được sự thống nhất văn và người của người cầm bút, thống nhất ở chiều sâu, ở bản chất chứ không phải ở bề ngoài, ở bề nổi. Nguyễn Công Hoan có nói văn là người mà cũng không phải là người. Tức là nhìn bề ngoài có vẻ chả gắn bó gì với người, không thống nhất gì cả, nhưng nếu nhìn ở bản chất thì đúng văn là người. Thí dụ nhìn bề ngoài, bề mặt thì thấy Vũ Trọng Phụng rất khác giữa con người và văn chương của ông. Trong đời, ông sống rất mực thước, đạo đức; trong văn thì viết rất giỏi bọn vô đạo đức, cờ bạc, đĩ điếm, lưu manh, con người sống sành sỏi với thế giới vô đạo đức như thế. Trong cuộc đời sinh hoạt rất nghèo khổ nhưng viết rất giỏi về cuộc sống xa hoa của những bọn giàu có, những tay đại phú. Có vẻ không thống nhất gì cả, nhưng xét về bản chất con người Vũ Trọng Phụng thì tôi thấy rất thống nhất giữa văn và người. Đó là niềm phẫn uất mãnh liệt với xã hội vô nghĩa lý, chó đểu như ông vẫn nói, đó là chất nam châm rất nhậy khiến ông có thể bắt lấy rất mau lẹ những chuyện chó đểu của xã hội cũ, cho nên người ta gọi tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là những quả bom ném vào xã hội thực dân tư sản. Theo tôi đấy là thiên tài của sự phẫn nộ. Viết chân dung khó nhất là phát hiện được sự thống nhất này giữa văn và người, giữa con người và hồn cốt của văn chương. Có phát hiện ra được chỗ thống nhất như thế mới biết chọn chi tiết trong đời sống của nhà văn để dựng chân dung văn học. Viết chân dung cũng gần sáng tác, văn sáng tác; vì thế người viết phải giàu tưởng tượng, phải có chất nghệ sĩ thì mới có thể viết chân dung tốt được.

T.K.: Trước khi từ giã, xin hỏi anh câu hỏi ngắn, bao giờ anh sẽ cho công bố tập hồi ký của anh?

N.Đ.M.: Tập hồi ký hiện nay vẫn còn nhiều chỗ tôi chưa ưng ý và vẫn còn đang ra công sửa chữa. Nhưng khi đã hoàn chỉnh rồi, thì hiện nay tôi không có ý định công bố vì có những chuyện phiền phức, tình hình hiện nay chưa có điều kiện. Thế còn bao giờ công bố thì chính tôi cũng chưa biết được, chính tôi cũng không xác định được.

T.K.: Xin thành thật cảm ơn giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh.

Thụy Khuê thực hiện

Nhà văn Thụy Khuê, phê bình khởi đi từ cảm nhận của trái tim,


(11/10/2010 03:21 PM) (Xem: 93)

dutule.com: Nhân dịp nhà phê bình văn học Thụy Khuê cùng phu quân từ Paris du lịch miền nam California, qua trung gian của nhà thơ Đặng Hiền, chủ biên tạp chí Hợp Lưu hiện nay, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn bà, cho chương tình “Du Tử Lê và Bằng Hữu” thuộc hệ thống truyền hình SBTN.

Nhà văn Thụy Khuê là tác giả của bộ sách phê bình văn học, gồm có 3 cuốn, nhan đề “Sóng từ trường.” Bà cũng có một thời gian dài lâu phụ trách mục “Văn học nghệ thuật” cho đài phát thanh RFI, phát thanh từ thủ đô nước Pháp, ngay từ lúc khởi đầu của đài này.

Cuộc nói chuyện hay “phút nói thật” của nhà văn Thụy Khuê, được thu hình tại một trong những studio của SBTN tối Thứ Ba, ngày 2 tháng 11 vừa qua.

Trân trọng kính mời quý bạn đọc theo dõi phần nội dung chính của cuộc phỏng vấn ấy.

DTL.

Du Tử Lê (DTL): Thưa chị, như tôi hiểu thì ngành phê bình văn học Việt Nam, từ xưa đến nay rất hiếm người theo đuổi. Chưa kể gần như chúng ta không có một người nữ nào “phiêu lưu” vào lãnh vực tế nhị này. Do đó, chị có thể cho biết nguyên nhân sâu xa nào khiến chị bước vào con đường gai góc ấy?

Thụy Khuê (TK): Thưa anh, từ ngày còn nhỏ, tôi vẫn yêu văn học, tôi thích đọc tiểu thuyết và hay đọc các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Lúc đi học không may lại không được học về văn chương. Lý do, hồi đó muốn xin đi du học phải học những gì mà trong nước không có. Tôi phải chọn Toán để được đi Pháp học. Thời gian sau, tôi lại lập gia đình, rồi có con… thế là trong một thời gian dài tôi không có cơ hội hoạt động gì có liên quan đến lãnh vực văn chương.

Đến năm 1984, tôi về Việt Nam, chuyến đi này làm cho tôi thức tỉnh, thấy rõ đời sống của tôi từ trước đến giờ quá ư là ích kỷ, chỉ biết sống cho gia đình. Nhất là khi tôi ra Bắc, nhìn thấy tình trạng đất nước, con người quá cơ cực. Tôi nghĩ lần này về, tôi sẽ viết một cái gì đó liên quan đến chuyến đi. Không ngờ bài viết này như một định mệnh, bài viết được độc giả đón nhận. Từ đó tôi vào nghiệp viết văn. Ban đầu tôi viết những bài tiểu luận ngắn. Cơ bản tôi thích ông Lỗ Tấn, tôi muốn học theo kiểu viết của ông. Loạt bài đó tôi đăng trên báo Thông Luận. Đấy là những bài tập viết ban đầu, và thật là may mắn, tôi được độc giả yêu thích. Tôi cứ thế tiếp tục mãi. Sau đấy tình cờ tôi đọc bài tựa của Võ Phiến trong cuốn Văn Học Miền Nam. Ông nói về thực trạng miền Nam, và ông than rằng Văn Học Miền Nam không có người phê bình. Điều ông Võ Phiến nói như có một tác động mạnh trên tôi. Tôi nghĩ, bây giờ mình đang tập viết, truyện và các thứ khác đã có nhiều người viết rồi, chợ đông người rồi, mình có vào cũng không bằng ai. Tôi nghĩ đến ngành phê bình văn học nước mình quá thiếu nên tôi chấp nhận con đường đó.

DTL: Thưa chị, khi chị bước vào “trường văn trận bút”, chị là phụ nữ, chị có gặp thuận lợi gì và khó khăn gì?

TK: Là người phụ nữ trong xã hội thì luôn luôn gặp khó khăn! Tôi thấy không phải riêng tôi, các con tôi khi đi làm, hay bất cứ người phụ nữ nào ở xã hội hiện nay, Mỹ hay Pháp cũng thế, nếu thuận lợi thì chỉ ban đầu. Khi vào nghề, những đàn anh, đàn chị, nhất là đàn anh, họ thấy mầm non thì họ nâng đỡ lắm. Nhưng khi họ thấy mầm non khó bảo, thì lúc đó họ bắt đầu gay gắt. Lúc bấy giờ mình cũng phải tranh đấu như là phái nam.

DTL: Tôi nghĩ, chúng ta đang ở “phút nói thật” - - Chị có thể nói rõ hơn một chút:

a- Chị thấy mình hết là “mầm non” từ bao giờ hay căn cứ trên dữ kiện cụ thể nào?

b- Xin chỉ kể cho một vài thí dụ điển hình về những “gay gắt” mà chị đã nhận được? (Và,)

c- Chị cũng đã… “phải tranh đấu’ như là phái nam!” Vậy, thưa chị, độc giả của chị sẽ phải hiểu hai chữ “tranh đấu” của chị thế nào thì đúng nghĩa nhất của hai chữ ấy?

TK: Có thể chia làm hai loại phản ứng anh ạ:

- Ở những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, đích thực, thuộc thế hệ đàn anh, tôi luôn luôn tìm thấy những sự thông cảm và nâng đỡ tinh thần trong mọi trường hợp.

- Ở những người sử dụng văn nghệ vào việc khác, khi thấy mình không đi đúng "con đường" mà họ mong muốn, thì họ có phản ứng hoặc bôi nhọ.

Để trả lời câu hỏi của anh. Tôi thấy mình hết là "mầm non", từ khi có những loại bài như trên xuất hiện trên mặt báo, hoặc trong phong cách ứng xử với tôi ở ngoài đời.

Hai chữ "tranh đấu" mà tôi vừa dùng chỉ có nghĩa là làm việc: cố gắng học tập và đào sâu những điều mình viết để gửi đến bạn đọc thầm lặng những bài viết tốt, không làm mất thì giờ của độc giả khi họ đọc mình. Chính những độc giả thầm lặng ấy mới là đối tượng của văn chương.

DTL: Khi phê bình văn học, chị dùng hoặc dựa trên một lý thuyết sẵn hay chị sẽ tùy vào không khí của từng tác phẩm để chọn một lý thuyết thích hợp? Hoặc chị nhận định từ những rung động có được từ những tác phẩm đó?

TK: Tôi có một lối lựa chọn, tức là khi đọc một tác phẩm, trước tiên tác phẩm đó phải đi thẳng vào con tim của mình, mình phải cảm nó, thích nó trước, mình tìm thấy được cái hay của nó, mình diễn tả được cái hay cho độc giả. Sau đó mình mới dùng đến lý thuyết văn học. Và lý thuyết văn học chỉ là chặng thứ nhì, và khi dùng lý thuyết văn học thì mình cũng phải nghiền nát nó ra chứ không dùng nó một cách cứng nhắc. Theo tôi, lý thuyết văn học chỉ là phần kiến thức thêm vào. Nếu mình không có một ý thức, cảm thức về tác phẩm thì không thể nào viết hay được.

DTL: Thưa chị, chị có một nguyên tắc, một tiêu chuẩn nào để đưa chị đến quyết định chọn một tác phẩm?

TK: Thưa anh, lúc định viết về một thời kỳ văn học nào đó, có một số tác giả mà mình chú ý đến, tạm gọi là tiêu biểu cho thời kỳ này. Trong số những tác giả đó, thì lại phải lựa ra những tác giả nào mình thích, phù hợp với tâm cảm của mình.

Sự lựa chọn phải là giao điểm của hai tiêu chuẩn trên. Sau cùng, là việc xác định: Tác giả nào phải đào sâu và những tác giả nào chỉ lướt qua… và lúc đó là lúc mình phải nhận định tác giả nào có giá trị và tác giả nào ít giá trị hơn.

DTL: Thưa chị, khi chọn phê bình một tác giả, chị có căn cứ trên tên tuổi của tác giả đó?

TK: Dạ không, có nhiều người có tên tuổi nhưng trong nhận xét của riêng tôi, họ không có giá trị. Tất nhiên những nhận xét của mình cũng có sai lầm. Tuy nhiên phải nói thêm rằng, mình không thể nào làm hết được! Khi chọn lựa người này mà chưa nói đến người kia không có nghĩa người kia không có giá trị.


DTL: Người ta thường cho rằng, người làm công tác phê bình văn học là người phải hoàn toàn khách quan. Cá nhân tôi, tôi không thấy như vậy. Bởi vì, ngay khi chị chọn tác phẩm và tác giả này mà, không chọn tác phẩm và tác giả kia thì khởi đầu đã là một chọn lựa chủ quan. Cá nhân chị, bằng vào kinh nghiệm dài lâu trong nghề, chị có nghĩ chị có được cái mà ta gọi là “hoàn toàn khách quan?”

TK: Anh nói đúng. Cá nhân tôi, tôi cũng tự thấy mình không thể có được cái gọi là khách quan hoàn toàn khi mà ngay tự khởi đầu mình đã thấy thích tác phẩm này, hay không thích tác phẩm kia rồi. Nhưng sau khi chọn lựa từ chủ quan của mình, tôi luôn cố gắng khách quan tối đa khi bước vào giai đoạn phê bình tác phẩm..

DTL: Trước đây, có nhiều nhà văn Việt Nam, nhất là những nhà văn miền bắc đi công du hay du lịch viếng thăm Âu Châu, họ thường ghé thăm nhà chị, địa chỉ nhà chị cũng là điểm hội tụ của những nhà văn tị nạn (tôi tạm gọi như thế) đến từ Mỹ, Canada… Ở vị trí “chủ nhân” tiếp đãi hai loại “tân khách” đó, chị có ghi nhận, có thấy ra một vài khác biệt nào, giữa hai lớp văn nghệ sĩ này? Cụ thể như cách ứng xử, giao thiệp, nhắc nhở, phê bình người này, người kia…?

TK: Thưa anh có chứ. Những nhà văn đến thăm nhà minh, dù là lần đầu nhưng thật ra đã quen nhau qua văn bản. Tôi tiếp bạn trong nước hay ngoài nước, thật sự là đã từng biết nhau, từng đọc văn nhau, thành thử khi gặp mặt đó chỉ là tiếp tục câu chuyện đã có từ trước, rất lý thú. Nó như một tình bạn chưa bao giờ bị cắt đứt.

Về sự khác nhau: Những người bạn văn ngoài nước, họ giống như mình, nghĩa là thích nói thì nói. Họ nói thẳng bất cứ chuyện gì muốn nói, có thể nói rằng, họ nói xả láng. Trong khi đó, những nhà văn trong nước thường thường mình không biết họ có nói thật hết lòng họ hay không? Nói một cách khác nếu đó là một tâm sự, hay những chuyện không thể nói công khai thì họ chỉ nói riêng giữa hai người. Nếu có người thứ ba thì họ lảng sang chuyện khác…

DTL: Tôi xin đưa một thí dụ cụ thể rằng, tôi có được đọc một bài viết của chị về ông Nguyễn Đăng Mạnh, ông ấy ghé thăm nơi chị ở, cũng như nhiều tên tuổi khác. Trong gặp gỡ, hàn huyên, vì là giới văn nghệ sĩ, nên tôi nghĩ thế nào cũng trao đổi, hay lạm bàn về văn chương. Từ đó, câu hỏi của tôi là, những dịp ấy có giúp chị ít nhiều trong bài viết?

TK: Câu hỏi này rất khó, bởi nó có hai loại bạn văn. Những người như ông Nguyễn Đăng Mạnh, những câu chuyện của ông giúp tôi rất nhiều. Những người tôi coi như bậc thầy như: Hoàng Xuân Hãn, Tạ Trọng Hiệp, tôi học ở họ rất nhiều điều. Còn những bạn văn, gặp để đấu láo, thì không giúp được gì cả. Đôi khi còn mất thì giờ nữa!

DTL: Thưa chị, anh Nguyên Ngọc có đến thăm chị?

TK: Tôi có gặp anh ấy ở Ca Li.

DTL: Chị có thể cho biết ý kiến của chị về anh Nguyên Ngọc?

TK: Anh Nguyên Ngọc là người đứng đắn, anh là người trong phong trào đổi mới văn học, anh ấy đã làm được rất nhiều điều cho văn học. Tuy nhiên tôi có cảm tưởng hiện nay anh bị gò bó hơn trước.

DTL: Thưa chị, chị có nghiêng về phê bình tác giả nữ hay nam không?

TK: Dạ không thưa anh, khi viết, tôi coi tôi không phải là đàn ông hay đàn bà. Tôi chỉ là người viết thôi. Thật sự là như thế. Tôi không thấy vấn đề phái tính nảy ra. Khi viết, tôi chỉ là một nhân vật. Thành ra bất cứ tác giả nào tôi thấy hay là tôi chọn không phân biệt nam nữ.

DTL: Chị có phân biệt một tác giả viết lâu hay mới viết không?

TK: Thưa anh không. Nếu những người viết mới mà hay thì tôi mừng lắm

DTL: Tôi nhớ trước đây, nhà xuất bản Văn Nghệ có in một tác phẩm của chị, cuốn “Sóng Từ Trường” Xin chị nói một chút về tác phẩm “Sóng Từ Trường.”

TK: “Sóng Từ Trường” có 3 cuốn, nhà Văn Nghệ in 2 cuốn, nhà Văn Mới in 1 cuốn. Đây là một những tiểu luận phê bình văn học.

DTL: Để độc giả hiểu đúng, xin chị giải thích thêm về ý nghĩa của tựa sách “Sóng Từ Trường.”

TK: “Sóng Từ Trường,” tôi muốn đưa ra hai ý nghĩa. Đó là giao cảm giữa người đọc và người viết, đó là những làn sóng có thể giao thoa nhau, gặp nhau và nó có thể không gặp nhau. Đấy là nghĩa thứ nhất. Nghĩa thứ hai, “từ trường” vừa là từ ngữ, chữ nghĩa, “từ” cũng là nam châm. Chữ nghĩa như nam châm thu hút chúng ta lại. Tình người nảy sinh ra chữ nghĩa, từ sự việc đọc chữ.

DTL: Tôi được biết chị không những viết phê bình văn chương Việt Nam mà còn viết về văn chương Pháp. Loại chữ nghĩa tức thế giới văn chương nào có “từ trường,” có sức “hút” chị mạnh mẽ hơn?

TK: Khi anh đọc một tác phẩm hay thì cái nào nó cũng “hút” mình như nhau. Nhưng với điều kiện mình phải hiểu loại chữ đó một cách thấu đáo. Nói như thế có nghĩa dĩ nhiên tiếng mẹ đẻ dễ đi vào con tim mình hơn, khi mà tiếng Pháp đối với tôi chỉ là ngôn ngữ thứ hai.

DTL: Trước đây chị có giữ một chương trình văn học cho đài RFI. Dường như chị không còn cộng tác nữa, chị có thể cho biết lý do.

TK: Tôi về hưu, cách nay một năm thưa anh. Nhưng người viết thì không thể về hưu. Hiện nay tôi có nhiều thì giờ để đi sâu hơn trong những việc mà tôi cho là có tính cách lâu dài hơn.

DTL: Chị có thể cho biết một vài dự định của chị trong tương lai?

TK: Hiện giờ tôi muốn hoàn thành công trình về Nhân Văn Giai Phẩm. Tôi muốn đào sâu thêm về vấn đề này. Đối với tôi, ngay khi có quyết định viết về phê bình văn học, tôi muốn soi sáng chuyện Nhân Văn Giai Phẩm.

DTL: Về nguồn tài liệu, ngoài Việt Nam chị còn tìm thấy ở đâu khác.

TK: Tôi dùng thêm tài liệu ở Pháp. Và trong khi truy nguyên đến nguồn cội tôi lại khám phá ra nhiều chuyện khác cũng khá thú vị. Tỉ như tôi tìm lại và chứng minh được rằng những văn bản ký tên Nguyễn Ái Quốc, trong thời kỳ 1919-1927, không phải do Nguyễn Tất Thành (tức là Hồ Chí Minh) viết, mà do nhiều người khác viết, chủ yếu là Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh.

DTL: Chắc chắn chị có dùng những tài liệu trong nước. Thưa chị, chị đánh giá như thế nào về mức độ tin cậy ở những tài liệu đó?

TK: Tất cả những tư liệu mình dùng, bao giờ mình cũng phải hoài nghi trước đã. Sau cùng khi dùng, lại phải so sánh với nhiều nguồn tài liệu khác.

DTL: Thưa chị, tại sao lại là “Nhân văn giai phẩm” mà không là những đề tài khác? Tôi thí dụ “Vị trí của Tự Lực Văn Đoàn” trong tiến trình trong sáng hóa tiếng Việt? Hoặc “Vị trí của nhóm Sáng Tạo” trong nỗ lực mở rộng chân trời văn chương những năm tháng đầu của 20 năm văn học miền Nam?

TK: Anh đã hỏi đúng vào chỗ tôi dự tính: Sau Nhân văn Giai Phẩm, tôi dự định hoàn tất cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn, và nếu còn đủ sức khỏe, sẽ tiếp tục về Sáng tạo và Văn Học Miền Nam. Đó là những mốc chính của văn học Việt nam trong thế kỷ XX. Sở dĩ phải ưu tiên cho Nhân Văn Giai Phẩm, vì phong trào này hoàn toàn bị dập tắt tại miền Bắc, trước 75, và cả nước sau 75. Sự chôn vùi tác phẩm và con người trong Nhân Văn Giai Phẩm liên quan đến sự chôn vùi tự do dân chủ ở nước ta. Vì vậy, khi muốn khôi phục lại tự do dân chủ, thì phải khôi phục lại tác phẩm và con người trước đã. Văn Học miền Nam cũng bị chôn vùi, nhưng nhờ có cộng đồng người Việt hải ngoại, mà nó vẫn còn sống đến hôm nay.

DTL: Trong tương quan giữa người đọc và người viết, chị có thấy cần nói gì thêm với bạn đọc của chị, ở thời điểm này, trước khi chúng ta kết thúc cuộc nói chuyện?

TK: Bất cứ người viết nào cũng trò chuyện với người đọc qua tác phẩm của mình. Khi bài viết của mình được người đọc chú ý, đó là điều cao quý nhất mà mình mong đợi. Ngoài ra, không có gửi gấm nào khác, anh ạ.

Saturday, 13 November 2010

Khi nhà văn Đỗ Chu sắm vai “cụ lý” làng văn

Khi nhà văn Đỗ Chu sắm vai “cụ lý” làng văn

Nguyễn Việt Chiến

1

Đỗ Chu là một trong số ít các văn tài đặc biệt của xứ Bắc Hà, một số truyện ngắn và bút ký của ông được xếp vào hạng “đặc sản” truyền kỳ của dòng văn chương lịch lãm, thâm thúy suốt mấy chục năm qua. Về sự nổi tiếng, có lẽ ông chỉ thua kém nhà văn tiền bối Nguyễn Tuân có một bậc. Mấy năm gần đây, một số bạn văn bảo tôi: “Xem chừng ông Đỗ Chu dạo này đang “giả đò” sắm vai “cụ lý” của làng văn để bỡn cợt, hài hước với mọi nhân vật, mọi sự kiện của văn chương đương đại”. Mới đầu, tôi cũng thấy ngạc nhiên về nhận xét đó. Nhưng qua đôi ba lần tiếp xúc với nhà văn Đỗ Chu gần đây, tôi chợt thấy, hình như ông cũng có vẻ thích thú với hình ảnh “cụ lý” trong làng văn của mình.

Hôm đi dự “Hội thảo Văn học Viêt- Mỹ sau chiến tranh” ở tỉnh Hòa Bình, tôi thấy “cụ lý” Đỗ Chu khá sang trọng trong bộ quần áo cổ tròn, khuy vải kiểu Lỗ Tấn, chống ba-tong thong thả đi dạo chơi khắp khu bể bơi “nóng-lạnh” của khu V. Resort – Kim Bôi. Không hiểu lúc ấy “cụ lý” có chịu “ngắm” các em ‘dáng ngọc mình ngà” đang hớn hở vầy vò dưới nước hay không mà gương mặt cụ vẫn đăm đăm khó chịu như ra vẻ không hài lòng về chuyện gì đó. Chỉ riêng cặp kính đít chai trên mắt cụ là còn hấp háy một vẻ tinh quái rất khác thường khi nhìn chị em nô đùa bơi lội. Tôi trêu chọc Đỗ Chu: “Nhìn cụ lý đeo cặp kính ấy trông đẹp lão theo kiểu “gián điệp” lắm, may mà là thời bình, chứ nếu trong thời chiến tranh, cụ cứ ra khỏi nhà là sẽ bị bắt giữ luôn tức thì, không bị ta bắt thì cũng bị địch bắt, cụ nhỉ!”. Đỗ Chu lườm tôi cười hóm hỉnh: “ Có bắt mấy thằng hay nói láo như mày thì có, ông trông “đẹp rai” thế này mà mày bảo ông là “gián điệp”, mày nói thế thì mấy em dưới bể bơi kia nó coi cánh đàn ông văn chương chúng mình còn ra cái gì nữa…”. Tối hôm ấy, sau khi dự hội thảo thơ Việt-Mỹ về đến phòng nghỉ, “cụ lý” Đỗ Chu bắt phạt tôi bằng cách bảo phải đấm bóp, tẩm quất cho cụ. Tôi thú thật, từ bé đến giờ không biết tẩm quất là gì, nếu tôi mà “đấm” thì chắc chắn cụ chỉ có mà “om xương”. Đỗ Chu chán nản “Mày đúng là đồ vô tích sự, chỉ được cái láo toét là không ai bằng!”, rồi cụ lồm cồm bò dậy, ngồi kể chuyện phiếm cho chúng tôi nghe.

Đêm ấy Đỗ Chu kể cho các bạn văn nghe nhiều chuyện trên giời dưới bể, nhưng tôi thấy thú vị nhất là chuyện nhà văn Võ Quảng hồi đầu Cách mạng tháng tám phải đi áp tải vàng từ miền Trung ra Thủ đô Hà Nội cho Chính phủ lâm thời. Đỗ Chu nhẩn nha: “Về cái khoản phát động dân vận thì nhất mấy ông cách mạng và cũng không có ai yêu nước hồn nhiên như dân tộc mình. Ngày đầu cách mạng giành chính quyền từ tay thực dân Pháp-Nhật, Chính phủ ta lấy đâu tiền mà tiêu, nên đã tổ chức “Tuần lễ vàng” vận động các gia đình phú thương và người dân cả nước quyên góp tiền vàng cho chính quyền cách mạng. Người dân cả nước từ người giàu đến người không giầu đều nô nức “cởi hầu bao” quyên góp cho cách mạng. Thời điểm ấy, sau “Tuần lễ vàng” ở Đà Nẵng, nhà văn Võ Quảng, đang là Phó chủ tịch TP Đà Nẵng được tin tưởng giao cho nhiệm vụ chỉ huy chiếc xe ô tô áp tải mấy bao tải vàng do đồng bào miền Trung quyên góp mang ra Hà Nội. Cứ liên tưởng đến chuyện các binh tướng nhà Tống khi xưa, áp tải vàng từ tỉnh xa về kinh đô toàn bị các hảo hán “thăm hỏi” trong tiểu thuyết Thủy Hử của Tàu là ông Võ Quảng lại giật thót mình, cả đêm vã mồ hôi. Biết đâu, trên ngàn dặm đường từ miền Trung ra Bắc, chiếc xe ô tô áp tải vàng do ông chỉ huy lại gặp phải 108 anh hùng kiểu “Lương sơn bạc” thì thậm nguy cho cách mạng. Bởi thế, Võ Quảng yêu cầu lái xe chạy thẳng một mạch suôt ngày đêm ra Hà Nội và không cho phép dừng lại bất kỳ một chỗ nào dọc đường. Lương khô, nước uống mang theo đủ chi dùng cho những người trên xe. Võ Quảng phân công, hai người bảo vệ ngồi trên luôn luôn sẵn sàng súng đạn để đối phó với cướp đường, hai người lái xe thay nhau lái và cứ việc cắm đầu phóng cho thật nhanh, còn ông thì lăm lăm cầm súng ngắn trông coi mấy bao tải vàng.

Trong suốt chuyến đi ấy, Võ Quảng yêu cầu “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, không cho phép một ai được rời khỏi xe. Vậy là những người áp tải vàng phải ăn, ngủ, nghỉ và cả…tiểu tiện ngay trên xe. Võ Quảng có sáng kiến dùng một chiếc ấm đun nước thật to để chứa nước giải và vừa đi vừa thải bậy ra đường. Chỉ sau có hơn một ngày, chiếc xe áp tải vàng bê bết bùn đất do nhà văn Võ Quảng chỉ huy đã ra tới Hà Nội an toàn và đích thân ông còn tới gặp lãnh đạo chính phủ lâm thời để cân đong và giao lại số vàng nói trên”. Giải thích với Đỗ Chu về chuyến đi ấy, ông Võ Quảng cho biết, sở dĩ không dám cho xe dừng lại dọc đường, vì sợ tin tức về việc vận chuyển vàng bị lộ lọt, đến tai những “thảo khấu” ở các địa phương dọc đường ra Bắc, sẽ sinh nhiều chuyện chẳng lành. Khi tôi thắc mắc, Đỗ Chu trừng mắt nhìn tôi bảo: “Ông Võ Quảng chỉ cho phép lính “tiểu tiện” vào ấm và dọa “Nếu dừng lại dọc đường sẽ gặp cướp ngay” làm mấy chú lính trẻ sợ vãi linh hồn, chỉ dám uống nước lã cầm hơi và nhai trệu trạo ít lương khô cho đỡ đói. Và trong chuyến đi ấy, họ phải “nhịn” đủ mọi thứ cho tới khi ra tới Thủ đô mới được “xả hàng”. Đỗ Chu chép miệng nói tiếp: “Giả sử, nếu bây giờ nhà nước kêu gọi ủng hộ “Tuần lễ vàng”, các chú có về bảo vợ, con “mở hầu bao” ra quyên góp không? Chắc là cả đám lại chạy “mất dép” ngay, thế thì các chú yêu nước, yêu dân cái nỗi gì. Thế mới biết các cụ ta ngày xưa làm cách mạng sướng thật, vì dân ta hồi ấy yêu nước hồn nhiên lắm, chứ không tính toán như các chú bây giờ”.

2

Thời gian gần đây, tôi thường xuyên gặp “cụ lý” Đỗ Chu ngồi uống nước chè, hút thuốc lào vặt và kể chuyện phiếm “miễn phí” ở phòng làm việc của Tạp chí Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội. Hình như, đến Tạp chí Thơ mà không gặp Đỗ Chu là thấy buồn hẳn. Bởi nếu Hội Nhà văn Việt Nam mở cuộc thi kể chuyện khôi hài hấp dẫn nhất về “làng văn” ở nước ta bây giờ, có lẽ khó ai theo kịp Đỗ Chu. Đầu ông thì bé như “quả trứng bẹp” mà chứa bên trong cả một kho tàng “linh tinh mục” đủ các thứ chuyện trên giời, dưới bể, chuyện văn chương, chuyện thế sự, chuyện xã hội, chuyện thành thị, chuyện làng quê, chuyện quá khứ, chuyện tương lai…chuyện nào cũng độc đáo, khôi hài cả. Có người biết khá nhiều chuyện “bếp núc” thú vị về làng văn ở nước ta nhưng lúc kể ra, không hiểu vì sao cứ thấy “nhạt phèo”. Còn nếu chuyện ấy mà được nghe Đỗ Chu kể ra thì chắc chắn nó lại mang một phong vị khác hẳn. Cái hấp dẫn ấy, có lẽ cũng là do cái cách kể chuyện, cách thong thả, nhâm nhi, nhấn nhá các tình tiết quan trọng với vẻ mặt đặc biệt rất hóm hỉnh của Đỗ Chu. Lúc ấy, con mắt tinh ranh của ông “nấp” sau cặp kính dày cộp, tròn xoe giống đít chai, cứ như muốn nhảy xổ ra, chụp lấy người nghe mà đè sấp xuống, bảo rằng “Chuyện ông kể là chuyện thật một trăm phần trăm, ông nghe chúng nó kể, rồi ông kể lại cho chúng mày nghe ở một cấp độ hay hơn nhiều cái sự thật giản đơn lúc ban đầu”. Rồi Đỗ Chu cười, nụ cười mới thật sung sướng, rạng rỡ, hể hả làm sao.

Đúng ra, nhà văn Đỗ Chu (sinh năm 1944, quê ở xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) là một người văn khá cởi mở, dễ gần gũi và thú vị đặc biệt. Đặc biệt là bởi tài năng văn chương của Đỗ Chu đã “vang bóng” từ thời ông mới in tập truyện ngắn đầu tay “Hương cỏ mật” năm 1963 và tập truyện ngắn “Phù sa” năm 1967. Đến nay, với hơn chục tác phẩm “để đời”, Đỗ Chu có hẳn một bộ sưu tập các giải thưởng văn chương, từ giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1963 đến giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002, từ giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 đến Giải thưởng ASEAN năm 2004. Còn một điều thú vị khác là bởi, ông luôn xem nhẹ các giải thưởng văn chương này và chỉ có thú vui thích ngồi kể những câu chuyện khôi hài theo kiểu “châm chọc” cho bạn bè nghe.

Sở dĩ Đỗ Chu thường hay ngồi kể chuyện phiếm “miễn phí” cho các bạn văn trong phòng khách của Tạp chí Thơ là vì ông rất quý trọng nhà thơ Ngô Thế Oanh, Phó Tổng biên tập ở đây. Nể nhau vì tài đã đành, còn quý hóa nhau là vì chuyện nhân cách, chuyện tình nghĩa tri âm, tri kỷ. Tôi có cảm giác, khi Đỗ Chu kể chuyện, ông trở thành một nhà “độc tài” bảo thủ, ông chỉ cho phép mỗi mình ông nói và không bắt tay ai trong lúc kể chuyện. Có điều khá lạ, không hiểu vì sao vốn là một nhà văn xuôi nổi tiếng, nhưng ông không ít lần tỏ ra coi thường người viết văn xuôi và thường “ngả mũ” khâm phục người làm thơ. Có lần Đỗ Chu nheo mắt, ví von so sánh bảo với mấy nhà thơ chúng tôi đang ngồi xung quanh hóng chuyện ông: “Thi ca nó sang trọng lắm chứ, nó như viên ngọc quý lấp lánh trên vương miện của nữ hoàng văn chương. Nó hơn hẳn cái anh văn xuôi cứ phải hì hục viết suốt ngày, suốt đêm đến ho lao, thối phổi. Tôi kính trọng người làm thơ vô cùng. Vừa qua, đọc được chùm thơ mới của ông Nguyễn Khoa Điềm ở Huế gửi ra, tôi thấy xúc động vì cái “tôi” trong thơ của ông ấy nó sang trọng quá, sâu sắc quá. Nó chẳng hề véo von, vay mượn, sáo rỗng như mấy anh “cười thuê, khóc mướn” khác. Nhất là vừa rồi, tôi đọc được một chùm thơ của Ý Nhi mới in trên Tạp chí Thơ thì mới thấy, thơ của cô ấy hiện nay là hay nhất nước, nó vượt qua các cậu rồi. Thơ kiểu ấy là nó “ngồi” lên mặt mấy ông nhà văn đương đại ấy chứ và chả đùa với thơ của nó được đâu, các cậu nghe chưa!”.

Nghe nhà văn Đỗ Chu hào hứng nhảy sang “chiếu” phê bình thơ, tôi cùng hai nhà thơ Ngô Thế Oanh và Nguyễn Đức Mậu cứ há hốc mồm ra mà cười. Với vẻ mặt nghiêm trọng, Đỗ Chu hóm hỉnh nói tiếp: “ Các cậu đừng tưởng bở chỉ có các cậu mới là nhà thơ chính hiệu đâu nhé, tất cả cánh viết văn xuôi chúng tớ, thằng nào thằng ấy cũng đều âm thầm quyết liệt làm thơ ngay từ lúc chưa làm văn xuôi. Tớ cũng làm thơ từ rất lâu rồi, trường ca, đoản ca, độc ca…tớ đều viết cả, chỉ có cái chưa bao giờ thèm in ra thôi! Vì thật ra, thơ của tớ cũng không có gì hay ho hơn thơ của các cậu, vả lại, có in ra, nó cũng không đóng góp gì được cho sự phát triển của nền thi ca hiện đại, nên tới “đếch” thèm in, cho các cậu biết tay. Chuyện tớ làm thơ, “cu” Oanh, cu “Mậu”…đều biết cả đấy chứ. Tớ chỉ cho phép các “cu” thơ ấy đọc thơ của tớ để biết tài thơ của tớ mà thôi, chứ dứt khoát tớ không cho in!”. Chúng tôi được một mẻ cười nghiêng ngả. Tôi chất vấn “Tại sao, bác lại gọi mấy nhà thơ là “cu” nọ, “cu” kia, thế bác không sợ các nhà thơ phật lòng à?”. Đỗ Chu cười toác loác phân giải “Tao yêu lắm lắm thì tao mới gọi chúng nó là mấy thằng cu chứ! Chúng nó hồn nhiên thành thực dâng hiến cả cuộc đời cho nàng thơ sang trọng. Thế thì làm sao tao lại không yêu mấy thằng cu ấy được nhỉ, mày cũng là một thằng cu thơ đáng yêu đấy em nhé!”. Đỗ Chu lại tít mắt cười. Chuyện Đỗ Chu làm thơ là có thật và ông còn tỏ ra rất say mê thơ.

Tôi nhớ hôm giao lưu các nhà văn quốc tế, Đỗ Chu đã xúc động đứng lên xin đọc tặng nhà thơ Mỹ Kivin Bowen bài thơ vừa làm: “ Tôi có một người bạn/anh tên là Kevin Bowen/trong ngôi nhà gỗ ấm áp ngày ấy/ở Boston mọi người cùng nhóm lửa/nghe thơ anh kể/những người đàn bà lam lũ/mải mê nhặt những con ốc vặn/bên chân thành hoang vắng Cổ Loa/rồi tất cả ra về/đêm khuya/tôi ngồi vẽ anh nhưng không thành/lần này hay tin anh sắp sang Hà Nội/tôi bèn căng toan cặm cụi pha màu/lan man kiếm tìm gương mặt/người đàn ông trung hậu/ở một nơi chẳng gần nếu không nói là rất xa/bất chợt hiện ra/anh tóc trắng mắt buồn/nhìn vào cái thế gian với một nhân loại/rất khó hiểu và quả là rất cũ/từ lúc nào anh đã ngồi đó sâu thẳm ký ức…”. Lúc Đỗ Chu ngâm nga xong bài thơ, tôi thấy kính mắt ông như nhòa đi, không còn thấy vẻ tinh ranh, hóm hỉnh trong ấy nữa. Hóa ra, khi làm thơ, con người ta sống thật nhất với mình, có phải không “cụ lý”?

Bài đã đăng VNT. Trên đây là bản đầy đủ

Phongdiep.net

Wednesday, 7 July 2010

Văn học Việt ở ngoài nước trong vài năm qua

Đỗ Quyên

Là người trong cuộc, tôi thấy, văn học Việt Nam ở nước ngoài hiện nay cũng không đến nỗi nào, đâu có tẻ nhạt như nhiều người trong cuộc và ngoài cuộc từng bình giá. Tất nhiên, so với mươi năm trước, đa số các sân chơi lớn đã tan hàng. Có được rất ít nhóm còn sống hoặc mới ra, thì lại làm báo chí “trên trời”. Sách, báo chí văn học “dưới đất” càng khan hiếm, dễ tạo cảm tưởng không nắm bắt được câu chữ chăng? (Hay vì tôi lạc quan? Với cả nền văn học Việt Nam, sau khi nhìn ra điều hay dở, sự được mất, dù ở xa tôi vẫn thấy… ô-kê, xét về toàn diện, không như nhiều người đang ta thán.)

Về văn chương viết bằng tiếng Việt ở nước ngoài, để nói đúng và hay, thật không đơn giản. Một trong các lý do: có nhiều cách tiếp cận mà mỗi cách cho kết quả khác nhau. Ví dụ: Thể tài, nội dung; Quan niệm, chính kiến; Thế hệ, tuổi tác; Môi trường xuất bản; Thời kỳ, trào lưu; Khu vực địa lý v.v… Tôi chọn cách sau: Phác họa tác giả theo thể loại, rồi đi vào một số vấn đề nổi bật về nội dung và phương pháp, với thời gian trong vài ba năm nay (tạm tính tới tháng 2-2010), và theo các địa chỉ văn học ở hải ngoại là damau.org, tienve.org, gio-o.com, amvc.free.fr, thotanhinhthuc.org, Hợp Lưu, Khởi Hành, Chủ Đề, Truyền Thông…

Bức tranh xuân:

Làng văn học Việt ở nước ngoài dạo này vẫn ánh lên các tác giả của “thời hoàng kim” (khoảng 1985-1995) và “hậu hoàng kim” (khoảng 1995-2000), trong đó có không ít tên tuổi từng làm nên văn học miền Nam trước 1975.

Thơ: Du Tử Lê, Nguyễn Xuân Thiệp, Luân Hoán, Khế Iêm, Ngu Yên, Thường Quán, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Đăng Thường, Trần Mộng Tú, Chân Phương, Phan Ni Tấn, Lê Thị Huệ, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Hoài Phương, Đỗ Quyên, v.v…

Văn: Võ Phiến, Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nam Dao, Kinh Dương Vương, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Chính, Nguyễn Thị Thảo An, Miêng, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Quí Đức, Lê Thị Thấm Vân, Mai Ninh, Thế Dũng, Lê Minh Hà, v.v…

Phê bình, biên khảo: Đặng Tiến, Đặng Phùng Quân, Viên Linh, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê, Nguyễn Vy-Khanh, Trần Doãn Nho, Đoàn Cầm Thi, Nguyễn Trung Hối, v.v…

Thảo luận, đọc sách: Đào Trung Đạo, Trần Thiện Đạo, Thế Uyên, Phan Huy Đường, Nguyễn Tà Cúc, Phùng Nguyễn, v.v…

Dịch thuật: Hoàng Ngọc-Tuấn, Hoàng Ngọc Biên, Trịnh Y Thư, Nguyễn Ước, v.v…

Ký sự – thể loại còi cọc nhất trong gia đình chữ nghĩa Việt hải ngoại – nay đã có da thịt màu mỡ với Đỗ Kh., Trần Vũ, Đinh Linh, Trùng Dương…

Một số chuyển hoặc thỉnh thoảng chuyển “bàn viết” về Việt Nam: Nguyễn Văn Thọ và Mai Ninh (văn), Thận Nhiên và Trần Nghi Hoàng (thơ), Vũ Ngọc Thăng và Nguyễn Tiến Văn (dịch thuật)…

Vòng nguyệt quế nên được dành cho các tên tuổi quyết định sự chuyển đổi của văn học hải ngoại gần đây. Thơ: Lê An Thế, Đỗ Lê Anhdao, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Lương Vỵ, Vương Ngọc Minh, Lưu Diệu Vân, Trần Nguyên Đán… Văn: Thuận, Đặng Thơ Thơ, Lữ, Đoàn Minh Phượng, Hoàng Ngọc Thư, Lê Quỳnh Mai, Nguyễn Xuân Tường Vy… Dịch thuật: Lê Đình Nhất Lang… Phê bình, biên khảo: Đinh Từ Bích Thúy, Trần Thiện Huy… Đáng nể là Nguyễn Quỳnh, Ngô Văn Tao và Thái Kim Lan: ba tay bút lão luyện của văn học nghệ thuật Việt chỉ vài năm qua mới chịu tung hoành khắp các lãnh địa (nghiên cứu, kịch, văn, thơ, dịch, tiểu luận…) Các vị mới góp mặt như McAmmond Nguyen Thi Tu (văn), Nguyễn Thị Hải Hà, Nguyễn Hồng Nhung (dịch), Một Danna (thơ, tiểu luận)… nhưng nội lực đã tỏ thâm hậu.

Các nét nổi bật của văn học Việt ở nước ngoài hiện nay:

Một cách hoàn toàn hợp lý đúng thời, cả nội dung lẫn hình thức của dòng văn học này trong vài ba năm qua đã mang vóc dáng khác. Sự thành công về nghệ thuật còn là điều cần bàn thêm, nhưng phải nói rằng tác động của văn học hải ngoại tới đời sống tinh thần người Việt ở đây không còn được như từ năm 1997-1998 trở về trước.

Gần giống văn học trong nước, tính phân tán là điều dễ thấy nhất của văn chương Việt ngoài nước hiện nay. Nói theo ngôn ngữ hậu hiện đại là giải trung tâm. Về vấn đề địa văn hóa: Hoa Kỳ, về hình thức, tưởng như không còn là trung tâm “văn hóa đọc” của người Việt hải ngoại, khi mà các trang mạng nở rộ, các tạp chí văn học in bằng giấy đã rơi rụng gần hết, sách văn học được xuất bản ít hơn lá mùa thu.

Về thể tài: Nội dung không còn khu biệt ở vài đề tài quan trọng (nỗi nhớ quê hương, nối dài văn học miền Nam, thân phận ly hương, hội nhập định cư…) mà tất cả hòa vào nhau rồi được cộng thêm các đề tài mới, tới mức rất khó định danh đề tài chính như ở các thời kỳ trước; trừ đề tài muôn thuở là tình yêu. Rõ hơn cả là sự liên đề tài với các vấn đề, sự kiện lớn của cuộc sống chính trị, xã hội và văn nghệ ở Việt Nam. Nói gọn: “người và việc” ở trong nước dường như là cảm hứng sáng tạo và động lực đề tài của rất nhiều tác giả ngoài nước.

Về văn phong: giống ở trong nước, rất đa dạng và phân kỳ! Đây lại là điều không dễ hiểu; vì, trên thực tế trong thập niên qua, cuộc sống tinh thần và vật chất ở các nước bản địa mà người Việt định cư không mấy đổi thay. Trong khi đó, đời sống kinh tế, sinh hoạt xã hội ở Việt Nam, với những thăng trầm khó tưởng tượng nổi, đã cho thấy văn chương đúng là hơi thở của thời đại.

1. Sự đồng hành độc lập (và “hòa bình”!) của các cách viết mới trong ba khuynh hướng truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại:

Điều này thể hiện rõ ràng cả trong hai thể loại thơ và văn xuôi. Ở đây giới hạn trong thơ. Bốn nhà thơ quan trọng dưới đây đều định cư tại Mỹ; ba người nam thì ở cách “khu chợ Bolsa”… vài câu thơ!

Trần Mộng Tú là “liền chị liền anh” trong thể thơ truyền thống với vần điệu ổn cố, có sức viết hàng đầu góp mặt trên hầu khắp báo chí ngoài này. Khác đa số người viết “cổ điển”, sự sống của thơ Trần Mộng Tú là ở cái thần thơ mới, trẻ và sáng. Làm cho chữ (nội dung, đề tài) ở mỗi bài thơ dù cũ và quen được mang những nghĩa (tư tưởng, cảm xúc) khác. Nếu như ngày mai bỗng phục sinh tục lệ của 20-30 năm trước: chép thơ vào sổ tay, tôi xin được “cá” rằng, Trần Mộng Tú sẽ là tác giả số 1 ở hải ngoại và hẳn sẽ lọt Top 10 ở Việt Nam. Đây là đoạn kết của bài Tiễn Phạm Chi Lan, được làm trong mùa thu vừa rồi, khóc thương người bạn vắn số mà đa tài giàu tâm của văn nghệ sĩ hải ngoại: “Tôi gửi một giọt lệ / rơi trên lưng bàn tay / dẫu tay không với tới / cũng xót người hôm nay.” Nữ sĩ đã góp phần làm cho Thơ Mới của thế kỷ trước vẫn“trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa thời hậu hiện đại.

Trong số các “cây đa cây đề” của văn học miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại sau 1975 đến nay, Du Tử Lê là tác giả hiếm hoi còn viết và viết hay. Anh lại viết rất khỏe, xuất bản sách đều gần như mỗi hai năm trong hàng chục năm nay. Tập thơ mới nhất “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới”, đã ra được nửa năm, chứng tỏ nhà thơ hiện đại này – giống như thời mới nổi danh khắp miền Nam – khi cần thì giữ âm nhịp chặt chẽ làm nền cho ý tưởng và ngôn từ bay lên:[1]

“em nhường tôi chỗ ngồi
mang theo mọi chú thích”.

(Bài “bọc bên ngoài thảm kịch,”)

Thế là kể từ nay, với câu thơ trên, “chỗ ngồi” không chỉ là nơi chốn và tình cảm; mà còn là… văn bản!

Ra hải ngoại, tác giả đã kéo thơ hiện đại cuốn vào thi pháp Du Tử Lê, tạo ra những lối rẽ trong thi cảm bằng mọi phương tiện của cú pháp, ký hiệu, dấu; đôi khi làm khó chịu không ít con mắt thơ (và cả con mắt người biên tập, trình bày bài vở.) Nhiều năm trước khi lối viết hậu hiện đại phát triển ở ngoài nước và trong nước, thì các dấu gạch chéo (slash) “ / “, dấu gạch nối (hyphen) “ - “ , cách đặt dấu chấm, phẩy, không viết hoa tất cả các chữ, v.v… đã từng là “thương hiệu Du Tử Lê” rồi! Và điều đó đã thu hút nhiều hưởng ứng cũng như phản đối.

Trích đoạn sau đây từ bài “chào năm mới ở garden grove, california,” tôi đề nghị xem như con dấu thơ Du Tử Lê:

“vẫn buồn (kép,)
chia đôi:
thiên đàng / địa ngục.
em chiếc nêm
chêm giữa – -
ngực đơm / môi /
triền thơ ấu nghiêng,
thiêng bầu vú mẹ.”

Không chỉ thân thuộc giữa cộng đồng văn nghệ người Việt ở đây, Du Tử Lê là nhà thơ gốc Việt được giới thiệu nhiều nhất trong các trường đại học tại Mỹ. Người Mỹ cũng tinh đời đấy, ít nhất trong chuyện này! Thơ họ Du đi với nhạc điệu như hình với bóng: đó là tiêu chí đầu bảng của thơ Việt; Chữ nghĩa đại chúng lại sang cả: già trẻ Tây-Ta đều hiểu; Tâm trạng di dân rất đặc thù. “Tam đại sự”cho thơ Việt di dân! Hỏi còn gì hơn?

Lê An Thế có tác phẩm Thơ Lê An Thế, tự xuất bản, tháng 6-2009. Đây là một trong các thi tập xuất sắc nhất của thơ hải ngoại mà tôi được biết trong vài năm nay, và cũng có thể là xuất sắc của thơ Việt đương đại nói chung. Tràn ngập tâm thức hậu hiện đại, nhà thơ dẫn những văn bản đến thẳng mọi loại độc giả bằng cách nghĩ cách sống của chính mình. Ngôn ngữ lúc này phải làm đầy tớ! Anh không hoặc chưa dùng nhiều kỹ thuật hậu hiện đại – điều đang và sẽ còn làm rối mắt bực tim đa số bạn đọc, kể cả ở các nước văn chương hậu hiện đại ra đời và phát triển như Pháp, Mỹ… Tập Thơ Lê An Thế có vài bài mang cách nói bình dân, phàm tục, mà đúng chỗ. Trong bút danh mới, người thơ này đã không làm xấu hổ bút danh cũ từng làm náo hoạt văn học hải ngoại thời hưng thịnh: Lê Bi!

Mời độc giả thưởng lãm toàn bộ một sáng tác của Lê An Thế được làm tại Nha Trang năm ngoái, mà tôi đã có trong đầu cả một bài bình:

Nghệ thuật ngồi quán một mình

Có lúc tôi là một làn sóng một ngoại ngữ một cánh cửa
một phụ âm
qua góc quán này một người đàn bà vừa đi vừa nói vào chiếc điện thoại di động
tôi lại thất tình
với chiếc điện thoại di động
khi người đàn bà nhét nó vào túi sau quần jean
mang theo một cái mông đầy sóng
giữa những bức tường không chịu chết này
chúng ta đứng ngồi chồng chéo
tôi lại như một cái chìa khóa
đang thử cắm vào tất cả
mà vẫn giữ được sự cô độc của mình.

Nói về trào lưu, trường phái: Thơ tân hình thức Việt từng do Tạp chí Thơ và nhà thơ Khế Iêm khởi xướng là một cái mốc trên con đường đổi mới thơ Việt Nam.

Thể thơ Tân hình thức (New Formalism) phát sinh ở Mỹ hồi 1980-1990, lan sang thơ Việt trong và ngoài nước từ năm 2000, và phát triển hồi 2004-2005 với các tranh luận căng thẳng, triền miên. Thơ tân hình thức Việt có các đặc trưng: Không vần, nhịp điệu khác hẳn thơ bình thường; Hai kỹ thuật chính: vắt dòng (tùy loại 4-5-6-7 chữ, cả lục bát, thì xuống dòng theo số chữ), và lặp lại; Tứ thơ – đây là điểm quan trọng – có tính truyện; Ngôn ngữ: không tu từ; đời thường, có thể thông tục; Mục đích: đưa thơ lại gần đời sống hàng ngày. Tác dụng: Thật ra, theo tôi, thơ tân hình thức không phổ cập được; như một loại “đặc sản”, chỉ hợp một số ít cấu tứ, trạng thái nào đó. Năm 2006, ở Mỹ ra đời tuyển tập tân hình thức Việt song ngữ Thơ không vần – Blank verse, gồm 65 tác giả trong và ngoài nước. Một tuyển tập mới vừa đã được in ở cả Việt Nam và Mỹ, khiêm nhường hơn về tầm vóc và mang cái tên tiếng Việt “tân hình thức” hơn: Thơ kể – Poetry narrates, với 22 tác giả Việt toàn cầu. Nếu không tính những thi phẩm cá nhân và những hợp tuyển in ở nước ngoài, thì Thơ không vần – Blank verse (NXB Lao Động, 5-2010) là tuyển tập thơ tân hình thức đầu tiên của Việt Nam.

Cuối cùng, trước khi khép màn sáng tác thơ, tôi muốn nói nhanh rằng, cùng Lê An Thế, nhị vị Đỗ Lê Anhdao (Mỹ) và Nguyễn Đức Tùng (Canada) là các tác giả nổi trội về cách tân thơ Việt hải ngoại trong nửa thập niên qua. Đỗ Lê Anhdao, ngay khi xuất hiện, đã là hai tay thơ – song ngữ – thứ… dữ! Dữ về bút pháp văn chương. Dữ về cả thẩm mỹ nghệ thuật. Dữ luôn cả tính nữ quyền! Ba thứ dữ đó “trị” được nhau, đưa thơ của cô trở thành tiêu biểu cho phong cách nổi loạn đúng đắn với tâm trạng một nghệ sĩ di dân Thế hệ Một rưỡi trên xứ Cờ Hoa. Còn với Nguyễn Đức Tùng, tôi từng có một bài dài mang tên Bình thơ Nguyễn Đức Tùng đăng ở một vài trang mạng. Nhà thơ này như một luận lý gia thực hành, không tuyên ngôn bằng tuyên ngôn. Khoảng 80 bài thơ ngắn của anh có thể xem đã tạo nên một trong những loại “Haiku Việt”. Haiku Việt của Nguyễn Đức Tùng đưa ra luận điểm bằng các hình tượng thơ in dấu ấn xã hội, thời cuộc Việt Nam, và được nuôi dưỡng trong phong cách giễu nhại phương Tây và thi cảm phân tâm. Nhưng, đấy là một loại thơ khó, dù không có sự rối rít lộ diện như ở đa số cách viết hậu hiện đại khác.

2. Lý luận và phê bình văn học Việt ngoài nước năm 2009 có được hai tác phẩm về thơ đặc biệt và giá trị:

Đó là Thơ – Thi pháp và chân dung của nhà phê bình văn học Đặng Tiến (Pháp) và Thơ đến từ đâu của nhà thơ, nhà biên khảo Nguyễn Đức Tùng. Điều dễ nhận ra ở hai cuốn sách là các vấn đề của thơ Việt trong nửa thế kỷ qua, ở cả hai miền Bắc và Nam, ngoài nước và trong nước, có lẽ lần đầu tiên được xuất bản ở Việt Nam, trong một hình thức hợp tuyển độc đáo: hoặc là gồm những bài phê bình đã đăng rải rác được viết theo cách tiếp cận riêng để thấy thơ “như một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” (với Đặng Tiến), hoặc là gồm những phỏng vấn các nhà thơ, nhưng không theo cách thức và nội dung phỏng vấn bình thường mà dùng bút pháp văn chương lấy thơ vừa làm phương tiện vừa làm mục đích (với Nguyễn Đức Tùng).

Riêng cuốn Thơ đến từ đâu là một sự kiện văn học đặc biệt trong năm! Ngay khi mới ra đời đã được dư luận và văn giới quan tâm sôi nổi qua nhiều tháng trời trên nhiều báo chí, trang mạng ở trong cũng như ngoài nước, trên nhiều phương diện trong cũng như ngoài văn chương. Quả là một cuốn sách mang số phận trôi nổi – số phận của Thi ca! Và sự ra đời của nó ở Việt Nam tự thân đã là một kỳ công – kỳ công của Thi ca! Cuộc Hội thảo 6-1-2010 tại Hà Nội, do Trung tâm văn hoá Pháp L’Espace và Công ty TKK Concert phối hợp tổ chức, đã thu hút hàng chục tham luận của các tay bút có uy tín và năng động trong sinh hoạt học thuật và phê bình Việt Nam như Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Tiến, Dương Tường, Phạm Toàn, Tô Nhuận Vỹ, Chu Văn Sơn, Văn Giá, Trần Thiện Khanh, Đặng Thân… Tạp chí Sông Hương đã tập trung các tham luận này thành Chuyên đề: Về cuốn “Thơ đến từ đâu” trên trang mạng của mình. Cuộc Tọa đàm Thơ đến từ đâu 6-6-2010 đã được nằm trong Chương trình Festival Huế 2010 với chủ đề “Di sản Văn hóa với hội nhập và phát triển”, qua tham luận, ý kiến của các văn thi sĩ, phê bình gia khắp ba miền đất nước: Mai Văn Hoan, Phạm Xuân Nguyên, Hồ Thế Hà, Nguyễn Tiến Văn, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Phạm Nguyên Tường, Hoàng Vũ Thuật, Khánh Phương, Inrasara, Phùng Tấn Đông… Bản tin của Tạp chí Sông Hương cho thấy hội thảo này “xoay quanh các vấn đề của thơ ca như các xu hướng, các trường phái thơ ca hiện nay, về các khái niệm thơ cũng như những hành trình thơ ca của những người viết trẻ…”

Mong rằng, ý nghĩa chuyển đổi quan niệm nhìn nhận bản thể văn học Việt Nam của hai tác phẩm ấy sẽ còn được độc giả và giới phê bình khắp nơi bàn thảo.

3. Văn học Việt hải ngoại chuyên chở tinh thần thế giới:

Đó như hai núm đồng tiền làm đẹp gương mặt văn xuôi tiếng Việt ở nước ngoài mà trong các thời kỳ trước không sao có được. Đành rằng, trong thơ, như ở các tác giả trên, cũng có “thế giới”. Nhưng thơ bao giờ cũng là thơ! Khó… sờ mó được như truyện, ký với các sự kiện, biến cố mang tính sống còn của loài người: khủng bố tôn giáo, xung đột văn hóa… Công này thuộc về các nhà văn McAmmond Nguyen Thi Tu và Hoàng Chính (Canada), Đỗ Kh., Nguyễn Thị Thảo An (Mỹ), và Miêng (Pháp).

Với lối kể chuyện chỉn chu mà tự nhiên, McAmmond Nguyen Thi Tu là tác giả đã quen thuộc của bạn đọc trong nước qua các truyện ngắn đậm đà sự hòa lưu văn hóa, tập tục của người di dân trên thế giới. Nhiều tháng qua, loạt truyện xuất hiện trên trang mạng Da Màu của chị đã làm nở bung những lời bình ngưỡng mộ cùng các phản biện thú vị.

4. Đời sống của người Việt xa xứ:

Từ Đức, đã có hai tiểu thuyết về người Việt ở các nước Đông Âu đều mới được xuất bản ở trong nước vào năm Kỷ Sửu và nhận được sự quan tâm đáng kể. Đó là Quyên của nhà văn Nguyễn Văn Thọ, và Một nửa lá số của nhà thơ Thế Dũng. Nhiều bài viết, phỏng vấn đã dành cho tiểu thuyết Quyên như một trong những cuốn sách tiêu biểu thời đại di dân có tính toàn cầu, ở đó “số phận mong manh của một người phụ nữ Việt trôi nổi trên xứ người đã được văn học soi rọi khách quan và trân trọng.” (theo Nguyễn Thị Anh Thư)

Là điều bạn đọc đã biết, nhưng ở đây không thể quên nhắc đến nữ sĩ Thuận (Pháp) từng là “mẹ đẻ” 5 tác phẩm trong đúng ngần ấy năm: Made in Viêtnam (bản tiếng Pháp xuất bản tại Pháp năm 2009), Phố Tàu, Paris 11 tháng 8 (tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2006), T mất tích, và Vân Vy.

5. Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài:

Với sự kiện có tầm vóc và ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt học thuật của văn hóa và văn học Việt, không ít văn nghệ sĩ hải ngoại có tên trong bài này từng đã quan tâm, tham luận, tham dự…

Tại Hội nghị (đầu tháng 1-2010, Hà Nội), và trên trang mạng Hội Nhà văn Việt Nam, Thế Dũng có tham luận Trong các xung lực của ngoại giao văn hóa chứa nhiều thông tin cụ thể về văn chương Việt Nam với độc giả người Đức.

Khế Iêm với bài Vài ghi nhận trong việc biên tập thơ song ngữ (trang mạng laxanh.vn) nêu các ý tưởng và kinh nghiệm mới mẻ, thực dụng trong việc dịch thơ từ tiếng Việt ra tiếng Anh.

Tham luận gửi tới Hội nghị của tôi mang tên Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt đã đề nghị lưu tâm một đề tài xứng đáng làm vùng sáng trong thơ Việt, cần được thể hiện trên văn đàn quốc tế. Đó là trào lưu trường ca Việt Nam! [2]

Quan niệm rằng, thể loại như một thi pháp, cảm hứng chủ đạo như một phương pháp, chúng tôi chia sẻ cùng nhận định của nhà nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn [3], “về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 20 đến giờ”.

Với thống kê sơ bộ còn nhiều thiếu sót, danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam của chúng tôi cho thấy, kể từ thời Thơ Mới tới nay, có 122 nhà thơ Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài có ý nghĩa tương đương. Trong danh sách này, một cách tương đối, có thể xem Phạm Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng “Tiếng Địch Sông Ô” ra đời năm 1935, và mới nhất là Trương Thìn với “Mấy Cõi Rong Vui” vừa ra mắt ở TP Hồ Chí Minh trong tháng 5-2010.

Đội ngũ các nhà trường ca Việt đó từng có cả một “trung đội” lừng danh từ những năm tháng khói lửa chiến tranh 1962-75 và sau đó vài năm là Thu Bồn và Thanh Thảo, là Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh, là Anh Ngọc và Nguyễn Đức Mậu… được nối tiếp tới thời hậu chiến là những Trần Mạnh Hảo và Thi Hoàng, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái và Nguyễn Quang Thiều… Còn Trần Dần và Lê Đạt – hai tác giả quan trọng khác của trường ca Việt – thì đã đưa thể loại văn học ngoại cỡ này tới tầm kích lạ lẫm về ngôn từ và sâu sắc về nhân sinh. Ở ngoài nước, ít ỏi không thành phong trào, nhưng cũng có các tác giả với những đóng góp thay đổi cần thiết về cả hình thức, cấu tứ lẫn nội dung, cảm hứng của trường ca Việt; đó là Du Tử Lê và Cao Đông Khánh, là Trần Nghi Hoàng và Đỗ Quyên.

Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam – nếu có thể gọi như vậy – đặc sắc và Việt tính! Đó không là một tập hợp có chủ định, có đường hướng của nhóm các thi sĩ chung phương pháp, quan niệm theo một nhóm phái thông thường. Đó là phản ứng dây chuyền sáng tạo“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có ý thức của từng nghệ sĩ hòa cùng cảm xúc tráng ca của đất nước và sử thi của dân tộc trong một thời đại bi hùng của nhân loại. Qua thập niên đầu thế kỷ 21, con sông trường ca Việt hiện đại ấy cũng trở mình theo tâm thức chung của văn học Việt Nam và thế giới, từ thể tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ. Và, lẽ tự nhiên, đã có không ít biểu hiện của trường ca Việt mang gương mặt hậu hiện đại.

*

Các lối đi, các cây rừng nói trên chưa thể cho thấy rõ khu rừng văn chương Việt Nam ở ngoài nước; và xin coi đó làm lời ước hẹn các bài về sau, trên trang báo này hay nơi khác…



Vancouver & Hà Nội (Hoàn thành 1-2010; Cập nhật 4-7-2010)

ĐỖ QUYÊN



Chú thích:

* Bài đã đăng lần đầu trên tuần báo Người Hà Nội, số 27, ngày 2-7-2010. Đây là bản mới nhất với một số tu chỉnh nhỏ.