Thursday, 9 December 2010

Chủ nghĩa xã hội là gì?

Leszek Kolakowsi - Trần Quốc Việt dịch

Chúng tôi định nói cho bạn biết chủ nghĩa xã hội là gì. Nhưng trước tiên chúng tôi phải nói cho bạn biết chủ nghĩa xã hội không phải là gì đã – và quan điểm của chúng tôi ngày xưa về vấn đề này đã rất khác với quan điểm hiện nay.

Vậy sau đây chủ nghĩa xã hội không phải là:

- xã hội nơi người không phạm tội gì ngồi ở nhà chờ công an đến;
- xã hội nơi người ta có tội vì là anh chị em, con, hay vợ của tội phạm;
- xã hội nơi nhiều người đau khổ vì họ nói ra điều họ nghĩ còn những người khác lại đau khổ vì họ không nói;
- xã hội nơi có nhiều người khá lên nhờ họ hoàn toàn chẳng suy nghĩ gì;
- xã hội nơi nhiều người đau khổ vì họ là người Do Thái còn những người khác hạnh phúc hơn vì họ không phải là người Do Thái;
- nhà nước nơi bộ đội là những người đầu tiên đặt chân lên lãnh thổ nước khác;
- nhà nước nơi người ta khá lên nhờ họ biết khen ngợi lãnh đạo;
- nhà nước nơi người ta có thể bị kết án mà không cần xét xử.
- xã hội nơi các nhà lãnh đạo tự phong lẫn nhau;
- xã hội nơi mười người sống trong một phòng;
- xã hội có những cơn dịch bệnh và dịch mù chữ;
- nhà nước không cho phép đi ra nước ngoài;
- nhà nước có nhiều gián điệp hơn y tá và nhà tù có nhiều chỗ trống hơn bênh viện;
- nhà nước nơi số lượng cán bộ tăng nhanh hơn số lượng công nhân viên;
- nhà nước nơi người dân buộc phải nói láo;
- nhà nước nơi người dân buộc phải ăn cắp;
- nhà nước nơi người dân buộc phải phạm tội;
- nhà nước sở hữu thuộc địa;
- nhà nước nơi nước láng giềng của họ nguyền rủa địa lý;
- nhà nước sản xuất ra máy bay phản lực siêu phàm và những đôi giày quá tệ;
- nhà nước nơi những kẻ hèn nhát lại khá hơn những người can đảm;
- nhà nước nơi luật sư biện hộ thường đồng ý với công tố;
- nhà nước độc đoán, nhà nước do nhóm nhỏ cầm quyền, nhà nước quan liêu;
- xã hội nơi đại đa số nhân dân hướng về Chúa để an ủi họ trong cảnh khổ;
- nhà nước trao các giải văn học cho những nhà văn quèn bất tài và là nhà nước biết rõ hơn các hoạ sĩ tranh nào là kiệt tác;
- quốc gia thống trị quốc gia khác;
- quốc gia bị quốc gia khác thống trị;
- nhà nước muốn tất cả các công dân của mình đều có cùng quan điểm về triết học, chính sách ngoại giao, kinh tế, văn học, và đạo đức;
- nhà nước quyết định các quyền của công dân nhưng các công dân không được quyết định các quyền của nhà nước;
- nhà nước nơi người ta chịu trách nhiệm về tổ tiên của mình;
- nhà nước nơi có người có thu nhập cao hơn bốn mươi lần người khác;
- là hệ thống chính quyền bị đa số người dân ghét;
- một quốc gia bị cô lập;
- nhóm các quốc gia kém phát triễn;
- nhà nước xử dụng các khẩu hiệu đề cao dân tộc;
-nhà nước nơi chính quyền tin rằng không có gì quan trọng bằng việc mình phải nắm được quyền hành;
- nhà nước ký kết hiệp ước với các tội phạm và thay đổi thế giới quan của nhà nước theo các hiệp ước này;
- nhà nước muốn bộ ngoại giao hình thành thế giới quan cho tất cả nhân loại ở một thời điểm nhất định;
- nhà nước không phân biệt giỏi lắm giữa nô lệ và giải phóng;
- nhà nước hoàn toàn cho phép ủng hộ kỳ thị chủng tộc,
- nhà nước hiện đang tồn tại;
- nhà nước có quyền tư hữu phuơng tiện sản xuât;
- nhà nước coi mình là nhà nước xã hội chủ nghĩa vì nhà nước đã xoá bỏ tư hữu phương tiện sản xuất;
- nhà nước không phân biệt giỏi lắm giữa cách mạng xã hội và xâm lược vũ trang;
- nhà nước không tin rằng nhân dân dưới chủ nghĩa xã hội nên hạnh phúc hơn nhân dân ở các nơi khác;
- xã hội rất buồn;
- hệ thống các giai cấp;
- nhà nước nơi chính quyền luôn luôn biết ý muốn của nhân dân trước khi hỏi ý kiến của nhân dân;
- nơi người dân có thể bị xô đẩy, bị nhục mạ, và bị bạc đãi mà nhà nước không bị trừng phạt;
- nhà nước nơi áp đặt quan điểm nhất định về lịch sử thế giới,
- nhà nước nơi các triết gia và nhà văn luôn luôn nói những điều giống như các vị tướng và bộ trưởng nói, nhưng luôn luôn nói sau khi các vị tướng và bộ trưởng đã nói trước;
- nhà nước nơi các bản đồ thành phố là bí mật quốc gia;
- nhà nước nơi kết quả các cuộc bầu cử quốc hội có thể luôn luôn được tiên đoán không bao giờ sai;
- nhà nước nơi lao động như nô lệ tồn tại;
- nhà nước nơi các mối quan hệ phong kiến tồn tại;
- nhà nước độc quyền cho người dân biết tất cả những gì họ cần biết về thế giới;
- nhà nước nghĩ tự do có nghĩa là phục tùng nhà nước;
- nhà nước không thấy sự khác biệt giữa những gì là sự thật và những gì vì quyền lợi của nhà nước nhân dân phải tin theo;
- nhà nước nơi người ta có thể tuỳ tiện chuyển toàn bộ quốc gia từ nơi này đến nơi khác;
- nhà nước nơi công nhân không có ảnh hưởng gì đối với chính quyền;
- nhà nước cho rằng chỉ có nhà nước mới có thể cứu được nhân loại;
- nhà nước cho rằng nhà nước luôn luôn đúng;
- nhà nước nơi lịch sử phục vụ chính trị;
- nhà nước nơi công dân không được phép đọc các kiệt tác văn học đương thời, hay xem các kiệt tác nghệ thuật đương thời, hay nghe kiệt tác âm nhạc đương thời;
- nhà nước cực kỳ tự mãn;
- nhà nước tuyên bố thế giới rất phức tạp, nhưng thật ra lại tin rằng thế giới rất đơn giản;
- nhà nước nơi ta phải trải qua rất nhiều đau đớn trước khi ta gặp được bác sĩ;
-nhà nước có kẻ ăn xin;
- nhà nước tin tưởng chắc chắn rằng không có ai đã từng có thể phát minh ra được điều gì tốt hơn;
- nhà nước tin rằng tất cả mọi người đều tôn sùng nhà nước, mặc dù ngược lại mới đúng;
- nhà nước cai trị theo nguyên tắc dân ghét cũng chẳng sao miễn là dân phải sợ;
- nhà nước quyết định ai có thể phê bình và phê bình như thế nào;
- nhà nước nơi ta mỗi ngày được yêu cầu nói ngược lại điều ta đã nói ngày hôm trước nhưng vẫn tin rằng ta luôn luôn nói cùng một điều;
- nhà nước hoàn toàn không thích khi công dân đọc báo cũ;
- nhà nước nơi kẻ dốt thành học giả;
- nhà nước nơi nội dung của tất cả các tờ báo đều giống y như nhau;
-nhà nước nơi chính quyền muốn kiểm soát tất cả các hình thức tổ chức xã hội;
- nhà nước nơi có nhiều người ngay thẳng và can đảm, nhưng nghiên cứu về chính trị của chính quyền sẽ không cho phép ta khám phá ra điều này;
- nhà nước hoàn toàn không thích khi các học giả phân tích chế độ, nhưng lại rất vui khi các kẻ nịnh hót phân tích chế độ;
- nhà nước luôn luôn biết rõ hơn các công dân hạnh phúc của mỗi công dân nằm ở đâu;
-nhà nước, dù không hy sinh bất kỳ điều gì cho những nguyên tắc cao hơn, lại tin rằng nhà nước là ánh sáng soi đường cho sự tiến bộ.

Thế là xong phần thứ nhất. Bây giờ, hãy chú ý, vì chúng tôi sẽ cho bạn biết chủ nghĩa xã hội là gì. Chủ nghĩa xã hội là như thế này:
Chủ nghĩa xã hội là hệ thống mà… Nhưng có ích gì khi đi sâu vào tất cả các chi tiết này? Thôi nói thế này với nhau cho dễ hiểu: chủ nghĩa xã hội quả thực là quá tuyệt.

*

Lời người dịch: Leszek Kolakowsi (1927-2009) là một triết gia Ba Lan nổi tiếng thế giới, có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào phản kháng ở Đông Âu, đặc biệt tại Ba Lan. Ông bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Ba Lan năm 1966 và bị cấm dạy tại Đại học Warsaw năm 1968, sau khi ông phê phán chủ nghĩa Stalin qua các bài viết được lưu hành bí mật. Từ đó ông bắt đầu cuộc đời lưu vong, và lần luợt giảng dạy tại các đại học như Berkeley, Yale, Chicago, và cuối cùng Oxford. Trong năm thập niên, ông viết hơn 30 cuốn sách, chủ yếu về triết học, nổi bật nhất và có tầm ảnh hưởng lớn nhất là bộ sách 3 tập, Main Currents of Marxism: Its Rise, Growth and Dissolution (1976). Tác phẩm này là “giấy khai tử” về trí thức của tư tưởng Mác-xít viết ra 13 năm trước khi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu đi vào nghĩa trang lịch sử năm 1989. Các nhà lãnh đạo phong đoàn Công đoàn Đoàn kết tranh đấu bền bỉ dựa trên các tư tưởng chống Mác-xít của ông. Ông nhận được rất nhiều giải thưởng lớn, là người đầu tiện nhận Giải thưởng John W. Kluge, trị giá 1 triệu đô-la, được xem như là Giải Nobel cho các ngành nhân văn và xã hội. Ông là “người đánh thức hy vọng của con người” và là một Socrates của Ba Lan trong thế kỷ hai mươi.

Tác phẩm dưới đây được tác giả viết vào năm 1956 cho tờ tuần báo sinh viên. Toàn bộ bài bị kiểm duyệt. Sau đó báo bị đình bản. Sinh viên liền dán bài trên bản thông báo của trường đại học Warsaw, nhưng liền bị gỡ xuống ngay. Từ đấy bài được chép tay và lưu hành rộng rãi.

Tác giả nhận xét: ” Dù ngắn, tác phẩm châm biếm này đủ dài để khích thích sự giận dữ của những nhà lãnh đạo đảng cộng sản – điều đáng tự hào.”

Độc giả có thể đọc bài viết khác của tác giả nhan đề ” Chủ nghĩa xã hội còn lại gì ” trên trang mạng Talawas blog cũng cùng người dịch.

_______________

Nguồn: Tác phẩm “My Correct Views on Everything“, nhà xuất bản St.Augustine’s Press, ấn bản năm 2010, trang 62-65

Wednesday, 8 December 2010

Vì sao Marx, Engels không dùng từ “xã hội chủ nghĩa”?

Đăng bởi bvnpost on 07/12/2010

Tống Văn Công

"Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta". Ý này trong Dự thảo văn kiện Đại hội 11 đã không được sự đồng thuận xã hội. Nhiều đảng viên cộng sản cũng tỏ ý không tán thành. Giáo sư, tiến sĩ Dương Phú Hiệp góp ý: Cương lĩnh chỉ nên nêu ra những việc phải thực hiện trong 20 năm. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa biết bao lâu mới tới, có thể cả 100 năm. Chủ nghĩa xã hội "bao gồm thực hiện chuyên chính vô sản, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tiến hành đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa 2 con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản để giải quyết vấn đề "ai thắng ai" đều là những nội dung mà hiện nay Đảng không dùng nữa, không còn nói nữa. Khi những nội dung cơ bản đó chúng ta không dùng thì tại sao vẫn dùng khái niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vì nhân dân đã khốn khổ về những nội dung nói trên". Theo ông Dương Phú Hiệp, nên bỏ cụm từ “xã hội chủ nghĩa” mà nhân dân đã vì nó mà khốn khổ và chỉ nên gọi là Cương lĩnh phát triển đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu.

Hóa ra vấn đề "đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng…" nếu không nói là không tưởng thì cũng vô cùng duy ý chí, vì nêu ra mà không biết bao giờ mới tới, vậy mà lại gây chia rẽ gay gắt trong Đảng và trong dân tộc.

Nếu "Đi lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa là khát vọng của dân tộc" thì tại sao từ 1940 đến 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ nêu ra để vận động nhân dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945? Cương lĩnh Mặt trận Việt Minh không hứa hẹn đáp ứng "khát vọng" đó? Mười lăm năm sau, Cương lĩnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cũng không hứa hẹn đáp ứng "khát vọng" đó?

Dân tộc ta không có một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng như dân tộc Pháp với Charles Fourier, như dân tộc Anh với A. Robert Owen. Ngay người Trung Hoa láng giềng nếu muốn nói về khát vọng xã hội chủ nghĩa không tưởng thì họ còn có tập sách Ghi chép ở suối Hoa Đào của Đào Tiềm miêu tả cuộc sống bình đẳng hạnh phúc do ông ấy tưởng tượng ra. Việt Nam ta chỉ có chuyện tình lãng mạn Từ Thức gặp tiên, nhưng cuối cùng Từ Thức nhớ trần gian quá phải bỏ tiên trở về trần!

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Di chúc: "Mong ước cuối cùng của tôi là thực hiện được một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Như vậy là Cụ Hồ chỉ coi xã hội chủ nghĩa chỉ là phương tiện chứ không phải cứu cánh, trong trái tim Cụ Hồ chỉ có độc lập, dân chủ.

Nhân đây xin kể chuyện vì sao Marx và Engels đã không dùng từ xã hội chủ nghĩa để đặt tên Cương lĩnh của phong trào công nhân (tức là bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản). Trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888 ở Luân Đôn, Engels viết: "Chúng tôi không thể gọi nó là Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa được. Năm 1847, người ta thường dùng từ xã hội chủ nghĩa, một mặt để gọi những người theo các hệ thống không tưởng như phái A.R. Owen ở Anh, phái Ch. Fourier ở Pháp, là những phái hiện chỉ còn đang sống ngoắc ngoải. Mặt khác, người ta dùng để gọi những tên lang băm xã hội đủ các cỡ, chúng hứa sẽ không làm hại gì đến nhà tư bản và lợi nhuận của họ, mà vẫn chữa khỏi mọi tệ nạn xã hội bằng đủ mọi biện pháp vá víu". Năm 1890, trong một bài viết khác, Engels lặp lại gần như nguyên văn đoạn vừa kể trên và nói thêm: "Trong cả hai trường hợp, họ đều là những kẻ sống ngoài phong trào công nhân và thật ra họ chỉ đi tìm chỗ dựa ở phía các giai cấp "có văn hóa"”, và "Năm 1847, chủ nghĩa xã hội có nghĩa là một phong trào tư sản, còn chủ nghĩa cộng sản là một phong trào công nhân. Chủ nghĩa xã hội đã "ra mắt thiên hạ" rồi, ít ra là ở trên lục địa, còn chủ nghĩa cộng sản thì trái hẳn lại".

Vì sao hai ông lấy từ cộng sản để đặt tên cho Tuyên ngôn đảng cộng sản? Engels cho biết, "có một bộ phận công nhân tự mệnh danh là những người cộng sản". Ông cho rằng "Đó là một chủ nghĩa cộng sản mới phát họa ra, hoàn toàn bản năng, đôi khi còn thô kệch, nhưng nó cho thấy được cái căn bản và tỏ ra mạnh mẽ…".

Như vậy năm 1848, Marx và Engels không dùng từ chủ nghĩa xã hội để đặt tên cho Tuyên ngôn là vì nó hàm chứa nội dung không thích hợp, không được số đông công nhân lao động tin theo. Từ cộng sản chỉ do một bộ phận tự xưng, chưa được phổ biến rộng rãi, nhưng không có tì vết hoen ố. Ngày nay, từ chủ nghĩa xã hội và cả từ cộng sản đều hàm chứa nội dung không thích hợp, cả hai từ này đều đã bị hoen ố nhiều lần: Cả nhân dân Liên Xô và nhân dân các nước Đông Âu vùng lên xóa bỏ nó. Ở nước ta, đúng như ông Dương Phú Hiệp nhận định, chủ nghĩa xã hội gợi lên những cuộc đấu tố trong cải cách ruộng đất, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong vụ Nhân văn, Giai phẩm, những vụ án xử tù Vua lốp ngoài Bắc, bà Tuyết Minh trong Nam. Nó khiến cho hằng triệu người Việt vượt biển rời bỏ Tổ Quốc! Có những người chủ trương tìm cho chủ nghĩa xã hội một nội dung mới để cố duy trì nó, nhưng hằng chục năm vẫn chưa thể tìm ra! Tuy nhiên, mỗi từ ngữ khi ra đời đều mang khái niệm mà nó đã hàm chứa nội dung miêu tả cuộc sống của thời ấy, không thể hồi sinh nó bằng cách đánh tráo một khái niệm khác!

Nội dung lớn của Tuyên ngôn cộng sản do hai bộ óc vĩ đại viết cũng không phải có thể thích hợp với mọi thời đại. Ngay từ năm 1872, trong Lời nói đầu cho bản Tuyên ngôn tiếng Đức, Marx và Engels đã viết "Chính ngay Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đó không nên quá câu nệ những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối Chương II. Đoạn này, nếu ngày nay viết lại thì về nhiều mặt cũng phải viết lại khác đi. Vì đại công nghiệp đã có những tiến bộ hết sức lớn trong hai mươi lăm năm qua và giai cấp công nhân cũng đạt được những tiến bộ song song…". Ở Chương IV, hai ông cũng cho rằng "trong chi tiết, những nhận định ấy đã cũ rồi, vì tình hình chính trị đã hoàn toàn thay đổi".

Năm 1890, kể lại chuyện chuẩn bị cho việc thành lập Hội Liên hiệp Lao động quốc tế, Engels viết: "Hội có mục đích đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân có tinh thần chiến đấu ở Âu châu và Mỹ châu thành một đạo quân to lớn duy nhất. Cho nên Hội không thể xuất phát trực tiếp từ những nguyên lý trong bản Tuyên ngôn cộng sản được. (Bởi vì) Hội cần phải có một Cương lĩnh không đóng cửa đối với những Hội Công liên ở Anh, đối với phái Pierre Joseph Proudhon ở Pháp, Bỉ, Ý và Tây Ban Nha và đối với cả phái F. Lassalle ở Đức nữa. Cương lĩnh ấy – tức là lời nói đầu trong Điều lệ của Quốc tế – là do Marx thảo ra với một biệt tài mà ngay cả Bacunin và những người vô chính phủ cũng phải khâm phục".

Qua những câu chuyện kể trên, chúng ta thấy Marx và Engels coi trọng thực tiễn và lòng người biết chừng nào trong việc soạn thảo các bản Tuyên ngôn và Cương lĩnh. Dù vậy, các ông vẫn cho rằng mỗi bước tiến của thực tế còn hơn một tá Cương lĩnh. Ngày nay, chúng ta những kẻ hậu sinh hơn 150 năm, sao vẫn muốn nhìn thế giới vừa mới xảy ra Cách mạng năm 1917?!

Nhiều văn kiện của Đảng đều nhắc rằng phải Đổi mới toàn diện và Đổi mới chính trị phải theo kịp Đổi mới kinh tế. Tuy nhiên cho đến nay hệ thống chính trị hầu như không có gì khác trước đổi mới! Đó chính là nguyên nhân đẻ ra đủ thứ tệ nạn làm suy yếu nhà nước và mất uy tín của Đảng. Xin nhắc lại một ý kiến của Engels viết ngày 28-6-1883 cho Lời tựa bản Tuyên ngôn in bằng tiếng Đức, khi Marx vừa mất mấy tháng: "Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của Tuyên ngôn là: Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy".

Ý kiến đó giúp chúng ta nhận thức rằng, nền kinh tế thị trường lớn mạnh đang từng ngày phá bung chiếc áo "cơ cấu xã hội" đã cũ nát!

Ngày 5 -12 – 2010

Tương lai quyền lực Mỹ


Đăng bởi bvnpost on 08/12/2010

(Một cái nhìn toàn cảnh về sức mạnh khống chế và sự suy yếu của Hoa Kỳ)

Joseph S. Nye Jr.

imageForeign Affairs, Nov/Dec 2010

JOSEPH S. NYE, JR. là giáo sư đại học Harvard. Nhiều phần trong bài tiểu luận này được rút ra từ sách sắp xuất bản, Tương lai quyền lực (The Future of Power) do nhà xuất bản Public Affairs, năm 2011.

Thế kỷ 21 bắt đầu với sự phân bố không đồng đều các nguồn lực. Với năm phần trăm dân số thế giới, Hoa Kỳ tạo ra khoảng một phần tư sản lượng kinh tế thế giới, có ngân sách quốc phòng gần bằng một nửa chi phí quân sự toàn cầu, và nắm các nguồn quyền lực mềm về văn hóa và giáo dục rộng lớn nhất. Tất cả điều này vẫn còn đúng, nhưng tương lai quyền lực của Hoa Kỳ đang được tranh luận sôi nổi. Nhiều nhà quan sát thời cuộc lý giải rằng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đánh dấu bước khởi đầu cho sự xuống dốc của Hoa Kỳ. Hội đồng Tình báo Quốc gia [của chính phủ Hoa Kỳ] dự kiến rằng vào năm 2025, "Hoa Kỳ vẫn còn là siêu cường, nhưng sức mạnh khống chế của Hoa Kỳ sẽ suy giảm nhiều".

Quyền lực là khả năng đạt được những thành quả mong muốn, và các tài nguyên tạo ra quyền lực thay đổi trong những bối cảnh khác nhau. Tây Ban Nha trong thế kỷ 16 lợi dụng quyền kiểm soát các thuộc địa và vàng nén, Hoà Lan trong thế kỷ 17 hưởng được lợi thế thương mại và tài chính, Pháp trong thế kỷ 18 nhờ vào dân số đông và các đội quân hùng mạnh, và Vương quốc Anh trong thế kỷ 19 xây dựng quyền lực từ ưu thế của mình trong cuộc Cách mạng công nghiệp và lực lượng hải quân. Thế kỷ này được đánh dấu bằng một cuộc cách mạng bùng phát trong công nghệ thông tin và toàn cầu hóa, và để hiểu rõ cuộc cách mạng này, ta cần phải tránh một số cạm bẫy lý luận.

Trước hết, ta phải cảnh giác những ẩn dụ lệch lạc về một cuộc thoái hóa hữu cơ (organic decline). Các quốc gia không giống như những con người, với tuổi thọ có thể tiên đoán được. Đế quốc La Mã vẫn còn giữ được ưu thế suốt hơn ba thế kỷ sau khi kinh qua đỉnh cao quyền lực, và kể cả lúc đó họ cũng không chịu khuất phục trước sự vươn dậy của một quốc gia khác. Dù có những tiên đoán thời thượng về khả năng Trung Quốc, Ấn Độ hay Brazil có thể vượt qua Hoa Kỳ trong thập niên tới, nhưng một mối đe dọa lớn hơn có thể đến từ bọn man rợ hiện đại (modern barbarians) và các tác nhân phi nhà nước. [vụ Wikileaks gần đây là một trường hợp điển hình, ND.] Trong một thế giới dựa trên sức mạnh thông tin, sự phân tán quyền lực (power diffusion) có thể đặt ra một nguy cơ lớn hơn sự chuyển dịch quyền lực (power transition). Cứ lẽ thường, quốc gia nào có đội quân mạnh nhất thì sẽ chiến thắng, nhưng trong thời đại thông tin, quốc gia nào (hoặc tác nhân phi nhà nước nào) có thông tin hấp dẫn nhất đôi khi lại chiến thắng.

Quyền lực ngày nay được phân bố theo một mô hình giống như một ván cờ diễn ra trên ba chiều phức tạp. Ở bàn cờ cao nhất, quyền lực quân sự chủ yếu là đơn cực (unipolar), và Hoa Kỳ có khả năng giữ được địa vị siêu cường quân sự trong một thời gian khá dài. Ở bàn cờ chính giữa, quyền lực kinh tế đã trở nên đa cực trong hơn một thập niên qua, với Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc thủ các vai chính và các nước khác đang trở nên quan trọng hơn. Bàn cờ thấp nhất là lãnh vực của các quan hệ xuyên quốc gia. Nó bao gồm các tác nhân phi nhà nước đa dạng như các chủ ngân hàng chuyển ngân khoản bằng điện tử, bọn khủng bố buôn lậu vũ khí, bọn tin tặc đe dọa an ninh mạng và các thách thức như dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Trên bàn cờ thấp nhất này, quyền lực được phân tán rộng rãi và thật là vô nghĩa khi ta nói đến đơn cực, đa cực hay bá quyền.

Trong lãnh vực chính trị giữa các quốc gia, yếu tố quan trọng nhất sẽ là sự phục hồi địa của châu Á trên sân khấu thế giới. Năm 1750, châu Á đã chiếm hơn một nửa dân số thế giới và sản lượng kinh tế thế giới. Khoảng trước năm 1900, tiếp theo sau cuộc Cách mạng công nghiệp ở châu Âu và Hoa Kỳ, sản lượng kinh tế của châu Á giảm xuống còn một phần năm của thế giới. Đến năm 2050, châu Á sẽ vững bước trên con đường khôi phục lại sản lượng mà nó từng đạt được trong lịch sử. Sự vươn dậy của Trung Quốc và Ấn Độ có thể tạo ra bất ổn, nhưng đây là một vấn đề đã có tiền lệ, và lịch sử cho thấy các chính sách có thể ảnh hưởng tới thành quả.

Sự suy yếu của bá quyền?

Đem sức mạnh của Hoa Kỳ ra ví với sức mạnh của Vương quốc Anh một thế kỷ trước để rồi tiên đoán một sự suy tàn bá quyền tương tự là cách nói thời thượng hiện nay. Một số người Mỹ đang phản ứng đầy cảm tính trước ý niệm về một sự xuống dốc của đất nước mình. Nhưng nếu tin rằng Hoa Kỳ sẽ mãi mãi sở đắc vượt trỗi các nguồn lực, thì đó là một quan điểm vừa phi lý vừa phi lịch sử. Từ "suy yếu" (decline) làm lẫn lộn hai ý niệm khác nhau: suy yếu tuyệt đối, theo nghĩa tan rã (decay), và suy yếu tương đối, theo nghĩa là các tài nguyên tạo ra quyền lực của các nước khác tăng lên hoặc được sử dụng hiệu quả hơn.

Đem so sự suy yếu của Hoa Kỳ với sự xuống dốc của Anh là sai lầm. Vương quốc Anh đã là một siêu cường hải quân và là một đế quốc trên đó mặt trời không bao giờ lặn, nhưng trong khoảng Thế chiến thứ nhất, nước này chỉ đứng thứ tư trong các đại cường về quân số, đứng thứ tư về GDP, và thứ ba về chi tiêu quốc phòng. Với sự vùng lên của chủ nghĩa dân tộc, việc bảo vệ một đế quốc rộng lớn đã trở thành một gánh nặng hơn là một sản nghiệp. Dù người ta có nói về một đế quốc Mỹ chăng nữa, Hoa Kỳ vẫn có nhiều tự do hành động hơn Vương quốc Anh trước đây. Và trong khi Anh phải đối phó với các nước láng giềng đang trổi dậy, đó là Đức và Nga, thì Hoa Kỳ có lợi thế được hai đại dương bao bọc và những nước láng giềng yếu kém hơn.

Dù có những khác biệt như vậy, người Mỹ vẫn trải qua những chu kỳ trong đó họ đã tin rằng sự xuống dốc của Hoa Kỳ đã gần kề. Những vị cha già lập quốc (the Founding Fathers) đã từng lo lắng vì những đặc tính tương đồng với cộng hòa La Mã. Một thế kỷ rưỡi về trước, Charles Dickens đã nhận xét: “Nếu lời của từng cá nhân người Mỹ đáng để cho ta tin, thì Hoa Kỳ luôn luôn bị trầm cảm, luôn luôn bế tắc, luôn luôn ở trong một cuộc khủng hoảng đáng báo động, và chẳng bao giờ khác hơn”. Trong nửa thế kỷ qua, có thêm nhiều người Mỹ đã tin vào sự xuống dốc của Hoa Kỳ sau khi Liên Xô phóng tàu vũ trụ Sputnik năm 1957, sau những điều chỉnh chính sách kinh tế của tổng thống Richard Nixon và các cú sốc dầu lửa trong thập niên 70 của thế kỷ trước, và sau loạt đóng cửa nhiều công nghiệp ở vùng đông và đông bắc Hoa Kỳ (the rust belt) và tình trạng thâm thủng ngân sách dưới thời Reagan. Nhưng 10 năm sau đó, người Mỹ lại tin rằng nước Mỹ là siêu cường duy nhất, và bây giờ các cuộc thăm dò lại cho biết nhiều người Mỹ nghĩ rằng Hoa Kỳ đang suy yếu trở lại.

Giới học giả than phiền việc chính quyền Washington không kiểm soát được những quốc gia như Afghanistan hay Iran. Nhưng họ đã để ánh hào quang của dĩ vãng chi phối sự đánh giá tình hình hiện nay. Sức mạnh của Hoa Kỳ không còn như trước, nhưng thực sự sức mạnh đó chẳng bao giờ vĩ đại như người ta tưởng. Sau Thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ có vũ khí hạt nhân và một ưu thế khống chế bằng sức mạnh kinh tế nhưng lại không thể ngăn cản được “sự mất” nước Trung Hoa vào tay cộng sản, không thể đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, không thể vượt qua bế tắc trong chiến tranh Triều Tiên, không thể ngăn chặn “sự mất” Miền Bắc Việt Nam, hay lật đổ chế độ Castro ở Cuba. Quyền lực được đo bằng tài nguyên hiếm khi tương đồng với quyền lực được đo bằng những thành quả mong muốn, và các chu kỳ của niềm tin tưởng cho rằng một quốc gia đang xuống dốc nói lên một sự kiện tâm lý hơn là các biến đổi thực sự trong các nguồn tài nguyên tạo ra quyền lực. Đáng tiếc là, những tin tưởng lệch lạc về sự xuống dốc này – cả trong nước và ngoài nước – có thể dẫn tới những sai lầm nguy hiểm trong chính sách.

Trung Quốc đang trổi dậy

Hơn một thập niên nay, nhiều người đã coi Trung Quốc là địch thủ có khả năng nhất để quân bình lực lượng với Hoa Kỳ hay vượt qua Hoa Kỳ. Một số người đã rút ra những tương đồng với sự thách thức mà đế chế Đức đã đặt ra cho Vương quốc Anh vào đầu thế kỷ trước. Một cuốn sách mới xuất bản (của Martin Jacques) thậm chí lấy tựa đề Khi Trung Quốc cai trị thế giới: Sự kết thúc của thế giới phương Tây và sự ra đời của một trật tự toàn cầu mới. Goldman Sachs đã tiên đoán rằng toàn bộ kinh tế Trung Quốc sẽ vượt trổi hơn toàn bộ kinh tế Hoa Kỳ vào năm 2027.

Tuy nhiên, còn lâu Trung Quốc mới có được các nguồn lực ngang hàng với Hoa Kỳ, và Trung Quốc vẫn còn đối diện với nhiều chướng ngại trên con đường phát triển. Cho dù toàn bộ GDP của Trung Quốc có vượt qua GDP của Hoa Kỳ vào năm 2030 chăng nữa, thì hai nền kinh tế, mặc dù tương đương về tầm cỡ, cũng không hề tương đương về cấu trúc. Trung Quốc vẫn còn một vùng nông thôn rộng lớn kém phát triển và còn phải bắt đầu đối diện với các vấn đề dân số do hậu quả đến chậm của chính sách một con. Chỉ có lợi tức đầu người (per capita income) mới cung cấp được một thước đo về sự tinh vi của một nền kinh tế. Cứ giả định mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc là 6 phần trăm và của Hoa Kỳ là 2 phần trăm sau năm 2030, thì mãi đến khoảng giữa thế kỷ này Trung Quốc mới ngang hàng với Hoa Kỳ về lợi tức đầu người. Nói thế khác, mức tăng trưởng kinh tế rất ấn tượng và sự gia tăng dân số của Trung Quốc có khả năng giúp kinh tế Trung Quốc qua mặt kinh tế Hoa Kỳ về tổng sản lượng trong vài thập niên tới, nhưng điều này không đồng nghĩa với một sự bình đẳng.

Ngoài ra, những đự doán về một sự tăng trưởng đều đặn là có thể sai lầm, vì tốc độ tăng trưởng thường chậm lại khi một nền kinh tế đạt được mức phát triển cao hơn. Hệ thống chính trị độc tài của Trung Quốc đã chứng tỏ một khả năng ấn tượng trong việc sử dụng quyền lực quốc gia, nhưng liệu chính phủ có duy trì được khả năng này trong trường kỳ hay không thì vẫn còn là một điều bí ẩn đối với thế giới bên ngoài và với cả giới lãnh đạo Trung Quốc. Khác hẳn với Ấn Độ, một quốc gia được khai sinh với một bản hiến pháp dân chủ, Trung Quốc vẫn chưa tìm ra đường lối để giải quyết vần đề liên quan đến những đòi hỏi tham gia chính chị của người dân (nếu không muốn nói đến vấn đề dân chủ), những đòi hỏi này thường đi theo với lợi tức đầu người đang gia tăng. Liệu Trung Quốc có thể phát triển được một công thức để quản lý giai cấp trung lưu thành thị đang trở nên đông đảo, tình trạng bất quân bình giữa các vùng, nạn nghèo đói ở nông thôn, và sự bất mãn của các dân tộc ít người là một vấn đề cần phải chờ xem.

Một số người tranh luận rằng Trung Quốc quyết thách thức địa vị của Hoa Kỳ ở châu Á và, sau cùng, ở khắp thế giới. Cho dù đây là một đánh giá chính xác về các ý định của Trung Quốc đi nữa (và với sự kiện người Trung Quốc không biết được quan điểm của các thế hệ tương lai), thì vẫn không mấy ai tin được được rằng Trung Quốc có đủ khả năng quân sự để thực hiện ý định này trong một tương lai gần. Hơn nữa, lãnh đạo Trung Quốc còn phải đương đầu với phản ứng của những nước khác và với những hạn chế được đặt ra do nhu cầu của Trung Quốc cần phải tìm thị trường và nguồn lực ở nước ngoài. Một lập trường quân sự quá hung hăng của Trung Quốc có thể dẫn đến một liên minh gồm các nước láng giềng chống lại Trung Quốc, một liên minh có thể làm suy yếu cả quyền lực cứng lẫn quyền lực mềm của Trung Quốc.

Sự trỗi dậy của quyền lực Trung Quốc tại châu Á bị cả Ấn Độ lẫn Nhật Bản (cũng như nhiều quốc gia khác) phản ứng lại, và bản thân việc này đã tạo cho Hoa Kỳ một lợi thế quyền lực quan trọng ở trong vùng. Liên minh Mỹ-Nhật và sự cải thiện quan hệ Mỹ-Ấn có nghĩa là Trung Quốc không thể trục xuất người Mỹ ra khỏi châu Á dễ dàng. Từ thế mạnh đó, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, cùng nhiều quốc gia khác, có thể đối thoại với Trung Quốc và đưa ra những quyền lợi nhằm khuyến khích Trung Quốc đóng một vai trò có trách nhiệm, đồng thời đề phòng khả năng Trung Quốc trở nên hung hăng khi thấy quyền lực của mình đủ mạnh.

Sự mục rã từ bên trong?

Một số người cho rằng Hoa Kỳ bị suy yếu vì “bành trướng đế quốc quá rộng”, nhưng cho đến nay, các sự thật diễn ra không chứng minh được lý thuyết này. Trái lại, trong nhiều thập niên qua, các chi phí quốc phòng và ngoại giao đã giảm bớt nếu xét như một tỉ lệ [phần trăm] của GDP. Tuy nhiên, Hoa Kỳ có thể suy yếu không phải vì bành trướng đế quốc quá rộng lớn, nhưng vì những bất cập nội bộ. Đế quốc La Mã bị mục nát từ bên trong, và một số nhà quan sát, vì nhận thấy tình trạng tồi tệ trong chính trị nội bội của Hoa Kỳ hiện nay, đã tiên đoán rằng Hoa Kỳ có thể mất khả năng ảnh hưởng lên các biến cố thế giới chỉ vì những tranh chấp về văn hóa, vì sự sụp đổ của các định chế chính trị và nạn đình đốn kinh tế. Người ta không thể loại trừ khả năng này, nhưng các chiều hướng của tình hình hiện nay không diễn ra rõ nét như tâm trạng u buồn của người dân cho thấy. Mặc dù Hoa Kỳ có nhiều vấn đề xã hội – và luôn luôn có vấn đề xã hội – nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy chúng luôn luôn trở nên tồi tệ theo một trình tự đường thẳng. Thậm chí một số vấn đề còn được cải thiện, như các tỉ lệ tội phạm, ly dị và thanh thiếu niên mang thai. Mặc dù có những tranh chấp văn hóa về các vấn đề như hôn nhân đồng giới tính và phá thai, nhưng các cuộc thăm dò cho thấy, nói chung, xã hội đang trở nên bao dung hơn. Xã hội dân sự sinh hoạt mạnh mẽ, và số người đi nhà thờ vẫn đông đảo, đến những 42 phần trăm. Những trận chiến văn hoá trong lịch sử Hoa Kỳ về các vấn đề như di dân, chế độ nô lệ, thuyết tiến hoá, cấm rượu, chủ nghĩa chống cộng cực đoan (McCarthyism), và các vấn đề dân quyền còn nghiêm trọng hơn các vấn đề hiện nay rất nhiều.

Một vấn đề nghiêm trọng hơn sẽ xuất hiện nếu quốc gia này bắt đầu có thái độ hướng nội và nghiêm khắc hạn chế số người nhập cư. Với mức độ di dân hiện nay, Hoa Kỳ là một trong vài quốc gia phát triển có thể tránh được nạn suy thoái dân số và duy trì được tỉ lệ so với dân số thế giới, nhưng điều này có thể thay đổi nếu thái độ bài ngoại hay những phản ứng chống lại chủ nghĩa khủng bố đưa đến việc đóng cửa biên giới. Tỉ lệ dân số sinh ở nước ngoài tại Hoa Kỳ đạt đỉnh cao của thế kỷ 20, vào năm 1910, là 14,7 phần trăm. Ngày nay, 11,7 phần trăm dân số Hoa Kỳ được sinh ra ở nước ngoài. Nhưng điều đáng nói là, vào năm 2009 có đến 50 phần trăm dân Mỹ ủng hộ việc cắt giảm số người nhập cư, nhảy lên từ con số 39 phần trăm năm 2008.

Mặc dầu một tốc độ nhập cư quá ào ạt có thể tạo ra nhiều vấn đề xã hội, nhưng qua trường kỳ, việc nhận người nhập cư lại tăng thêm quyền lực của Hoa Kỳ. Hiện nay, Hoa Kỳ là nước có dân số lớn thứ ba thế giới; 50 năm sau, rất có thể dân số Hoa Kỳ vẫn đứng thứ ba (sau Ấn Độ và Trung Quốc). Không những điều này liên quan tới sức mạnh kinh tế, nhưng trong bối cảnh hầu hết các quốc gia phát triển đều có dân số đang già nua và sẽ đối phó gánh nặng cấp dưỡng cho thế hệ già, thì việc thu nhận thêm người nhập cư lại có thể giảm bớt những gai góc trong vấn đề chính sách liên hệ. Ngoài ra, người ta thấy có một tương quan mật thiết giữ con số thị thực nhập cảnh H-1B [dành cho chuyên viên nước ngoài, ND] và số bằng sáng chế được đăng ký tại Hoa Kỳ. Năm 1998, các kỹ sư gốc Trung Hoa và Ấn Độ điều hành một phần tư số doanh nghiệp công nghệ cao tại Silicon Valley (Thung lũng điện tử), và năm 2005, tư liệu cho thấy một phần tư số hãng công nghệ mới khai trương tại Hoa Kỳ trong thập niên qua là do sự đóng góp của người di dân.

Những lợi điểm của chính sách nhập cư cũng quan trọng không kém đối với việc xây dựng quyền lực mềm của Hoa Kỳ. Được thu hút vì nhìn thấy sự thăng tiến xã hội của những người nhập cư tại Mỹ, nhiều người khác cũng muốn đến sinh sống tại Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là một tảng nam châm, và nhiều người có dự định trở thành công dân Mỹ. Nhiều người Mỹ thành công cũng có diện mạo giống như người của các nước khác. Thay vì làm suy giảm quyền lực cứng và quyền lực mềm, chính sách nhập cư tại Hoa Kỳ đã tăng cường cả hai. Khi Lý Quang Diệu của Singapore kết luận rằng Trung Quốc không thể vượt qua Hoa Kỳ để trở thành cường quốc lãnh đạo thế kỷ 21, ông ta đã dẫn chứng khả năng của Hoa Kỳ trong việc thu hút những người giỏi nhất và thông minh nhất từ những nơi khác trên thế giới và giúp họ hội nhập vào một nền văn hóa đa dạng đầy tính sáng tạo. Trung Quốc có một dân số lớn hơn, nhờ đó có thể tuyển mộ nhân tài từ trong nước, nhưng theo ông Lý Quang Diệu, cái văn hóa lấy Trung Quốc làm rốn của vũ trụ này sẽ làm cho Trung Quốc kém sáng tạo hơn Hoa Kỳ, một quốc gia thu hút nhân tài từ mọi nơi trên thế giới.

Mặt khác, một sự tê liệt trong sinh hoạt kinh tế Hoa Kỳ sẽ chấm dứt luôn sinh hoạt kinh tế toàn cầu. Nên nhớ rằng những dự báo kinh tế vĩ mô (cũng như dự báo thời tiết) là không đáng tin cậy, theo đó tiến độ tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ trong thập niên tiếp theo sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 có vẻ là chậm chạp hơn. Quĩ tiền tế quốc tế (IMF) dự kiến Hoa Kỳ có mức tăng trưởng kinh tế trung bình là 2 phần trăm vào năm 2014. Mức tăng trưởng này là thấp hơn tỉ lệ tăng trưởng trung bình trong nhiều thập niên qua nhưng suýt soát với tỉ lệ tăng trưởng trung bình trong 10 năm qua.

Trong thập niên 1980, nhiều nhà quan sát cho rằng kinh tế Hoa Kỳ đã hết năng lực và rằng Đức và Nhật Bản đang vượt qua Hoa Kỳ. Vào lúc đó, nước Mỹ có vẻ như đã mất lợi thế cạnh tranh. Ngày nay, Diễn đàn kinh tế thế giới (the World Economic Forum) đã xếp Hoa Kỳ đứng hạng tư (sau Thụy Sĩ, Thụy Điển, và Singapore) về khả năng cạnh tranh toàn cầu. (Trung Quốc, trong bản so sánh, được xếp hạng 27). Hoa Kỳ dẫn đầu nhiều khu vực phát triển mới mẻ, như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, và công nghệ nano (nanotechnology). Và cho dù những người lạc quan thường viện dẫn ưu thế của Hoa Kỳ trong việc sản xuất và sử dụng công nghệ thông tin, nhưng ngành này không phải là khu vực duy nhất tạo ra năng suất của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã có những sáng kiến nông nghiệp rất ý nghĩa, và thái độ cởi mở của Hoa Kỳ đối với tiến trình toàn cầu hóa, nếu tiến trình này còn tiếp tục, cũng sẽ đẩy mạnh năng suất cao hơn nữa. Các chuyên gia kinh tế tiên đoán rằng mức độ gia tăng năng suất của Hoa Kỳ sẽ nằm trong khoảng 1,5 đến 2,25 phần trăm trong thập niên tới.

Xét về nỗ lực đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới năm 2007, với ngân khoản 369 tỉ đôla, tiếp đến là toàn bộ châu Á (338 tỉ đôla) và Liên minh châu Âu (263 tỉ đôla). Hoa Kỳ chi tiêu 2,7 phần trăm GDP vào nghiên cứu và phát triển, gần gấp đôi tỉ lệ phần trăm GDP mà Trung Quốc đã chi tiêu (nhưng hơi ở dưới tỉ lệ 3 phần trăm GDP của Nhật Bản và Nam Hàn). Năm 2007, giới đầu tư Mỹ đăng ký khoảng 80.000 bằng sáng chế tại Hoa Kỳ, tức nhiều hơn tổng số của phần thế giới còn lại. Một số tin tức bày tỏ mối lo ngại về những những vấn đề như thuế suất đánh vào các công ty quá cao, nạn thất thoát vốn nhân lực, và số bằng sáng chế ở nước ngoài đang tăng lên, nhưng các hãng quản lý vốn kinh doanh (venture capital firms) đầu tư 70 phần trăm tiền của mình vào các công ty mới thành lập trong nước. Một nghiên cứu của Tổ chức theo dõi doanh nhân toàn cầu (Global Entrepreneurship Monitor) đã xếp Hoa Kỳ đứng trước các nước khác về cơ hội phát triển doanh nghiệp bởi vì Hoa Kỳ có một văn hoá doanh nghiệp thuận lợi, có công nghiệp vốn kinh doanh (venture capital industry) trưởng thành, quan hệ thiết thân giữa đại học và công nghiệp, và một chính sách nhập cư cởi mở.

Những quan ngại khác về tương lai kinh tế Hoa Kỳ tập trung vào nạn thâm thủng tài khoản hiện nay (mức thâm thủng hiện nay cho thấy dân Mỹ ngày càng thiếu nợ người nước ngoài) và nợ chính phủ đang gia tăng. Theo lời của sử gia Niall Ferguson: “Đây là cách các đế quốc trở nên suy yếu. Nó bắt đầu bằng sự bùng nổ nợ nần”. Không những gói cứu nguy ngân hàng và kích cầu kinh tế gần đây làm tăng thêm quốc trái của Hoa Kỳ, mà những chi phí ngày càng lên cao về y tế và các chương trình lợi ích công dân như An sinh xã hội, cùng với chi phí ngày càng lên cao của việc vay mượn và trả tiền lời, sẽ lấy mất những ngân khoản lớn trong lợi tức quốc gia tương lai. Những nhà quan sát khác thì ít báo động hơn. Họ cho rằng trường hợp Hoa Kỳ không giống như trường hợp Hy Lạp.

Phòng ngân sách quốc hội Hoa Kỳ tính rằng toàn bộ nợ chính phủ sẽ lên đến100 phần trăm GDP khoảng năm 2023. Cứ lẽ thường, nhiều nhà kinh tế bắt đầu lo lắng khi những mức nợ tại các nước giàu vượt quá 90 phần trăm GDP. Nhưng như tờ The Economist vạch ra vào tháng Sáu vừa qua, “Hoa Kỳ có hai lợi thế rất to lớn so với các nước khác, những lợi thế đã cho phép quốc gia này đối diện nợ nần tương đối bình thản: vừa sở hữu trữ kim thế giới [tức đồng đôla] vừa sở hữu thị trường tài sản có khả năng thanh toán nhất, dưới dạng thức trái phiếu của Bộ tài chính”. Và trái với những lo lắng về sự mất lòng tin vào đồng đôla, ngay trong cuộc khủng hoảng tài chính, giá trị đồng đôla lại lên cao và tiền lời của trái phiếu lại xuống thấp. Một cuộc khủng hoảng lòng tin đột xuất vẫn ít có vấn đề hơn sự kiện là một sự tăng dần trong các chi phí vay nợ có thể ảnh hưởng lên sự ổn định kinh tế lâu dài.

Chính trong ý nghĩa này, vấn đề nợ nần trở thành quan trọng, và các nghiên cứu cho thấy rằng lãi suất tăng 0,03 phần trăm cho mỗi gia tăng 1 phần trăm của tỉ số nợ-trên-GDP (debt-to-GDP ratio) qua trường kỳ. Lãi suất gia tăng có nghĩa là việc đầu tư trong khu vực tư doanh giảm thiểu và mức tăng trưởng kinh tế trở nên chậm hơn. Những hậu quả này có thể được cải thiện nhờ những chính sách đúng đắn nhưng cũng có thể trở thành xấu hơn do những chính sách tồi dở. Nợ gia tăng không nhất thiết dẫn đến sự suy yếu của Hoa Kỳ, nhưng chắc chắn nó sẽ nâng cao mức rủi ro trong trường kỳ.

Một lực lượng lao động có trình độ học vấn là một chìa khóa khác đưa đến thành công kinh tế trong thời đại thông tin. Thoạt nhìn, Hoa Kỳ có vẻ thành công trong lãnh vực này. Hoa Kỳ chi phí cho giáo dục đại học một tỉ lệ GDP gấp đôi tỉ lệ GDP mà Pháp, Đức, Nhật Bản, và Vương quốc Anh đã dành cho giáo dục đại học của họ. Bản liệt kê gồm 10 đại học đứng đầu thế giới năm 2009 của tạp chí Times Higher Education, xuất bản tại Luân Đôn, có đến 6 đại học Hoa Kỳ; và một nghiên cứu của đại học Shanghai Jiao Tong đã liệt kê 17 đại học Hoa Kỳ – không có đại học nào của Trung Quốc – vào danh sách 20 đại học hàng đầu thế giới. Người Mỹ được trao nhiều giải Nobel hơn và xuất bản nhiều bài nghiên cứu khoa học trong các tạp chí được chuyên gia cùng trình độ đánh giá (peer-reviewed journals) hơn công dân của bất cứ nước nào khác – và nhiều gấp ba lần người Trung Quốc. Những thành tựu này gia tăng cả quyền lực kinh tế lẫn quyền lực mềm của Hoa Kỳ.

Giáo dục Mỹ trong khả năng tốt nhất – được biểu hiện ở nhiều trường đại học và một số ít trường ưu tú trong hệ thống giáo dục trung học – hội đủ hoặc đặt ra tiêu chuẩn toàn cầu. Nhưng giáo dục Mỹ trong khả năng xấu nhất – được biểu hiện ở quá nhiều trường tiểu học và trung học, đặc biệt trong các khu nghèo – lại tụt hậu nghiêm trọng. Điều này có nghĩa là phẩm chất của lực lượng lao động sẽ không đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao được áp dụng trong một nền kinh tế được lèo lái bằng công nghệ thông tin. Không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy học sinh Mỹ ngày nay kém hơn ngày trước, nhưng ưu thế giáo dục của Hoa Kỳ đang bị xói mòn chỉ vì các quốc gia khác đang tiến bộ hơn bao giờ cả. Cải thiện hệ thống giáo dục quốc gia từ trường mầm non đến hết lớp 12 sẽ là một nỗ lực rất cần thiết nếu Hoa Kỳ muốn đáp ứng những tiêu chuẩn cần đến trong một nên kinh tế đặt cơ sở trên công nghệ thông tin.

Chính trị và các định chế chính trị

Bất chấp những vấn đề và những khả năng bấp bênh này, một điều gần như chắc chắn là, nếu có được những chính sách đúng đắn, kinh tế Hoa Kỳ vẫn có thể tiếp tục tạo ra quyền lực cứng cho quốc gia. Nhưng các định chế chính trị của Hoa Kỳ thì sao? Nhà báo James Fallows, qua nhiều năm sống ở Trung Quốc, khi về lại quê hương đã lo lắng về khả năng kinh tế của Hoa Kỳ thì ít, mà lo về bế tắc trong hệ thống chính trị thì nhiều. Theo quan điểm của ông: “Hoa Kỳ vẫn có đủ phương tiện để sửa đổi gần như bất cứ yếu kém nào trong cơ cấu…Đấy mới là bi kịch của Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 21: một mặt, Hoa Kỳ có một nền văn hóa sinh động, luôn luôn tự đổi mới, có sức hấp dẫn tài năng của thế giới; nhưng mặt khác là một hệ thống cai trị ngày càng trông giống như một trò đùa”. Mặc dù bế tắc chính trị trong một giai đoạn suy thoái kinh tế trông có vẻ tồi tệ, nhưng khó mà quả quyết tình hình ngày nay có tồi tệ hơn trong quá khứ hay không.

Chuyển đổi quyền lực – từ nguồn lực ra thành quả mong muốn – là một vấn đề lâu đời của nước Mỹ. Hiến pháp Hoa Kỳ dựa trên quan niệm tự do của thế kỷ 18, một quan niệm cho rằng quyền lực được kiểm soát hữu hiệu nhất bằng cách chia ra nhiều bộ phận khác nhau (phân quyền) và những bộ phận này kiểm soát và quân bình lẫn nhau. Trong chính sách đối ngoại, Hiến pháp luôn luôn khuyến khích Tổng thống và Quốc hội tranh nhau quyền kiểm soát. Các nhóm áp lực kinh tế và chủng tộc có thế lực thì tranh nhau để định nghĩa lợi ích quốc gia sao cho phù hợp với quyền lợi của nhóm mình, còn Quốc hội thì được thiết kế để chú ý đến nhóm nào đòi quyền lợi to tiếng nhất.

Một lý do khác để phải lo ngại là sự suy giảm lòng tin của dân chúng đối với các định chế chính phủ. Năm 2010, một cuộc thăm dò do Trung tâm nghiên cứu Pew tổ chức đã cho thấy rằng có đến 61 phần trăm người được phỏng vấn đã trả lời rằng Hoa Kỳ đang suy yếu, và chỉ 19 phần trăm tin tưởng chính phủ làm điều hợp lý trong hầu hết mọi trường hợp. Năm 1964, trái lại, có đến ba phần tư công chúng Hoa Kỳ nói rằng họ tin tưởng chính phủ liên bang làm điều phải trong hầu hết mọi trường hợp. Những con số này đã thay đổi phần nào qua thời gian, gia tăng sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 để rồi dần dần suy giảm trở lại.

Nước Mỹ được thành lập một phần nào dựa vào thái độ ngờ vực đối với chính phủ, và hiến pháp được thiết kế nhằm chống lại việc tập trung quyền hành. Hơn nữa, khi được hỏi, không phải về hoạt động thường ngày của chính phủ nhưng về sườn cốt cơ bản của hiến pháp, người Mỹ có thái độ rất lạc quan. Khi được hỏi nơi nào là nơi tốt đẹp nhất để sống, tuyệt đại đa số trả lời đó là Hoa Kỳ. Nếu được hỏi họ có thích hệ thống chính phủ dân chủ của họ hay không, gần như mọi người đều trả lời có. Ít ai thấy hệ thống chính trị này là mục nát, cần phải lật đổ.

Vài khí cạnh trong tâm lý dân chúng hiện nay có lẽ tiêu biểu cho sự bất mãn của họ đối với tình trạng đôi co và bế tắc trong tiến trình chính trị. So với quá khứ gần đây, chính trị đảng phái đã trở nên phân cực hơn trước, nhưng những thô bỉ của chính trị thì thì thời nào cũng có – như [những vị cha già lập quốc] John Adams, Alexander Hamilton, và Thomas Jefferson có thể chứng minh. Một phần khó khăn cho việc đánh giá không khí chính trị hiện nay là, sự tin tưởng đặt vào chính phủ đã tăng cao một cách bất thường ở thế hệ của những người từng sống qua cuộc Đại khủng hoảng kinh tế và từng giành được chiến thắng trong cuộc Đại chiến thứ hai. Nếu nhìn qua phối cảnh lâu dài của lịch sử Hoa Kỳ, thì thế hệ đó có lẽ là một hiện tượng bất thường (anomaly). Phần lớn bằng chứng nói lên sự mất tin tưởng ở chính phủ phát xuất từ phưong pháp thăm dò ý kiến hiện đại, trong đó những câu trả lời lại rất tùy thuộc vào cách đặt câu hỏi. Sự suy giảm lòng tin của người dân đối với chính phủ xuống mức thấp nhất dưới hai chính quyền Johnson và Nixon, cách nay đã bốn thập niên.

Điều này không có nghĩa là chúng ta không có vấn đề trong việc mất lòng tin ở chính phủ. Nếu dân chúng không còn muốn đóng thuế hay tuân theo pháp luật, hay nếu những thanh niên ưu tú không chịu tham gia phục vụ công ích hay công quyền thì khả năng của chính phủ sẽ bị suy yếu rất nhiều, và khi đó dân chúng lại càng bất mãn với chính phủ. Hơn nữa, một không khí nghi kỵ chính quyền có thể nảy sinh những hành động cực đoan do những phần tử bất bình thường trong xã hội, chẳng hạn vụ đặt bom đánh sập bin-đinh của chính phủ liên bang tại Oklahoma city năm 1995. Những hậu quả như thế có thể làm suy yếu cả quyền lực cứng lẫn quyền lực mềm của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, cho đến nay, những lo sợ này gần như không trở thành hiện thực. Sở thuế vụ liên bang vẫn chưa thấy có sự gia tăng nào trong việc gian lận thuế má. Có nhiều bằng chứng cho thấy, quan chức chính phủ trở nên ít tham nhũng hơn những thập niên trước, và Ngân hàng Thế giới cho Hoa Kỳ điểm số khá cao (trên 90/100) về nỗ lực “kiềm chế tham nhũng”. Việc người dân tự nguyện điền và nộp lại các mẩu kiểm tra dân số đã lên đến 67 phần trăm năm 2000 và còn cao hơn chút đỉnh vào năm 2010, đảo ngược chiều hướng suy giảm trong 30 năm liền. Các tỉ lệ đi bầu giảm từ 62 phần trăm xuống 50 phần trăm trong suốt bốn thập niên sau năm 1960, nhưng sự suy giảm đã ngừng lại ở năm 2000 và tăng lên 58 phần trăm năm 2008. Nói thế khác, thái độ của dân chúng không thay đổi một cách đầy kịch tính như các câu trả lời trong các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy.

Những biến đổi trong vốn xã hội (social capital) đã nghiêm trọng đến mức nào nếu xét đến hiệu năng của những định chế Hoa Kỳ? Nhà nghiên cứu chính trị Robert Putnam nhận xét rằng những sợi dây ràng buộc với cộng đồng (community bonds) không luôn luôn suy yếu trong thế kỷ vừa qua. Trái lại, nếu nghiên cứu kỹ chúng ta sẽ thấy rằng lịch sử Hoa Kỳ là một lịch sử có những thăng trầm trong nỗ lực tham gia cộng đồng của người dân. Theo Pew Partnership for Civic Change, một nhóm nghiên cứu và tư vấn các tổ chức cộng đồng, ba phần tư dân Mỹ cảm thấy có liên hệ với cộng đồng của mình và cho rằng phẩm chất cuộc sống ở đó là tuyệt vời hay tốt đẹp (excellent or good). Một cuộc thăm dò khác của nhóm này cho biết rằng có đến 111 triệu người Mỹ đã tự nguyện đóng góp thì giờ để giúp giải quyết các vấn đề cộng đồng trong 12 tháng vừa qua và có đến 60 triệu người làm việc tình nguyện một cách thường xuyên. Bốn mươi phần trăm cho biết sinh hoạt cùng với người khác trong cộng đồng là việc quan trọng nhất mà họ có thể tham gia.

Trong những năm gần đây, chính trị và các định chế chính trị Hoa Kỳ đã trở nên phân cực hơn là dư luận thực sự của nhiều giới cho biết. Tình trạng này đã trở nên tồi tệ hơn do cuộc suy thoái kinh tế gần đây. Tờ The Economist nhận xét: “Hệ thống chính trị Hoa Kỳ được thiết kế để việc làm luật ở cấp liên bang trở nên khó khăn, chứ không dễ dàng… Như vậy trên cơ bản hệ thống này vẫn hoạt động; nhưng đấy không phải là lý do để bỏ qua các lãnh vực mà hệ thống này có thể được cải tổ”. Một số cải tổ quan trọng – như cần chia lại các đơn vị bầu cử để tránh các ghế chắc nịch (safe seats) trong Hạ viện hoặc thay đổi nội qui liên quan đến việc nói dông dài (filibusters) để giết chết các dự luật trong Thượng viện – sẽ không cần đến việc tu chính hiến pháp. Chúng ta phải chờ xem là liệu hệ thống chính trị Hoa Kỳ có thể tự cải tổ chính mình và đối phó với những vấn đề mô tả ở trên hay không, nhưng hệ thống chính trị này không hề đổ vỡ như một số nhà phê bình ám chỉ bằng cách so sánh với sự tan rã nội bộ của đế quốc La Mã hay các đế quốc khác.

Tranh luận về sự suy tàn

Bất cứ một đánh giá thực sự nào về quyền lực Mỹ trong những thập niên tới vẫn không có gì chắc chắn, nhưng dùng những ẩn dụ sai lầm về sự suy tàn để phân tích tình hình thì cũng chẳng có ích lợi gì. Những người tiên đoán sự suy tàn của Hoa Kỳ (declinists) cần phải được sửa sai bằng cách nhắc họ nhớ lại những đánh giá quá cường điệu từ phía Mỹ về sức mạnh quân sự của Liên Xô trong thập niên 1970 và về sức mạnh kinh tế của Nhật Bản trong thập niên 1980. Cũng sai lầm không kém là những vị tiên tri nói về một thế giới đơn cực (unipolarity) cách đây một thập niên, khi họ cho rằng Hoa Kỳ hùng mạnh đến nỗi muốn làm gì thì làm và các nước khác không còn lựa chọn nào khác hơn là phải chịu sự lãnh đạo của siêu cường này. Ngày nay, một số người lại tiên đoán chắc nịch rằng thế kỷ 21 sẽ chứng kiến Trung Quốc thay thế Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới, trong khi đó một số nhà phân tích khác lại tranh luận không kém phần tự tin rằng thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của người Mỹ. Tuy nhiên, trong thực tế, những biến cố không ai thấy trước được thường đảo lộn những tiên đoán như thế. Trước mắt chúng ta, luôn luôn có một dãy tương lai có thể xảy ra, chứ không phải chỉ một.

Còn về tương quan lực lượng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, rất nhiều điều sẽ tùy thuộc vào tình trạng bấp bênh của những thay đổi chính trị trong tương lai tại Trung Quốc. Trừ trường hợp có xáo trộn chính trị to lớn, mức độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ gia tăng quyền lực của nước này khi đối diện (vis-à-vis) với Hoa Kỳ. Việc này sẽ đưa Trung Quốc gần hơn với Hoa Kỳ về nguồn lực, nhưng không nhất thiết có nghĩa là Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ để trở thành quốc gia hùng mạnh nhất – cho dù Trung Quốc không trải qua những tổn thất chính trị nội bộ quan trọng nào. Những tiên đoán dựa vào mức tăng trưởng GDP không thôi là phiến diện, một chiều. Chúng bỏ qua những lợi thế về quân sự và quyền lực mềm của Hoa Kỳ, cũng như những bất lợi địa chính trị của Trung Quốc trong cán cân lực lượng tại châu Á.

Trong dãy tương lai có thể xảy ra, những tương lai có khả năng hơn cả là những tương lai trong đó Trung Quốc sẽ cạnh tranh ngang ngữa với Hoa Kỳ nhưng không thể qua mặt Hoa Kỳ về quyền lực nói chung trong nửa phần đầu của thế kỷ này. Nhìn lại lịch sử, nhà nghiên cứu chiến lược Anh Lawrence Freedman đã nhận xét rằng Hoa Kỳ có “hai đặc điểm khác hẳn với những cường quốc thống trị thế giới trong quá khứ: Quyền lực Mỹ dựa vào liên minh chứ không dựa vào thuộc địa và quyền lực này gắn liền với một ý thức hệ mềm dẻo…Hai đặc tính này cùng nhau cung ứng một cốt lõi gồm có các tương quan và các giá trị mà Hoa Kỳ có thể trở về để cố thủ, ngay cả sau khi đã phân tán lực luợng quá mỏng”. Và nhìn về tương lai, học giả Anne-Marie Slaughter lý luận rằng văn hóa đầy tính cởi mở và óc sáng tạo của Hoa Kỳ sẽ đặt quốc gia này ở vị trí trung tâm trong một thế giới mà các mạng lưới quan hệ quốc tế bổ sung cho, nếu không hoàn toàn thay thế, quyền lực có đẳng cấp giữa nước lớn và nước bé (hierarchical power).

Hoa Kỳ ở vào tư thế thuận lợi để hưởng sự hợp tác của các mạng lưới quan hệ quốc tế và các liên minh, nếu cường quốc này chịu theo đuổi những chiến lược khôn khéo. Trong bối cảnh Nhật Bản đang lo ngại về sự trổi dậy của Trung Quốc, Nhật Bản muốn tìm hậu thuẫn của Hoa Kỳ để duy trì nền độc lập hơn là liên minh với Trung Quốc. Điều này tăng cường thế đứng của Hoa Kỳ. Trừ phi người Mỹ có hành động ngu xuẩn đối với Nhật Bản, một liên minh châu Á không phải là một trường hợp có thể xảy ra nhằm trục xuất Hoa Kỳ. Điều quan trọng là, cả hai thực thể có lợi tức đầu người và nền kinh tế tinh vi tương tự như Hoa Kỳ – Liên minh châu Âu và Nhật Bản – là đồng minh của Hoa Kỳ. Theo ý nghĩa thực tế truyền thống về tương quan lực lượng, sự liên minh này rất quan trọng cho địa vị thực sự của Hoa Kỳ. Và trên quan điểm quyền lực mọi bên đều có lợi (positive-sum view of power) – tức quan niệm nắm giữ quyền lực cùng với các nước khác, chứ không phải để khống chế họ – châu Âu và Nhật Bản sẽ cung ứng những nguồn tài nguyên to lớn nhất để đối phó với những vấn đề xuyên quốc gia thường xảy ra. Mặc dù lợi ích của những nước này không đồng nhất với lợi ích của Hoa Kỳ, nhưng họ cùng chia sẻ những mạng lưới xã hội và chính quyền trùng hợp với Hoa Kỳ, điều này cung ứng thêm cơ hội cho sự hợp tác.

Về vấn đề suy yếu tuyệt đối, chứ không phải tương đối, Hoa Kỳ đang đối diện những vấn đề nghiêm trọng như nợ nần, giáo dục bậc trung học, và bế tắc chính trị. Nhưng chúng chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh. Trong dãy tương lai có thể xảy ra, những tranh cãi hùng hồn vẫn nghiêng về các tương lai lạc quan hơn nghiêng về các tương lai bi quan. Nhưng trong số những tương lai bi quan này, điều có khả năng xảy ra nhất là một tương lai trong đó Hoa Kỳ phản ứng quá đà trước những vụ tấn công khủng bố bằng cách chỉ hướng về nội bộ và do đó tách mình ra khỏi ưu thế mà từ lâu Hoa Kỳ có được nhờ sự cởi mở đối với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, ngoại trừ những sai lầm chiến lược như thế, người dân Hoa Kỳ luôn luôn có giải pháp cho các vấn đề quan trọng của đất nước hôm nay. (Ví dụ, vấn đề nợ dài hạn có thể giải quyết bằng cách đưa lên kế hoạch, sau khi kinh tế đã phục hồi, các chương trình cắt giảm chi tiêu và thu thuế tiêu thụ để chi trả cho các quyền lợi của người dân). Dĩ nhiên, các giải pháp như thế cũng có thể mãi mãi nằm ngoài tầm vói. Nhưng điều quan trọng là, phải biết phân biệt những tình trạng vô vọng không tìm ra giải pháp với những tình trạng mà trên nguyên tắc có thể tìm ra giải pháp. Dẫu sao, những cải tổ do sự hợp tác lưỡng đảng trong thời Tiến bộ (the Progressive era) cách đây một thế kỷ đã đổi mới một quốc gia có vấn đề nghiêm trọng.

Một quan niệm mới

Đã đến lúc cần phải có một quan niệm mới về tương lai quyền lực của Hoa Kỳ. Mô tả sự chuyển dịch quyền lực trong thế kỷ 21 như một trường hợp cổ điển về sự suy yếu của một bá quyền là thiếu chính xác, và việc này có thể dẫn đến những ngụ ý nguy hiểm trong chính sách nếu nó khuyến khích Trung Quốc lao vào những chính sách phiêu lưu hay thúc đẩy Hoa Kỳ phản ứng quá đà vì sợ hãi. Hoa Kỳ không nằm trong tình trạng suy yếu tuyệt đối, nhưng trong ý nghĩa tương đối, vẫn có sát xuất hợp lý là Hoa Kỳ sẽ còn mạnh hơn bất cứ một quốc gia nào trong nhiều thập niên sắp tới.

Đồng thời, quốc gia này chắc chắn sẽ đối diện một sự gia tăng nguồn lực của nhiều thực thể khác – gồm cả các quốc gia lẫn các tác nhân phi nhà nước. Vì tiến trình toàn cầu hóa sẽ phổ biến các khả năng công nghệ và công nghệ thông tin sẽ cho phép một số người đông đảo hơn liên lạc với nhau, văn hóa Hoa Kỳ và kinh tế Hoa Kỳ không còn khống chế toàn cầu như vào lúc bắt đầu thế kỷ này. Tuy nhiên không có chuyện Hoa Kỳ sẽ mục nát như La Mã ngày xưa, hay thậm chí bị một nước khác qua mặt, kể cả Trung Quốc.

Như vậy, vấn đề quyền lực Mỹ trong thế kỷ 21 không phải là một vấn đề về sự suy yếu, nhưng là Hoa Kỳ cần phải làm gì khi nhận thức được rằng thậm chí một quốc gia hùng mạnh nhất cũng không dễ gì đạt được các thành quả mong muốn nếu không có sự giúp đỡ của các quốc gia khác. Những thách thức ngày một gia tăng sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ cần phải sử dụng quyền lực cùng với các quốc gia khác cũng như đối với các quốc gia khác. Điều này, do đó, sẽ đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc hơn về quyền lực, quyền lực biến đổi như thế nào, và làm thế nào xây dựng các chiến lược “quyền lực thông minh” (smart power) nhằm kết hợp các nguồn lực cứng và mềm trong thời đại thông tin. Khả năng của Hoa Kỳ trong việc duy trì liên minh và kiến tạo các mạng lưới quan hệ quốc tế sẽ là một chiều hướng quan trọng của quyền lực cứng và quyền lực mềm.

Quyền lực tự nó không tốt mà cũng không xâu. Nó như ca-lô-ri trong chế độ dinh dưỡng: nhiều hơn chưa chắc là tốt hơn. Nếu một quốc gia có quá ít nguồn lực, nó không có cơ may đạt được những thành quả mong muốn. Nhưng nắm quá nhiều quyền lực (bằng cách nắm giữ các nguồn lực) lắm lúc lại chỉ giống như chịu một sự trù yểm (a curse) nếu quyền lực đó dẫn đến một sự tự tin quá đáng đến độ vạch ra những chiến lược không thích hợp. Cậu bé Đa-vít giết được tên khổng lồ Gô-li-a bởi vì sức mạnh phi thường của Gô-li-a đã khiến hắn theo đuổi một chiến lược thấp kém, điều này tiếp đó đã đưa hắn đến thất bại và cái chết. Một quan niệm quyền lực thông minh cho thế kỷ 21 không có mục đích gia tăng quyền lực đến mức tối đa hay duy trì bá quyền. Quan niệm này có mục đích tìm kiếm những đường lối kết hợp nguồn lực trong những chiến lược có thể thành công trong bối cảnh của sự phân tán quyền lực và “sự vươn dậy của phần thế giới còn lại”.

Là cường quốc mạnh nhất thế giới, Hoa Kỳ vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong các vấn đề toàn cầu, nhưng quan niệm phát xuất từ thế kỷ 20 về một thế kỷ Mỹ hay bá quyền Mỹ – cũng như những quan niệm về sự suy yếu của Mỹ – là sai lầm khi quan niệm đó được sử dụng như như một cẩm nang để tìm kiếm loại chiến lược cần thiết trong thế kỷ 21. Những thập niên sắp tới chắc chưa chứng kiến một thế giới hậu-Hoa Kỳ, nhưng Hoa Kỳ sẽ cần một chiến lược thông minh để kết hợp nguồn lực cứng và nguồn lực mềm thích ứng được với bối cảnh mới của một thời đại thông tin.

J. S. N.

Túy Vân phỏng dịch từ Foreign Affairs, số tháng 11 và tháng 12 năm 2010.

Sunday, 5 December 2010

Người cha - nguyên thủ trong mắt người con - công dân -

"Với cha tôi, kể cả khi ở nhà, ông luôn thể hiện không cần danh, không cầu lợi, không ham chức quyền. Thậm chí, ông có lúc chỉ muốn nghỉ, không làm nữa. Ông khác nhiều người là ở chỗ đó!"- Ông Lê Mạnh Hà nói về người cha của mình- Đại tướng Lê Đức Anh.

LTS: Được phân công phỏng vấn Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh Lê Mạnh Hà cảm nhận về cha ông, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, nhân ngày sinh lần thứ 90 của nhân vật lịch sử này, người viết đã chọn cái cách của một phóng viên mới chân ướt chân ráo bước vào nghề. Đó là không chuẩn bị trước câu hỏi, mà chờ ông trả lời đến đâu hỏi tiếp đến đó.

Bởi, thực ra, có chuẩn bị cũng bằng thừa. Trước cuộc gặp gấp gáp này, người viết chỉ biết vị quan chức cấp sở này là một người phản đối đề án 112 đến cùng, cũng như đánh vụ OCI tới bến. Lê Mạnh Hà đã từng công tác tại Viện Kỹ thuật Quân sự - nơi xuất thân của những "quái thủ" trong lĩnh vực của mình như Nguyễn Quang A, hay ông chủ của "Viết Tân Studio" -, cũng như ông nằm trong danh sách những vị quan chức đã từng học ở Mỹ. Tất nhiên, không kể tới tấm hình của ông trên Internet.

"Thánh Nhân đãi kẻ khù khờ!", Câu chuyện hóa ra cởi mở và thú vị đến bất ngờ. Và, thú vị hơn, vị quan chức phụ trách báo chí của Sài Gòn đã giữ đúng lời hứa: Sau khi xem lại bản thảo bài trò chuyện, ông chỉ chỉnh sửa đôi chút cho chính xác, chứ không cắt gọt, hay viết lại, như trong không ít trường hợp khác.

Gặp gỡ và Đối thoại tuần này là cuộc trò chuyện thú vị giữa nhà báo Huỳnh Phan và ông Lê Mạnh Hà, con trai đại tướng Lê Đức Anh.

"Điều lớn nhất tôi học ở ông là thấy đúng là phải làm và làm đến cùng. Chuẩn bị kỹ càng mọi kế hoạch, phương án, để phải đạt tới mục tiêu cuối cùng" - ông Lê Mạnh Hà nói về ảnh hưởng của cha đối với cá nhân ông.

Cha tôi dạy: Thấy đúng làm đến cùng, không ham danh lợi

Một năm anh gặp cha mình mấy lần?

Ông Lê Mạnh Hà: Gặp ông ở Hà Nội cũng tùy thuộc vào số lần ra đó công tác của tôi, lần nào tôi cũng về chỗ ông ở. Còn ở đây thì một năm có mấy lần ông vào, thường ở cả tháng. Thời gian đó trưa nào tôi cũng về nhà ăn cơm với ông.

Ông đi tránh rét?

Không, tôi thấy mùa rét ông ở ngoài đó nhiều hơn. Thường ông vào đây là tùy theo công việc. Lần ông vào gần đây nhất là cách đây độ gần hai tuần, trong khoảng hai - ba tuần gì đó.

Câu chuyện giữa hai cha con anh thường về đề tài gì? Xin anh cho biết, nếu không phải là bí mật.

Chuyện riêng thì về con cái, gia đình. Rất ít nói chuyện về công việc.

Có bao giờ ông hỏi anh là đến bây giờ anh mới ở vị trí một giám đốc sở hay không? Trong khi con cái những người khác đã ở vị trí nọ vị trí kia rồi.

Không bao giờ. Chắc chắn không bao giờ.

Với cha tôi, kể cả khi ở nhà, ông luôn thể hiện không cần danh, không cầu lợi, không ham chức quyền. Thậm chí, ông có lúc chỉ muốn nghỉ, không làm nữa. Ông khác nhiều người là ở chỗ đó. Nói chung, con người ta bên ngoài có thể tỏ ra là họ không đến danh, đến lợi, nhưng về nhà khó giấu được người trong gia đình.

Đối với bản thân đã như vậy, nên không thể có chuyện ông dùng ảnh hưởng của cá nhân để đặt con cái ở vị trí nào đó. Cho nên, ông chẳng bao giờ bảo tôi rằng bước đi của tôi là chậm hay là mau, mà yêu cầu tôi làm việc cho thật tốt ở từng vị trí công tác.

Có bao giờ ông hỏi anh về những khó khăn trong công việc, hoặc anh có cần ông giúp gì không?

Ông có hỏi về công việc, nhưng hỏi để giúp cho những công việc, những khó khăn cụ thể thì không. Tôi cũng không bao giờ hỏi công việc cụ thể phải giải quyết thế nào. Tôi đều tự giải quyết các công việc của mình.

Như tôi chẳng hạn, qua những câu chuyện mà cha tôi, một nhân viên ngoại giao, một giảng viên trường ngoại giao, rồi một chuyên gia tiếng Anh, kể cho tôi lúc tôi còn nhỏ, hoặc trao đổi với tôi từ khi tôi trưởng thành, đã giúp tôi khá nhiều kinh nghiệm, kiến thức, và đặc biệt là lối tư duy, khi tôi hành nghề phóng viên.

Trong trường hợp anh thì như thế nào?

Những chuyện cụ thể cũng giúp tôi học nhiều điều. Nhưng có lẽ, tôi thụ hưởng từ ông về tính cách. Chẳng hạn, điều lớn nhất tôi học ở ông là thấy đúng là phải làm và làm đến cùng. Chuẩn bị kỹ càng mọi kế hoạch, phương án, để phải đạt tới mục tiêu cuối cùng. Luôn đối thoại, có thể nhân nhượng, nhưng không từ bỏ nguyên tắc.

Ý anh muốn nhắc tới vụ anh chống lại việc triển khai đề án 112 ở thành phố Hồ Chí Minh?

Đúng. Thậm chí, bây giờ có việc còn khó hơn 112. Nhưng tôi vẫn hạ quyết tâm làm tới cùng.

Vụ nào vậy?

Chắc mọi người đều biết, đó là cuộc đấu tranh để loại bỏ các trò chơi trực tuyến bạo lực. Khó hơn nhiều, đụng tới cao hơn vì họ hưởng lợi từ những trò chơi này rất lớn.

Tôi cảm nhận rất rõ thách thức này, nên có lúc đã nói với anh em trong sở là nếu thắng được trận này với cái giá phải nghỉ, tôi cũng vui vẻ chấp nhận. Bởi tôi thấy đó là chuyện xứng đáng để làm, và xứng đáng để trả giá.

Tự lập vì "muốn dựa cũng không được"

Tôi muốn hỏi anh một điều hết sức bình thường: Khi anh muốn làm thành công một việc gì đó mà bản thân anh thấy rất khó, tự nhiên anh phải tìm kiếm thêm những sự ủng hộ, nhất là từ những người mà tiếng nói có trọng lượng.

Vậy, tại sao anh lại không sử dụng cái tiềm năng mà anh có sẵn, khi là con của một nhân vật được coi là vẫn có tầm ảnh hưởng, để làm việc này cho dễ dàng hơn, đỡ phải trả giá hơn?

Có thể cái đó là cái nhược điểm cố hữu của tôi. Tôi thường không tận dụng các mối quan hệ cá nhân để làm việc chung. Tôi chỉ nghĩ mọi người sẽ ủng hộ tôi, nếu họ thấy việc tôi đang làm là đúng.

Chẳng hạn, việc đấu tranh với trò chơi trực tuyến bạo lực, thấy đây là việc làm đúng, cả hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân lẫn dư luận xã hội ở thành phố đều rất ủng hộ tôi.

"Cha tôi không bao giờ dùng ảnh hưởng cá nhân để hỗ trợ cho con cái. Bản thân mấy chị em chúng tôi không bao giờ dựa dẫm và cũng rất biết rằng có muốn dựa cũng chẳng được"

Cái mà anh gọi là "nhược điểm cố hữu" này xuất phát từ đâu?

Tôi nghĩ đó là văn hóa gia đình tôi, từng người rất tự lập và độc lập. Như đã nói ở trên, cha tôi không bao giờ dùng ảnh hưởng cá nhân để hỗ trợ cho con cái. Bản thân mấy chị em chúng tôi không bao giờ dựa dẫm và cũng rất biết rằng có muốn dựa cũng chẳng được. Vậy tốt nhất là dựa vào bản thân. (Cười).

Vậy trong đời anh, nhất là thời còn nhỏ, có một chuyện đáng nhớ nào đó để anh đi tới kết luận là "có muốn dựa cũng không dựa được" không? Chẳng hạn, có lần nào anh cầu cứu ông và ông đã từ chối không?

Không, chưa có một bài học đáng nhớ nào như anh vừa giả định. Mà nó là văn hóa, là truyền thống gia đình rồi. Tôi rất khó giải thích, nhưng tôi cảm nhận rất rõ ràng điều đó.

Còn chuyện ông biết đâu có thể chủ động làm điều gì đó thì tôi không biết. Thông thường con của các vị lãnh đạo có điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều người. Riêng với tôi, thuận lợi cũng nhiều mà thử thách cũng không ít.

Nhưng anh có thực sự cho rằng anh sẽ phải trả giá không? Cha anh có nói rằng đã quyết tâm làm thì cũng phải có quyết tâm ráng chịu không?

Ông không nói ra, nhưng tôi hiểu là như vậy. Ông không bao giờ bảo tôi cứ yên tâm mà làm đi, vì có ông ở đằng sau chống lưng. Ông chỉ bảo thấy đúng thì phải làm, rồi sớm muộn nhà nước và xã hội sẽ hiểu. Mà ai biết muộn là bao giờ. (Lại cười).

Anh đã từng học ở Harvard. Liệu cái tính tự lập của người Mỹ - điều mà nền giáo dục Mỹ tự hào nhất - có sự ảnh hưởng nào đó đến quá trình hình thành tính cách, và một phần nhân cách, của anh không?

Tôi nghĩ điều đó chỉ củng cố thêm cho tôi thôi. Bởi sống trong một môi trường mà hầu như mỗi người đều tự vươn lên và tự làm nên sự nghiệp của người ta (self-made) là một sự tái khẳng định rất quan trọng cho sự lựa chọn cách đi của tôi trong cuộc đời.

Vả lại, lúc tôi đi học ở Harvard, tôi đã ở cái tuổi ngoài 40, tức là khó thay đổi về tính cách.

Không "nằm im, nói khẽ", dù muốn thử thách ở vị trí khó hơn

Nhưng, anh có bao giờ anh cảm thấy hối tiếc không, khi trong một môi trường mà sự dựa dẫm nhiều khi là một yếu tố đảm bảo thành công như ở Việt Nam, không chịu dựa dẫm lại khiến anh thua thiệt hơn người khác, có khi kém anh về năng lực và phẩm cách?

Tôi vẫn nghĩ thế này, mình vẫn còn may mắn hơn rất nhiều người, bởi còn được thành phố trọng dụng. Rất nhiều người còn giỏi hơn mình mà không ai nhìn ra họ, họ thiệt thòi hơn mình nhiều, và suốt đời vô danh. Tôi thực sự thấy như vậy, không phải là tự an ủi đâu.

Cũng có những người nói với tôi thế này: "Khả năng anh như thế, anh phải ở vị trí cao hơn mới giúp ích được cho xã hội, cho nhà nước, nhiều hơn. Tại sao anh không cố gắng leo lên?"

Tôi luôn cho rằng, hãy làm thật tốt công việc của mình, từng việc cụ thể một, ở vị trí hiện tại của mình. Đấy cũng là yêu cầu của cha tôi. Mình được người khác trọng vì làm được việc tốt, chứ không phải vì cái ghế mình ngồi.

Nếu làm không làm tốt được ở vị trí đang có, vậy khi leo lên vị trí cao hơn liệu có làm tốt được hơn không? Cả cuộc đời leo được hết chức này lên chức khác, mà vẫn mờ nhạt, vô dụng, thì lên cao để làm gì?

Tất nhiên, ở nước mình còn ảnh hưởng của phong kiến, như thích làm quan, hay nể người có chức quyền, nên nhiều người thích leo cao, nhưng không dám làm. Làm ít, ít đụng chạm, thì ít mất phiếu. Hay như mọi người nói là "nằm im, thở khẽ" vào trước và sau các kỳ đại hội, các kỳ bầu cử. Như vậy, suốt đời cũng chỉ "nằm im thở khẽ" mà thôi, không giúp ích được gì cho xã hội.

Nói rất thật lòng, tôi luôn muốn thử sức ở những vị trí khó khăn hơn. Nhưng với một nguyên tắc bất di bất dịch là không bao giờ "nằm im, nói khẽ".

Những người cùng làm việc với anh, từ cấp dưới đến cấp trên, rồi bạn bè, đồng nghiệp, họ nhìn anh bằng con mắt như thế nào? Có bình thường không?

Về ứng xử và phong cách làm việc thì tôi nghĩ họ cho tôi là người hoàn toàn bình thường. Nhưng chắc vẫn có những người, trong thâm tâm, cũng nghĩ là tôi là người không bình thường. Chịu thôi, biết làm sao được.

Người ta có ngại va chạm với anh không?

Có chứ. Có những người có thể ngại tôi vì sự nóng tính, mặc dù đa số vẫn đánh giá tôi là người cởi mở và hóm hỉnh. Những người khác có thể ngại vì tính quyết tâm, không lay chuyển của tôi, một khi tôi đã thấy cần phải làm.

Tôi là người luôn biết lắng nghe, và sẵn sàng trao đổi. Tôi luôn công khai "đường bay" của mình, nên họ hoàn toàn không phải lo chuyện tôi thay đổi đột ngột, tùy hứng, hay vô nguyên tắc.

Nói cách khác, người ta biết "quĩ đạo bay" của tôi để có cách ứng xử phù hợp, tùy theo lựa chọn của từng người. Họ chỉ cần trung thực, thẳng thắn mà không cần tiếp cận theo cách thiếu minh bạch, không cần lựa lời để lấy lòng.

Anh nghĩ sự rõ ràng đó của anh có bao nhiêu phần ảnh hưởng từ cha anh, bao nhiêu phần ảnh hưởng từ môi trường nước Mỹ, nơi anh từng theo học?

Tôi nghĩ ảnh hưởng của cha tôi, hay truyền thống gia đình, cũng như tác động của môi trường học tập là có. Nhưng chủ yếu là kết quả của quá trình tự hình thành tính cách của tôi.

Thượng tôn pháp luật - điều tốt đẹp nhất tôi học được từ Mỹ

Anh đi Mỹ là theo cơ quan nào?

Lúc đó tôi là chuyên viên bình thường ở Bộ Kế hoạch - Đầu tư. Cuối năm 1996, cha tôi ngã bệnh, và đầu 1997 tôi xin chuyển từ trường Hàng Không ở Sài Gòn, nơi tôi làm một trưởng khoa, ra Hà Nội để gần ông. Một năm sau, tôi được đi học ở Harvard.

Ở mình thông tin về một con người cụ thể nào đó rất thiếu, kể cả các thông tin về giới lãnh đạo. Nếu đủ thông tin, chắc chắn sẽ có đánh giá khác về những người đang được ngợi ca, hoặc đang bị phê phán. Ảnh Ánh Hồng.
Qui trình xét tuyển thế nào?

Hoàn toàn theo qui trình của Quỹ Fulbright.

Bên đó, họ có biết anh là con của một vị cựu nguyên thủ, và lúc đó đang là cố vấn Ban chấp hành Trung ương không?

Họ không thể hiện là họ biết tôi là ai. Mặc dù, tôi nghĩ có điều gì mà họ không biết. Và điều đó làm tôi thấy thoải mái.

Anh học gì ở đó?

Tôi học về quản lý nhà nước. Khác với học ở Pháp, hay ở Việt Nam, người Mỹ không dạy cụ thể là ở vị trí nào phải làm những việc cụ thể gì về hành chính. Họ cho chúng tôi cái nền về kinh tế, về pháp luật, hay về quan hệ quốc tế... Từ đó tùy mình chọn cách xử lý, ứng xử, chứ không theo khuôn mẫu nào cả.

Ông Nguyễn Thiện Nhân, hồi còn làm Phó Chủ tịch UBND TP HCM có kể với báo giới rằng khi được chọn đi Mỹ học, ông đã có một cuộc tranh luận nảy lửa với cha mình. Bởi, theo lời ông Nhân, bác sĩ Nguyễn Thiện Thành không đồng ý với việc con mình sang học ở một nước từng là kẻ thù của Việt Nam.

Anh có gặp phải điều tương tự với cha mình không?

Khi tôi xin phép, ông đồng ý ngay. Ông còn bảo đó là một nước rất phát triển, cái gì tốt của họ mình phải cố gắng học.

Có thể hiểu chuyện này vì ông là người đóng vai trò quan trọng trong việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Nhưng, mặt khác, trên cương vị chủ tịch nước, ngoài lĩnh vực ngoại giao, ông còn phụ trách cả hai mảng quốc phòng và an ninh. Vậy ông có dặn anh phải cẩn thận, không để người Mỹ lợi dụng không?

Không hề. Chắc là vì ông tin tôi.

Cha anh dặn anh cần cố gắng học những điều tốt từ nước Mỹ, một nước rất phát triển. Vậy, những điều gì tốt nhất mà cho đến bây giờ anh thấy rằng mình đã học được từ nước Mỹ, người Mỹ?

Tinh thần thượng tôn pháp luật!

Với những gì học được ở Harvard, kể cả phương pháp tiếp cận và tư duy mới, như anh vừa đề cập, có bao giờ anh nhìn nhận lại về cha mình, với tư cách một Chủ tịch nước, hay không?

Không.

Muốn đánh giá công bằng, thông tin phải công khai, minh bạch

Cha anh, cũng như hầu hết các nhân vật có dấu ấn trong lịch sử khác, đều nhận được những sự đánh giá khác nhau, nhiều khi hoàn toàn trái chiều nhau. Anh có nghe thấy những đánh giá đó về cha mình không?

Tất nhiên là có. Thậm chí nghe rất nhiều.

Anh có bị tác động không?

Tôi coi tất cả những đánh giá, nhìn nhận đó như những nguồn dữ liệu để tham khảo nhiều hơn. Chứ khó có thể nói chúng làm thay đổi nhận thức, hay cách đánh giá, của tôi về cha mình. Tôi không bảo thủ, nhưng tôi không bị tác động đến mức thay đổi nhận thức từ trước đến nay của mình.

Hơn nữa, tôi vẫn nghĩ, khi kẻ xấu mà nói xấu mình thì không có gì đáng bận tâm cả.

Thế những người không xấu thì sao? Hay anh cho rằng những ai đánh giá không tốt về cha anh, hay về anh, đều là kẻ xấu cả?

Có những người có dụng ý xấu, nhưng tôi không cho rằng tất cả những ai đánh giá sai thì là người xấu. Thường thì người ta đánh giá không đúng khi không có đủ thông tin. Ở mình thông tin về một con người cụ thể nào đó rất thiếu, kể cả các thông tin về giới lãnh đạo. Nếu đủ thông tin, chắc chắn sẽ có đánh giá khác về những người đang được ngợi ca, hoặc đang bị phê phán.

Thiếu thông tin về các vấn đề là điểm yếu cần khắc phục. Chỉ có công khai, minh bạch và ý kiến nhiều chiều mới làm cho xã hội dân chủ và công bằng được, và không chỉ trong đánh giá. Chẳng hạn, lâu nay chúng ta hay kêu ca về sự yếu kém của công tác cán bộ. Cái đó có nguyên nhân là thông tin về một cán bộ nào đó quá ít.

Cứ nhìn tiểu sử, hoặc sơ yếu lý lịch, của những người được đề cử để bầu vào các chức vụ mà xem. Chúng ta chỉ thấy người được đề cử đã trải qua những chức vụ gì, chứ không hề biết người đó đã làm những công việc cụ thể gì, làm được bao nhiêu việc, việc nào thành công, việc nào thất bại, hoặc thậm chí việc nào mờ ám.

Vậy nhận thức của anh về cha mình như thế nào, một vị tướng chiến trường, một vị bộ trưởng quốc phòng, rồi chủ tịch nước?

Tôi nghĩ, có những nguyên tắc mà ông luôn giữ, không bao giờ từ bỏ. Nhưng ông không hề bảo thủ, như không ít người nhận xét. Những gì tôi được biết về ông qua công việc, trong tiếp xúc ở gia đình, ông là một người cấp tiến.

Thế à?

Nhiều người tưởng ông là con người đã cũ rồi, bởi ông học từ thời Pháp thuộc, làm từ thời chiến tranh, rồi thời bao cấp. Nhưng hóa ra ông tiếp thu cái mới rất nhanh. Việc ông là một trong những nhà lãnh đạo thời kỳ đổi mới là một minh chứng. Trong gia đình, với những thứ hoàn toàn mới mẻ mà chúng tôi nói, ông rất chăm chú lắng nghe, và đưa ra những nhận xét sắc sảo.

Chẳng hạn?

Khó mà đơn cử ngay được, bởi những điều đó tương đối nhiều.

Hay là ví dụ gần đây nhất vậy?

Cái này lại liên quan đến công việc tôi đang làm, như Internet chẳng hạn. Đây là lĩnh vực hoàn toàn mới đối với thế hệ trước. Trò chơi trực tuyến là một ứng dụng trên nền Internet. Khi tôi nói về trò chơi trực tuyến bạo lực với sự tàn phá không biên giới của nó qua hệ thống Internet thì ông hiểu ngay.

Như tôi đã nói với anh, không bao giờ tôi hỏi ông phải giải quyết công việc thế nào, đây hoàn toàn là việc cung cấp thông tin cho ông về lĩnh vực mới và mặt trái của nó.

Người cha - nguyên thủ trong con mắt người con - công dân

Xin hỏi thêm rằng vậy công dân Lê Mạnh Hà, với tính cách khá độc lập của mình, đánh giá thế nào về Đại tướng và Chủ tịch nước Lê Đức Anh?

Câu hỏi thật sự khó đấy. Bởi một công dân bình thường thì chắc khó có điều kiện gần gũi để biết về ông như tôi đã biết. (Bật cười thoải mái).

Nhưng một điều hết sức tự nhiên là nhiều người trong chúng ta, ở chỗ này hay chỗ khác, vẫn có thói quen bàn luận về các vị lãnh đạo của mình. Bởi, đơn giản là những quyết định của họ ít nhiều ảnh hưởng tới số phận của chúng ta. Đúng không anh?

Trong thời gian ông làm bộ trưởng quốc phòng, ngoài những việc về vấn đề chiến lược quốc phòng, hay bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, mà tôi không dám lạm bàn, có một việc ông làm mà tôi nghĩ được nhiều quân nhân đánh giá cao, nếu không nói là biết ơn.

Đó là việc chia đất cho sĩ quan quân đội, những người hầu như không có gì cả sau khi các cuộc chiến kết thúc. Cuộc sống của họ rõ ràng có sự thay đổi, bởi như các cụ vẫn nói "an cư lạc nghiệp".

Mục đích cuộc đời ông không phải là để trở thành Đại tướng, hay Chủ tịch nước!

Anh có được phân đất không?

Trước đây, tôi là thiếu tá quân đội, nên cũng được cấp đất như mọi sĩ quan khác.

Nhân nói chuyện bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, cũng có những người đặt lại vấn đề rằng lẽ ra Việt Nam nên bình thường hóa với ASEAN trước Trung Quốc. Bởi vì, có thể trong trường hợp này, có lẽ điều kiện bình thường hóa sẽ công bằng hơn với chúng ta. Anh nghĩ sao? Chắc rằng thời gian học ở bên Mỹ anh cũng có những dịp trao đổi, hay tranh luận, về câu chuyện này.

Theo tôi nghĩ nếu Việt Nam đặt vấn đề bình thường hóa quan hệ với ASEAN trước, sẽ khó hơn trong việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Tại sao? Bởi bình thường hóa quan hệ kiểu tay đôi sẽ được phía họ nghĩ là mình không liên kết với những nước khác để gây áp lực hoặc có mục đích nào đó đằng sau.

Vả lại, chúng ta nói câu chuyện này sau khoảng hai thập kỷ, dễ nói, dễ phân tích lợi hại hơn nhiều. Nhưng anh hãy tưởng tượng trong thời điểm lịch sử đó, những người lãnh đạo phải quyết nhanh và chính xác nhất có thể được. Riêng tôi, nhìn câu chuyện này sau 20 năm, tôi đánh giá không có lựa chọn nào tốt hơn. Bởi một lộ trình khác có thể sẽ làm trì hoãn quá trình mở cửa và hội nhập của Việt Nam.

Là người mặc nhiên thụ hưởng thành quả của việc bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, qua cái cơ hội mà nhiều người mơ ước là được đi học ở một trường danh giá hàng đầu thế giới như Harvard, anh đánh giá thế nào về vai trò của Chủ tịch nước Lê Đức Anh trong tiến trình này?

Tôi cho rằng rất quan trọng. Tất nhiên, lúc đó tôi không biết được đầy đủ thông tin như bây giờ. Chẳng hạn, ông đã sử dụng những con đường không ai nghĩ tới như thông qua bác sĩ Phan. Cuốn sách "Đại tướng Lê Đức Anh" đã phân tích kỹ việc này nên tôi không nhắc lại.

Tôi nghĩ ông và giới lãnh đạo mình lúc đó rất khôn khéo. Làm theo cách này chúng ta không phải nhờ vả ai, mà cũng tránh làm mất lòng một bên thứ ba nào đó.

Thế về con người xuyên suốt của ông Lê Đức Anh, từ một vị chỉ huy cấp trung ở chiến trường miền Nam, đến khi ông trở thành cố vấn, rồi nghỉ hẳn, anh đánh giá ra sao?

Tôi có thể nói ngắn gọn thế này: Mục đích cuộc đời ông không phải là để trở thành Đại tướng, hay Chủ tịch nước! Tôi nghĩ đó là một điều rất hiếm.

Tôi biết nhiều lãnh đạo có tham vọng về sự thăng tiến rất rõ. Nhưng với ông Lê Đức Anh, tôi không thấy điều đó. Ở nơi làm việc ông có thể không biểu lộ chuyện này, nhưng đến cả khi về nhà ông cũng không có chút mảy may thể hiện sự ham muốn quyền lực.

Bài này nên đọc

Bài này nên đọc, đụng đến cả Tin Lành ở Tây Nguyên.

Trục lợi nghi lễ là xúc phạm văn hóa


LTS: Trong thời gian qua, dư luận đã lên tiếng về lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên với nhiều ý kiến trái chiều đến mức, người thì coi lễ hội đâm trâu là "man rợ, cần phải loại bỏ khỏi đời sống". Nhưng cũng có người cho rằng đây là tập tục tuyền thống thể hiện yếu tố văn hóa bản địa đặc sắc cần phải lưu giữ và giới thiệu với bạn bè quốc tế. Nhằm rộng đường dư luận và đảm bảo tính khách quan, đa chiều, Tuần Việt Nam đã có cuộc trao đổi với PGS Nguyễn Văn Huy, thành viên Hội đồng Di sản quốc gia về vấn đề này.

Không có lễ hội đâm trâu, chỉ có lễ ăn trâu thôi...

- Thưa PSG, lễ hội đâm trâu đối với các tộc người Tây Nguyên thể hiện tín ngưỡng, văn hóa gì? Nói cách khác, tại sao lại có nghi lễ hiến sinh này?

- Trước hết tôi xin chia sẻ sự đồng tình với các nhà nghiên cứu Tây Nguyên là không hề có cái gọi là "lễ hội đâm trâu". Đó là một sản phẩm tạo dựng từ bên ngoài, của người Kinh và các cấp các ngành văn hóa du lịch, cũng như giới truyền thông (media). Đối với đồng bào Tây Nguyên, đó là các nghi lễ cúng Giàng, lễ bỏ mả (một nghi lễ liên quan đến tang ma), cúng bến nước, cúng rừng, trong đó có hiến sinh (đâm trâu mà người địa phương quen gọi là "ăn trâu", hoặc giết lợn, tùy quy mô của nghi lễ).

Vì vậy khi gọi "lễ hội đâm trâu" đã là một sản phẩm lai căng, biến một khía cạnh trong một chỉnh thể nghi lễ văn hóa thành một lễ hội, tức là đã rời xa nguyên gốc của văn hóa bản địa.

Bất cứ ai đã từng đọc bài viết về khóc trâu mà GS. Ngô Đức Thịnh sưu tầm được sẽ hiểu một cách thấm thía ý nghĩa của các lễ cúng Giàng, cúng bến nước, bỏ mả, cúng rừng, trong đó có đâm trâu. Bài khóc trâu nói lên tất cả ý nghĩa nhân sinh quan, triết lý sống, niềm tin vạn vật hữu linh, mối liên hệ khăng khít giữa con người và muôn vật trong văn hóa Tây Nguyên.

Người Việt khi cắt tiết gà, vịt, khi chọc tiết lợn, đều lẩm nhẩm khấn, 'Tao hóa kiếp cho mày', 'hóa sang kiếp khác nhé', đó cũng là một biểu hiện của niềm tin vào linh hồn.

- Dường như trên thực tế, lễ ăn trâu thể hiện niềm tin vạn vật hữu linh đã mất đi nhiều, bị thay thế bởi lễ hội ăn trâu phục vụ du lịch, nên khiến người xem không hiểu đúng về ý nghĩa của lễ ăn trâu?

PGS Nguyễn Văn Huy, thành viên Hội đồng Di sản quốc gia
- Về những ý nghĩa tinh thần, nhân văn và sinh thái, về sự khác biệt giữa các nghi lễ của các dân tộc, trong đó có việc ăn trâu, các chuyên gia dân tộc học, lịch sử về Tây Nguyên đã phân tích rất rõ.

Những biến chuyển lịch sử và kinh tế, xã hội, chính trị và tôn giáo trong những năm gần đây đã tác động mạnh mẽ đến cuộc sống và văn hóa truyền thống, văn hóa của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên, trong đó có nghi lễ ăn trâu. Từ khi thống nhất đất nước, chính quyền vận động từ bỏ các nền văn hóa và tín ngưỡng đa thần, theo cách gọi và hiểu thời kỳ đó vốn bị chi phối bởi tư tưởng duy vật tiến hóa đơn tuyến là những phong tục tập quán còn sót lại của thời nguyên thủy, mê tín dị đoan, lạc hậu và lãng phí, trong đó có ăn trâu và các lễ cúng liên quan đến nó.

Sau nhiều năm vận động, mà thực chất là cưỡng chế người dân buộc phải từ bỏ văn hóa của mình, hệ quả là gì? Một bộ phận người Tây Nguyên đã theo đạo Công giáo hoặc Tin lành (chứ không chỉ Tin lành). Đạo Tin lành cũng khuyên con người tiết kiệm, không uống rượu, không tin vào linh hồn, vì vậy không cúng ma, không cúng Giàng, và từ đó dẫn đến không đánh cồng chiêng (vì đánh cồng chiêng là gọi hồn lên) và không ăn trâu nữa (vì ăn trâu để cúng Giàng, cúng thần linh của núi rừng, v.v. chứ không phải đâm để mua vui).

Mặt khác vẫn có một bộ phận không nhỏ dân cư tuy không nhận đạo Tin lành nhưng cũng đã phần nào giảm bớt niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, do tác động của truyền thông đại chúng và của nếp sống hiện đại (như có giếng khoan, máy bơm có thể chủ động nguồn nước), của sự hủy hoại môi trường thiên nhiên do sức ép của di dân (không còn rừng thiêng, không còn rừng), v.v.

Không còn ý nghĩa gì cả ngoài sự giết trâu

- Theo PGS, sự biến đổi như vậy có thể coi là thuận chiều phát triển không? Do nhận thức của người dân Tây Nguyên hay do những yếu tố bên ngoài can thiệp khiến họ buộc phải biến đổi?

- Khoảng 2 thập niên trở lại đây, chính sách văn hóa có nhiều thay đổi, nhằm vào khôi phục và bảo tồn văn hóa truyền thống (vốn đã bị chính các chính sách trước đó làm cho bật gốc và được thay thế), và biến truyền thống thành một thứ hàng hóa có thể mua bán được cho nền kinh tế thông qua du lịch.

Ngoài ra, còn một ẩn ý chính trị và tôn giáo vô cùng quan trọng. Trước tốc độ nhận đạo gia tăng của người Tây Nguyên, chính quyền địa phương cảm thấy cần phải có phản ứng lại, ngăn chặn, tìm mọi cách kéo ngược lại trào lưu tinh thần và sự xuống dốc niềm tin này. Việc vận động trở lại truyền thống đồng thời cũng nhằm mục tiêu khiến người dân xa đạo, bỏ đạo. Đó là mục tiêu được tuyên bố công khai ở nhiều cấp địa phương, đại ý cần phải khôi phục lễ hội truyền thống để đồng bào không theo Tin lành.

Nhiều địa phương, dưới danh nghĩa khôi phục cái gọi là không gian nghệ thuật cồng chiêng, đã cung cấp chiêng, hỗ trợ kinh phí, ép buộc người dân phải học và đánh chiêng (có tham gia học thì mới có tiền bồi dưỡng). Nhiều người đã thẳng thừng phát biểu không muốn học đánh chiêng vì không muốn gọi hồn lên nữa (đừng bàn đến nghệ thuật âm nhạc ở đây!).

Họ thực sự không muốn nữa cũng như họ không muốn cúng bến nước nữa vì đã có nước giếng khoan, không còn tin vào ma rừng nữa vì đã không còn rừng. Trong khi địa phương lại chủ trương khôi phục bến nước vì "muốn giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống". Nhưng cán bộ văn hóa vẫn kiên trì vận động. Thế là các đội nghệ thuật cồng chiêng vẫn ra đời nhưng nhiều bộ cồng chiêng được cung cấp, bao cấp bởi kinh phí nhà nước được nhận rồi cất đi, họa hoằn mới dùng đến.

Trở lại với lễ ăn trâu. Tương tự như vậy, nhiều địa phương đã cấp kinh phí mua trâu, thậm chí các cơ quan cấp tỉnh cũng có thể tài trợ con trâu, v.v. và vận động người dân... đâm trâu trở lại. Chính người dân ở một số nơi không muốn đâm trâu nữa, vì họ không có nhu cầu làm lễ tạ ơn hay cúng Giàng, cúng thần linh nữa. Thế nhưng chính quyền vẫn cứ ép xuống, giao nhiệm vụ cho các đơn vị kết nghĩa (mà thực chất là quản lý, kiểm sát về an ninh) thúc giục thông qua các ràng buộc vật chất. Thế là lại đâm trâu.

Với những nhóm, khối cư dân vẫn tha thiết với văn hóa bản địa, vẫn duy trì niềm tin vạn vật hữu linh và tín ngưỡng đa thần, thì họ lại không được cử hành lễ cúng trước khi thực hành nghi lễ ăn trâu. Khi mở lại nghi lễ ăn trâu đầu tiên, người dân đề nghị phải được cúng cho đàng hoàng, vì đó mới chính là ý nghĩa trọng tâm, là cái hồn đích thực của sự kiện văn hóa, thì những người tổ chức lại không muốn cho cúng.

Vì các vị đại biểu có hiểu tiếng 'dân tộc' đâu, ai mà ngồi ngoài nắng chờ các cụ ngâm nga mãi các bài khóc kể ấy được, mà hội thì đông đến như vậy, loa đài ầm ĩ thế kia, ai mà nghe được một người lầm rầm khóc trâu! Thế là không cúng, chỉ còn đâm. Vì vậy nên không còn ý nghĩa gì cả ngoài sự giết trâu.

Tách việc nghi lễ ăn trâu ra khỏi bối cảnh tâm linh cộng đồng, tước đoạt tính thiêng nguyên gốc của nó, biến nó thành lễ hội, sân khấu hóa nó chỉ để mua vui, trục lợi, cũng là bất kính, cũng là xúc phạm tới văn hóa bản địa không khác nào dự một đám giỗ chỉ nhao vào ăn cỗ mà không thắp hương.

Lễ hội đâm trâu

Không thể nhân danh mình để phán xét cái khác mình

- Không ít người cho rằng, đó là sự man rợ, nhất là khi dân chúng xung quanh reo hò trước cái chết đau đớn của con vật? Nhất là với người Việt, con trâu được xem là biểu tượng muôn đời của nước Việt, của nền văn minh lúa nước, là hình ảnh tượng trưng của những cánh đồng, của làng quê...

- Đây là tư duy vị tộc (dân tộc trung tâm) và sự kiêu ngạo trong hành xử, gò ép giá trị và cảm xúc của dân tộc mình (nông nghiệp lúa nước) lên văn hóa, giá trị và tình cảm của dân tộc khác, với một không gian văn hóa hoàn toàn khác (nương rẫy, nếu có chỉ nuôi bò, lợn, muốn có trâu phải mua từ xuôi lên).

Triệt để chấm dứt mọi hoạt động của các cấp các ngành văn hóa và không văn hóa (các cơ quan cấp tỉnh kết nghĩa với từng địa phương) vận động, tài trợ cho các buôn làng tổ chức đâm trâu không ý nghĩa, không mục đích, phản truyền thống, chỉ là một tiết mục nhằm mua vui cho người Kinh, cho du lịch hay báo cáo thành tích (là đã có các hoạt động giao lưu với cộng đồng địa phương) trong các kỳ cuộc kỷ niệm các ngày lễ quốc gia.

- Người ta còn kết luận, khi con người đã độc ác với súc vật, quen với máu đổ thì sẵn sàng xin "tý tiết" đồng loại mà không thấy ghê tay. Những trẻ nhỏ lớn lên trong môi trường lễ hội đầy máu ấy dễ thành những người vô cảm trước sự đau đớn của giống nòi. Lập luận như vậy có đúng không?

- Lập luận như vậy là thiếu hiểu biết và thiếu văn hóa. Nếu để cho các em hiểu theo chiều hướng như vậy và có những cảm xúc như vậy mà không chỉnh nắn lại cho đúng hướng, tức là đã làm ngơ, khuyến khích cho các em lối tư duy vị tộc (dân tộc trung tâm). Đó mới chính là cái gốc của sự khinh miệt, kỳ thị, phân biệt đối xử với sự khác biệt, từ đó dẫn đến vô cảm, hoặc trong tình huống mâu thuẫn sẽ dẫn đến bạo lực. Cái gốc chính là thiếu hiểu biết và thiếu sự đồng cảm, hoặc thiếu sự thấu cảm, mà đặt mình vào trọng tâm, cho mình là đúng, là hơn, cảm xúc của mình chi phối mọi tình huống.

Người dân Tây Nguyên có tấm lòng nhân hậu và tình yêu thương con người, thiên nhiên và muôn vật cũng như bất cứ một dân tộc nào khác trên thế giới.

- Ở Việt Nam còn có lễ chém lợn, lễ hội chạy lợn, lễ hội chọi trâu... Liệu tính chất "đẫm máu" và bạo lực của mấy lễ hội này có thích hợp với hiện tại và trong xu thế hội nhập, khi thế giới luôn kêu gọi con người hãy sống hiền hòa, nhân bản, nền văn minh trong thế kỷ 21 tôn trọng tất cả sự sống trên trái đất?

- Tôi xin nhường lời bình luận về các nghi lễ của người Việt cho các chuyên gia nghiên cứu về người Việt. Theo tôi cho dù là nghi lễ ở bất cứ một cộng đồng nào cũng phải được nhìn nhận từ góc độ của chính người trong cộng đồng đó, không áp đặt, gán ép các ý nghĩa, giá trị, cảm xúc từ bên ngoài vào, bất luận nhân danh nào.

Tương tự như vậy, nếu không hiểu và chấp nhận được mối dây kết nối giữa linh hồn con người và hồn trâu, với vạn vật sinh linh, cây cỏ, đá, núi, v.v., với thế giới trong văn hóa bản địa Tây Nguyên, thì sẽ chỉ nhìn thấy khía cạnh bạo lực. Vì vậy cần phải hiểu như một người trong cuộc, từ đó mới có thể trân trọng văn hóa của người khác.

Tôi xin đề xuất...

- Nên chăng nếu đó là phong tục, là truyền thống của dân tộc nào thì chỉ tiến hành trong phạm vi dân tộc ấy, không quảng bá rộng rãi?

- Tôi đề nghị chúng ta nên: Bỏ từ "lễ hội" ở đằng trước (vì đó chẳng phải lễ mà cũng chẳng phải hội), đó là ngày Cúng Giàng, ngày bỏ mả. Cần phải trả lại cho những nghi lễ của cộng đồng đúng tên của nó như chủ thể văn hóa của nó sử dụng.

Chỉ cộng đồng nào thực sự muốn làm lễ cúng Giàng hoặc tiến hành lễ bỏ mả (xuất phát từ nhu cầu tự thân của họ, đối với các cộng đồng tiếp tục duy trì tín ngưỡng vạn vật hữu linh) và phải do họ tự vận động, tự tổ chức, mới nên tiến hành.

Triệt để chấm dứt mọi hoạt động của các cấp các ngành văn hóa và không văn hóa (các cơ quan cấp tỉnh kết nghĩa với từng địa phương) vận động, tài trợ cho các buôn làng tổ chức đâm trâu không ý nghĩa, không mục đích, phản truyền thống, chỉ là một tiết mục nhằm mua vui cho người Kinh, cho du lịch hay báo cáo thành tích (là đã có các hoạt động giao lưu với cộng đồng địa phương) trong các kỳ cuộc kỷ niệm các ngày lễ quốc gia.

Triệt để chấm dứt việc tổ chức 'lễ hội' đâm trâu ở các sự kiện văn hóa khu vực quy mô lớn, vì đó là sân khấu hóa văn hóa, cũng chỉ là một tiết mục được "hàng hóa hóa" để thu hút khách du lịch. Hay nói các khác là giả văn hóa mà phản tác dụng vì không những không nêu bật lên được cái đẹp và giá trị nhân văn của lễ Cúng Giàng, lễ bỏ mả trong đó có đâm trâu mà ngược lại, khuyến khích những cảm xúc vị tộc, những ác cảm, thành kiến sai lầm do công chúng không có đủ thông tin về "lễ hội".

Lại chưa được chuẩn bị đúng đắn về tâm thế (sự hiểu biết và lòng tôn trọng sự khác biệt), tương tự như nhiều bình luận trên các phương tiện truyền thông. Việc tổ chức như vậy là hoàn toàn phản văn hóa, phản giáo dục.

Tôn trọng quan niệm của người dân địa phương, trao quyền tự quyết cho người dân địa phương tự quyết định. Triệt để chống xu hướng hàng hóa hóa văn hóa: Biến văn hóa thành hàng hóa, thành sảm phẩm bán cho du lịch.

Nâng cao nhận thức của giới truyền thông (báo chí, đài, vô tuyến truyền hình, v.v.) và giới kinh doanh du lịch về Chân và Giả trong việc này. Bảo vệ văn hóa địa phương khỏi sự xâm hại của truyền thông (media) thiếu hiểu biết và thiếu tôn trọng. Nâng cao nhận thức của công chúng về tôn trọng sự đa dạng và khác biệt, bắt đầu từ nhà trường phổ thông, bậc mầm non tiểu học, những bài học đầu tiên về văn hóa địa phương mình và tôn trọng văn hóa các dân tộc.

- Xin cảm ơn PGS.