Wednesday, 11 August 2010

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN [1]

NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HỌC KHÔNG THÀNH

LÊ HOÀI NGUYÊN

I – Mấy vấn đề có tính phương pháp luận

Hiện nay còn tồn tại nhiều cách đánh giá về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm. Có người cực đoan cho rằng cốt lõi đây là vụ án chính trị phản động không dính líu gì đến văn học, mà chỉ có một số anh em văn nghệ sĩ bị lôi kéo vào (1). Người thì cho là một vụ án văn học, oan sai về văn học (2).Tât nhiên là để bảo vệ các khuynh hướng đánh giá không phải dễ dàng, mà phản bác hoàn toàn cũng cần hết sức thận trọng.

Với tất cả những gì đã xảy ra nên coi đây là một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành thì đúng hơn. Để đi tìm cách cắt nghĩa nó. Gìn giữ những gì nó đặt ra, nó để lại cho nền văn học nước nhà. Còn nếu coi là vụ án chính trị thì không cần tốn giấy mực để viết về nó trong lịch sử văn học làm gì.

Xem xét từ cốt lõi các vấn đề chủ yếu, tức là hồn cốt vụ án, tức là hình thái của nó, các điều kiện lịch sử của nó, các nhân vật của nó, các vấn đề nó đặt ra cho xã hội đều thực sự là tư tưởng và văn học.

Vài vấn đề về phương pháp luận:

- Đánh giá NVGP trong tiến trình tư tưởng Việt Nam từ 1945- 1948- 1954- 1960 cho đến 1986- và nay 2010. Tiến trình tư tưởng cách mạng VN có đặc điểm riêng, khi du nhập chủ nghĩa Mác Lênin. Trước khi ngả hẳn , thuần hóa chủ nghĩa Mao, nó có trạng thái lưỡng phân và giao tranh giữa tư tưởng dân chủ với tư tưởng cộng sản, tư tưởng toàn trị với tư tưởng pháp quyền (3).

- Các vấn đề của NVGP đặt ra đều có nguồn gốc từ các thời kỳ trước đó, NVGP xuất hiện vào lúc hội đủ điều kiện cả khách quan và chủ quan. Vì mang tính tất yếu, những gì mà NVGP chưa làm xong thì các thế hệ sau sẽ tiếp tục phải làm.

- Đánh giá bản chất của NVGP còn phải dựa trên tập quán hành xử chính trị của hệ thống XHCN, của xã hội VN trên cơ sở thể chế hiện hành. Tức là không thể tin cậy vào các lượng thông tin chính thống, vì loại thông tin đó đã bị biến dạng và thường là không phản ánh trung thực, toàn diện bối cảnh xã hội lúc đó, không phản ánh đúng bản chất các sự việc. Cần phải tiếp cận NVGP từ nhiều phía, nhiều nguồn tư liệu khác nhau trong và ngoài nước, quan trọng nhất là thông tin của những người trong cuộc.

- Xem xét vụ NVGP phải lấy việc xem xét nội dung văn học của nó, cái nội dung ấy phản ánh tình trạng văn học lúc đó thế nào, chứ không lệ thuộc vào việc nhà nước công bố nó là chống đối, tức chống đối là không có giá trị văn học. Từ trước đến nay những người viết về NVGP gần như theo quan niệm này và đã không xem xét giá trị văn học của các sáng tác.

Vậy ta có thể tạm khái quát như sau:

NVGP trước hết là một trào lưu tư tưởng, một cuộc cách mạng văn học đòi hỏi dân chủ hóa ở miền Bắc Việt Nam năm 1954- 1960 có nguồn gốc và đã xảy ra trong nội bộ Đảng CSVN, trong bộ máy Chính phủ Kháng chiến chống Pháp do Hồ Chí Minh lãnh đạo trong quá trình đi từ chủ nghĩa dân chủ tư sản đến chủ nghĩa cộng sản hình thái Mao Trạch Đông ( 1948 – 1954), bùng phát vào thời điểm đặc biệt 1955 trên các lĩnh vực triết học, tư tưởng, pháp luật, giáo dục, văn học nghệ thuật, báo chí chủ yếu trên các ấn phẩm báo Nhân Văn , Sáng Tạo, Trăm Hoa, Tự Do Diễn Đàn, Đất Mới- Chuyện Sinh Viên, Văn… và các sách dạng tạp chí Giai Phẩm Mùa Xuân, Giai Phẩm Mùa Thu, Giai phẩm Mùa Đông, Sách Tết, Vũ Trọng Phụng…do khởi xướng hầu hết là số văn nghệ sỹ, trí thứctài năng, có nhiều công lao trong kháng chiến chống Pháp, trong quân đội , bị đàn áp và xét xử công khai bằng một vụ án chính trị hoạt động gián điệp lật đổ chính quyền nhân dân với cái tên Nhân Văn- Giai Phẩm, tiếp theo là việc xử lý bằng các hình thức trừng phạt nội bộ với hàng trăm giáo sư, thày giáo, sinh viên, nhà văn, nghệ sỹ điện ảnh sân khấu, nhạc sỹ, họa sỹ, kiến trúc sư, phóng viên, xuất bản , cán bộ lãnh đạo, nhân viên một số bộ ngành, cơ quan nhà nước…

Sau khi bị đàn áp, NVGP không chết ngay lập tức, nó còn tồn tại dai dẳng trong một số sáng tác của Phùng Cung, Hoàng Cầm , Trần Dần, Lê Đạt, Hữu Loan…thậm chí cả Nguyễn Chí Thiện (4), nhóm Văn nghệ Chân đất ở Hà Nội những năm 70- 80 (5),cho đến vụ Hoàng Cầm, Hoàng Hưng bị bắt năm 1983 (6), cho đến lúc Đổi mới, trao Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh cho một số nhân vật chủ chốt của vụ NVGP 50 năm về trước. Còn mục tiêu tự do tư tưởng, tự do sáng tác, dân chủ xã hội pháp quyền, cách tân nghệ thuật mà NVGP đã đặt ra thì vẫn đang là câu hỏi cho các thế hệ người Việt Nam cho đến hôm nay…

Để có thể xem xét vụ NVGP một cách thỏa đáng không bị ràng buộc về khía cạnh vụ án chính trị, tôi chọn cách nhìn nó với tư cách là một trào lưu tư tưởng, một cuộc cách mạng văn học.

II – Các tiền đề dẫn đến vụ NVGP

1- Bối cảnh chính trị Việt Nam 1945- 1954 và những tác động của quá trình Mao hóa hệ tư tưởng phản ánh vào đời sống văn học nghệ thuật.

Phản ánh của các sử gia Việt Nam về Cách mạng Tháng Tám 1945 và giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp là một cách viết sử đơn giản, dường như chỉ lấy mục đích tường thuật các chiến thắng quân sự của chính phủ Hồ Chí Minh với nguồn sử liệu nghèo nàn, một phía, hoặc với những đánh giá không khách quan. Khác với các sử gia Việt Nam, các sử gia nước ngoài, chủ yếu là phương Tây , có nguồn tư liệu từ hai phía, nhất là hồ sơ của Pháp, Nga, Trung Quốc hồ sơ các cuộc phỏng vấn trực tiếp các cá nhân tham gia các sự kiện lịch sử, từ chỗ đứng khách quan với phương pháp tư duy phức tạp hơn họ có thể nhìn ra tiến trình lịch sử đó dưới nhiều góc độ khác nhau đặc biệt là sự vận động của hệ tư tưởng ở những người cộng sản Việt Nam đã tạo ra tình trạng phân hóa nội bộ trong giới lãnh đạo và quần chúng, tạo ra các chính sách trước sau mâu thuẫn, các màu sắc chính trị đối ngoại, các vụ án kiểu như NVGP (7)…

Có hai điểm làm cho quá trình Mao hóa hệ tư tưởng ở VN dùng dằng ở trạng thái lưỡng phân trong một thời gian dài:

- Một là trong thời điểm 1945 Việt Minh giành được chính quyền trong tương quan cùng có nhiều lực lượng quốc gia yêu nước tham gia. VM không đủ thế lực quản lý đất nước khi họ chưa có được sự công nhận, hậu thuẫn của phe XHCN, HCM vẫn còn phải tính toán con đường tồn tại trong khối Liên hiệp Pháp. Xu thế này phản ánh trong chính bản Tuyên ngôn độc lập do HCM đọc tai Ba Đình ngày 2- 9- 1945 và trong thành phần chính phủ liên hiệp sau đó. Ngay cả khi cuộc chiến toàn quốc đã nổ ra, 19- 12- 1946, VM lập một chính phủ mới hoàn toàn là của họ nhưng vẫn còn một tỷ lệ lớn là thành phần trí thức do Pháp đào tạo, đã từng cộng tác với chính phủ Trần Trọng Kim, thuộc các đảng Dân chủ và Xã hội, trong đó có các nhân sự chủ chốt của các ngành tư pháp, y tế, giáo dục, xã hội, thậm chí cả một phần công an, quân đội nữa. Phương án muốn duy trì bộ mặt khả ái của chính sách cai trị để đi theo khối Liên hiệp Pháp còn được đẩy mạnh vào các thời điểm giữa năm 1947, giữa năm 1957 khi miền Bắc VN vẫn còn hy vọng hiệp thương thống nhất đất nước(8).

- Quá trình xây dựng nhà nước VNDCCH theo hướng dân chủ bị biến dạng và bị phá vỡ bởi sự thắng lợi của CNXH châu Á ở Trung Quốc.Không phải HCM không thấy hết mặt trái của chủ nghĩa Mao nhưng do rất cần nguồn viện trợ và do Stalin không mặn mà với ông, giao hẳn trách nhiệm cho cách mạng Trung Quốc giúp đỡ cách mạng Việt Nam, ông phải mở cửa cho các cố vấn cộng sản Trung Quốc mang theo chủ nghĩa Mao xâm nhập vào đất nước. Điều này dẫn đến sự lệ thuộc của cộng sản Việt Nam vào cộng sản Trung Quốc, tạo cơ hội cho Mao áp đặt hệ tư tưởng của ông ta lên Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam (9).

Bề mặt của quá trình này thể hiện ở các mâu thuẫn trong nội bộ cộng sản Việt Nam, ở các cuộc chỉnh huấn, cải cách ruộng đất, tranh luận về văn học, luật pháp, tư pháp, ở các cuộc thanh trừng những trí thức kiên trì với tư tưởng dân chủ mới hoặc CNXH chân chính như Vũ Đình Hòe, Vũ Trọng Khánh, Nguyễn Hữu Đang. Lĩnh vực giải hóa luật pháp và NVGP là điển hình của quá trình đó.

Đối với văn nghệ do cộng sản Việt Nam lãnh đạo Trường Chinh là người đã đưa các quan điểm văn nghệ của Mao Trạch Đông vào hoạt động Văn hóa Cứu quốc từ năm 1943, kiên trì bảo vệ nó cho tới khi đổi mới, đã tạo ra rất nhiều vụ án văn nghệ khác , là nhân tố chính làm cho nền văn nghệ Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền nhưng tụt hậu so với sự phát triển chung của nhân loại.

Trong thời kỳ ban đầu Trường Chinh không thể chi phối được mọi hoạt động của VHCQ do đa số những người thực hiện là các trí thức có ảnh hưởng tư tưởng DCTS. Do điều kiện kháng chiến, VM không thể thành lập bộ máy văn hóa riêng để áp đặt đường lối của mình. Mâu thuẫn đã bộc lộ ra giữa Nguyễn Hữu Đang và Trường Chinh ngay từ lúc tổ chức Hội nghị VHCQ toàn quốc tháng 10 năm 1946 và có thể nói kết thúc bằng Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II xóa bỏ VHCQ thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam hoàn toàn theo quỹ đạo của đường lối văn nghệ Maois vào thời điểm tháng 7- 1948 (10). Từ thời diểm này sự rạn nứt trong đội ngũ văn nghệ kháng chiến càng trở nên trầm trọng hơn. Nhiều người bắt đầu bỏ về thành, số lượng nhiều hơn khi các cuộc chỉnh huấn theo kiểu Mao mở ra (11). Số này sau trở thành lực lượng nòng cốt của văn nghệ Sài Gòn : Tạ Tỵ, Mai Thảo, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ, Phạm Duy, Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh …Trong số VNS ở lại vùng kháng chiến các cuộc tranh luận về tự do sáng tác và dân chủ vẫn còn diễn ra với các ông Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Tô Ngọc Vân, Ván Cao, Sỹ Ngọc…Có khi trở thành đòn đánh nhau công khai như việc phê bình thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, tranh lập thể của Văn Cao, Tạ Tỵ…Tuy vậy trong bộ máy của Chính phủ kháng chiến HCM vẫn không có Bộ Văn hóa, Hội Văn nghệ đã phải làm thay chức năng cho bộ này cho tới tháng 2- 1955. Đa số văn nghệ sĩ trong kháng chiến đều gia nhập quân đội và thuộc quản lý của Phòng Văn nghệ quân đội với các chính sách văn nghệ được quân sự hóa dưới sự lãnh đạo của các chính ủy.

Hy vọng về một cuộc sống thoải mái hơn về vật chất và tinh thần sau khi hòa bình lập lại bị héo úa về cuộc Cải cách ruộng đất và những khó khăn trong đời sống, do cách thức quản lý xã hội như hộ khẩu, cải tạo tư sản, thương nghiệp quốc doanh…Trong văn nghệ đó là tệ lãnh đạo chính trị thô bạo, ép buộc tuyên truyền một chiều, tệ bè phái cơ hội, tác phong lãnh đạo hống hách, sáng tác đơn giản sơ lược …

2 – Bối cảnh quốc tế, cuộc cách mạng dân chủ lần thứ nhất của phe XHCN tác động đến CMDC ở Việt Nam.

Sau 1945 không phải Liên Xô đã hoàn toàn chi phối được chính quyền các nước Đông Âu. Ở một vài nước vẫn còn chính phủ DCTS. Đến đầu những năm 50 các cuộc chính biến cộng sản ở các nước này nổ ra lật đổ các chính phủ DCTS thì mới có được một hệ thống XHCN thuần nhất theo sự lãnh đạo của Liên Xô.

Cũng như ở Liên Xô toàn bộ các nước XHCN dưới sự chỉ đạo của Stalin đã bộc lộ các mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ lãnh đạo các ĐCS, giữa nhân dân, trí thức, văn nghệ sĩ với ĐCS về các vấn đề pháp quyền dân chủ… Chỉ đợi đến lúc Stalin chết thần tượng Stalin mới bị hạ bệ, bị kết tội về những tội ác đã gây ra trong thời kỳ cai trị Liên Xô bằng chế độ độc tài và các cuộc thanh trừng nội bộ đẫm máu. Trong Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 2- 1956 Tổng bí thư Khơ Rút sốp đã đọc báo cáo tổng kết thời Stalin và đề xuất chiến lược mới cho phe XHCN chung sống hòa bình cũng có nghĩa là mở ra cho các nước xã hội chủ nghĩa một thời kỳ dân chủ (12).

Không phải đợi đến khi Khơ Rút Sốp chính thức tuyên bố, ở các nước XHCN đều đã có các yếu tố đòi hỏi phải cải cách dân chủ. Nhưng tiếc rằng khi hoa dân chủ nở rộ ngọn sóng dân chủ đã làm cho các ĐCS ở đây lo sợ về nguy cơ khủng hoảng. Các phần tử bảo thủ đã tìm mọi cách làm cho những người khởi xướng, ủng hộ cải cách do dự rồi lật ngược thế cờ. Một số cuộc nổi dậy bị đàn áp, các văn nghệ sĩ cấp tiến bị xử lý, thậm chí bị kết tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân. Có thể gọi đó là Cuộc cách mạng dân chủ XHCN lần thứ nhất. Sau hai mươi năm cuộc Cách mạng dân chủ lần thứ hai đã nổ ra cũng khởi đầu từ Liên Xô với ngọn cờ Công khai- Cải tổ của Goóc Ba Chốp Tổng bí thư ĐCSLX và đã dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống XHCN .

Vậy cuộc cải cách dân chủ lần thứ nhất ở Việt Nam chính là Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm một trào lưu tư tưởng, trong đó theo truyền thống Á Đông đặc trưng cơ bản của nó là phản ứng và xử lý về ngôn từ chứ không phải là một vụ án gián điệp, một vụ bạo loạn. Tất nhiên khi yêu cầu cách mạng này đặt lên vai văn học thì từ bên trong văn học xuất hiện những yêu cầu thay đổi về hình thức để đáp ứng yêu cầu xã hội.

3- Bối cảnh văn nghệ miền Bắc 1945- 1954.

Nền văn nghệ Việt Nam vốn từ vốn từ một nền văn nghệ nho giáo bắt đầu được hiện đại hóa với chữ quốc ngữ, đỉnh cao là Thơ Mới và Tự Lực Văn Đoàn. Hai phong trào văn học này làm cho văn học Việt Nam vươn tới một nền văn học có các phương pháp sáng tác của văn học hiện đại thế giới cả về ngôn ngữ, nhân vật, thi pháp biểu hiện, chủ nghĩa cá nhân…

Nếu nói về tiến trình văn học, Cách mạng Tháng Tám 1945 đã làm gián đoạn, nếu không nói là đứt đoạn quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam. Ở đây không nói toàn bộ nền văn học mà là bộ phận văn học do những người cộng sản Việt Nam thực hiện quản lí. Các chính sách về VHVN của ĐCSVN bị ảnh hường nặng nề chủ nghĩa Mao, sau nữa là chủ nghĩa Lê nin, Stalin đã đoạn tuyệt gần như hoàn toàn với quá khứ nhất là bộ phận di sản văn nghệ quan trọng nhất, 1930- 1945, đã tuyệt đối hóa chức năng tuyên truyền, lấy quần chúng công nông binh làm mục tiêu , làm thước đo giá trị của văn nghệ, đã thủ tiêu mọi ý tưởng thể hiện nghệ thuật bằng ký hiệu nghệ thuật của người nghệ sĩ. Chính vì vậy người ta mới cường điệu việc tìm đường, nhận đường cho văn nghệ sĩ, gọi nó cuộc lột xác đau đớn, là cuộc sống mới với câu tuyên ngôn giết chết cái cũ trong con người họ.

Chính vì thế, văn nghệ kháng chiến đã đánh mất nhiều tài năng trong các cuộc chỉnh huấn, các cuộc phê bình nội bộ tâm hồn tiểu tư sản hoặc phê bình mạt sát các loại hình nghệ thuật hiện đại. Một bộ phận đáng kể trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng tự do trong đó đa số là gốc Bắc đã ly khai văn nghệ kháng chiến. Còn các văn nghệ sĩ tiền chiến thì co mình lại, hoang mang không biết viết cái gì, vẽ cái gì. Lớp văn nghệ sĩ do công nông binh sinh ra chưa thể trở thành những cây bút có tầm vóc. Nhìn vào chất lượng các Giải thưởng văn nghệ trong kháng chiến thì thấy rõ điều đó, có thể gọi là xuất sắc với vài bài thơ, một vài tiểu thuyết có phần đơn giản.

Bước sang giai đoạn hòa bình trong khi bộ máy quản lí vẫn còn đang theo quán tính cũ, thì cuộc sống đã đặt ra những vấn đề mới.

Cách mạng đã chuyển giai đoạn. Thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, ai cũng biết là một thời kỳ có nhiều biến chuyển sâu sắc triệt để hơn tất cả các thời kỳ cách mạng trước. Cuộc sống thay đổi rất nhanh và một điều làm cho nhiệm vụ của nhà văn trở nên phức tạp hơn, là công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc còn đương tiến hành, khó phân biệt trong đó cái gì đương xây dựng chưa xong, và cái gì đương đổ sụp…

Như Phong- Nhìn lại bước đường đã qua, Tuyển tập Như Phong.

Trong bối cảnh văn học riêng của miền Bắc như thế, trong bối cảnh văn học thế giới, văn học Sài Gòn đang chuyển sang các chủ nghĩa hiện đại, bối cảnh cuộc cách mạng dân chủ của toàn phe XHCN tất các văn nghệ sĩ phải đặt ra việc cách tân văn học cả nội dung và hình thức. Đặc biệt của NVGP là sứ mệnh cải cách lại do chính những trí thức, văn nghệ sĩ con đẻ của cách mạng, những người đã ở tuyến đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp khởi xướng.

Nếu cố thoát ra khỏi lối mòn, nhìn theo tiến trình phát triển văn học thế giới, có thể thấy rằng ở Việt Nam nhóm thơ Xuân Thu Nhã Tập của Nguyễn Xuân Sanh đã báo hiệu sự bế tắc của chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực phê phán để chuyển qua chủ nghĩa siêu thực. Đó không phải là dòng văn học tiêu cực mà là tích cực theo ý nghĩa nó là một cố gắng của những nhà văn đi tìm lối thoát đưa văn học Việt Nam tiến lên.

Tiếp theo mọi người còn nhớ sau trong những ngày mấp mé bờ vực chiến tranh của nước Việt Nam mới tiếp tục xuất hiện nhóm thơ Dạ Đài của Trần Dần, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch… Trong Bản Tuyên Ngôn Tượng Trưng nhóm Dạ Đài đã nói rõ thái độ phủ định văn học giai đoạn cũ và không dấu diếm ý đồ muốn tạo ra một dòng văn học mới:

Vì thế, cái thi ca cổ rích, cái thi ca tĩnh của tiền nhân ngâm vịnh, của bọn lãng mạn khóc bạn chẳng làm chúng ta quên, ví chẳng có thể đẩy đưa chúng ta theo những nhịp điệu bồng bềnh của bản thanh âm hoàn vũ.

Thế cho nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ đón về đây tất cả những thế giới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một vầng trăng phải lặn, một ánh sao phải mờ đi, một chế độ phải tàn vong và một bài thơ phải vô cùng linh động.

Trần Dần thủ lĩnh của nhóm Dạ Đài sau mười năm, ở một ngã ba, ngã tư thời đại lại đã được trời đất cho nguồn cảm hứng về một cuộc lột xác cho nền văn học.

Hẳn là Trần Dần đã mang cái khát vọng sôi sục ấy vào các trường ca Cách mạng Tháng Tám, Đi- Việt Bắc, Nhất định thắng… và lôi cuốn các người bạn cùng theo. Trong nhật ký Ghi 1954 ông viết:

Lúc tôi muốn một thứ Thơ dễ dãi. Lúc một thứ Thơ không có vần. Lúc một thứ Thơ như một hạt ngọc. Lúc một thứ Thơ kể chuyện. Lúc một thứ Thơ gồ ghề. Lúc một thứ Thơ hiền lành, có cái khỏe của những bắp thịt hồng. Lúc một thứ Thơ na ná như của anh lính, nó mát mà lành, nó hiền mà khỏe, nó thực tế. Lúc là một thứ Thơ na ná như bài nói của anh cán bộ, nó đả thông, nó giục giã, nó lý luận.

Tôi thích Thơ thời sự, theo sát cái hồi hộp, lo lắng của Đảng tôi, dân tôi, triệu triệu quả tim dân chúng và quân đội, chiến sĩ và cán bộ, lãnh tụ và quần chúng.

Tôi lại cũng thích Thơ không thời sự, Thơ bao trùm đất nước và thời gian, Thơ ăn lấn sang mọi thế kỉ, và Thơ nhập cả vào cái biện chứng bao la của sự vật.

Vì vậy bây giờ tôi muốn một thứ Thơ nào đó lấy đề tài ngay ở nhịp đập trước mắt của trái tim dân tộc Việt Nam. Nhưng trong đề tài đó tôi đào mãi đào mãi tới khi tôi tìm thấy quả tim Nhân Loại. Đó là thực sự mà cũng là ý muốn của tôi. Quả tim dân tộc tôi có nghĩa là quả tim Nhân Loại. Nhịp đập của nó là nhịp đi của Biện Chứng. Cái ngày hôm nay là dồn ép của hàng triệu năm về trước và mở ra triệu thế kỷ về sau. Tôi muốn một thứ Thơ nào đó vạch ra được sự thực đó. Hạt bụi, sợi tóc mây là cả một vũ trụ. Một khoảnh khắc là cả lịch sử của trần gian. Một thắc mắc của em là tất cả lo âu nhân loại.

Qua những dòng này không ai có thể nghĩ đó là một quan niệm suy đồi. Cách mạng đã cho Trần Dần một quan niệm thơ ca mới mẻ và rất biện chứng, rất tích cực đối với cuộc sống.

Như vậy có lẽ trước tiên NVGP đi từ cảm hứng của một cuộc cách mạng văn học, bị kích thích bởi thời cuộc Việt Nam 1954- 1956. Tuy vậy, vẫn phải nói thêm rằng nếu không có cái thời cuộc đó sẽ không có NVGP!

Trong NVGP trào lưu tư tưởng chính trị và trào lưu tư tưởng văn học gặp nhau đã tạo ra một sức mạnh xã hội to lớn làm chính quyền nhìn thấy một nguy cơ đe dọa nguy hiểm cần phải loại bỏ hơn là để nó tồn tại. Lúc ấy miền Bắc Việt Nam chưa đủ điều kiện để làm một cuộc cải cách dân chủ, một cuộc cải cách văn học.

Ba mươi năm sau, đứng trước nguy cơ khủng hoảng, ĐCSVN mới đưa ra sách lược đổi mới. Trường Chinh đã làm được việc khởi xướng đổi mới, nền kinh tế đất nước đã có ít nhiều thay đổi, nhưng những di sản văn hóa Maois mà ông ta đã áp đặt lên đất nước từ 70 năm nay dù đang hoen gỉ nhưng bộ khung thì vẫn còn tù hãm đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam.

4- Các điều kiện nảy sinh NVGP

Mặc dù chủ nghĩa Mao đã được chính thức thừa nhận trong cương lĩnh ĐCSVN tại Đại hội lần thứ II tháng 2- 1951 nhưng do các điều kiện của thời kỳ đó nội bộ lãnh đạo Đảng vẫn còn bị ràng buộc bởi các sự kiện sau:

Họ còn đang choáng váng về hậu quả của sai lầm do CCRĐ gây ra, Đảng phải công khai xin lỗi nhân dân, Tổng bí thư Trường Chinh phải từ chức, một số cán bộ lãnh đạo CCRĐ bị kỷ luật (13).

Họ còn bị ràng buộc những điều kiện để hy vọng tiếp tục quá trình hiệp thương thống nhất đất nước và giành thắng lợi trong cuộc Tổng tuyển cử cho nên phải cố gắng tạo bộ mặt sạch sẽ cho chính thể VNDCCH như tiếp tục sử dụng nhiều nhân sĩ trí thức trong Chính phủ, Quốc hội, ban hành các đạo luật có tính chất dân chủ cởi mở như Luật tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do lập hội…Cho đến giữa năm 1957 HCM vẫn còn tính đến khả năng Việt Nam xin gia nhập Khối Liên hiệp Pháp (14).

Những người cộng sản Việt Nam, tuy có mức độ khác nhau nhưng đều chịu ảnh hưởng chung của khối XHCN về quá trình dân chủ hóa đặc biệt là từ ĐCS Liên Xô và sau là ĐCS Trung Quốc. Đối với các nước XHCN lúc đó dân chủ hóa là đòi hỏi cấp bách nhưng chưa chín muồi, thế giới đang ở trạng thái chiến tranh lạnh. Vì thế dẫn đến việc hành động dân chủ hóa trong trạng thái mâu thuẫn nội bộ và ngập ngừng, dẫn đến thất bại khi bị phe bảo thủ lật lại thế cờ. Quá trình chập chờn này được phản ánh vào cách hành động nửa vời của Khơ rút sốp, quá trình giải quyết vụ Trăm hoa đua nở ở Trung Quốc và vụ NVGP ở Việt Nam. Có một vài nhận định rằng Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh dùng thủ đoạn làm cho trí thức văn nghệ sĩ mắc bẫy rồi tiêu diệt. Đó là nhận định chưa đúng về bản chất hình thái dân chủ hóa trong lòng XHCN. Đặc điểm này còn được phản ánh rõ ràng hơn với vụ hạ bệ Khơ Rút Sốp năm 1964, Trung Quốc trong vụ Thiên An Môn năm 1989 với việc hạ bệ hai Tổng bí thư ĐCSTQ có tư tưởng cải cách là Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, với vụ hạ bệ Trần Xuân Bách, Trần Độ ở Việt Nam năm 1990.

(Còn tiếp)

Nguyen Huu Dang

Những cuộc trao đổi giữa Nguyễn Hữu Đang và Heinz Schütte tại Hà Nội

11/08/2010 | 2:00 chiều | Chưa có phản hồi.

Tác giả: Heinz Schütte

Chuyên mục: Hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm
Thẻ: > > > >

tại Hà Nội những ngày 21 và 24 tháng 5, 3 và 22 tháng 6 năm 1999, 30 tháng 10 và 2 tháng 1 năm 2000, 15 tháng 10 năm 2002

TT dịch từ nguyên bản tiếng Pháp

talawas – Trong kì cuối của công trình nghiên cứu về phong trào Nhân văn – Giai phẩm của tác giả Heinz Schütte, chúng tôi đã đăng bản tiếng Pháp. Nay nhận được bản dịch của dịch giả TT, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu cùng độc giả cuộc trò chuyện quan trọng này.

______________

(Trích)

Chiều 21 tháng 5 năm 1999, ông Nguyễn Hữu Đang đã gửi lại nhà tôi ở Hà Nội lời nhắn sau:

“Ông Heinz Schütte thân mến,

Nhờ có sự sốt sắng của nhà thơ Vũ Cận mà tôi được biết ông có nhã ý muốn gặp tôi trong thời gian ông lưu lại Hà Nội. Tôi xin lập tức thưa với ông rằng tôi rất vui lòng gặp một người bạn của G. Boudarel, người mà tôi rất kính trọng. Xin ông toàn quyền sắp xếp các chi tiết của buổi gặp gỡ trừ việc chọn thời gian và địa điểm là việc hai chúng ta phải thoả thuận, có thể qua một cuộc điện đàm do ông chủ động. Xin gọi số máy 7.560.391, tốt nhất là từ 14 đến 21 giờ hàng ngày.

Xin chúc ông mọi sự tốt đẹp.

(ký tên) Nguyễn Hữu Đang”

Sau đó là nhiều cuộc gặp gỡ…

Nguyễn Hữu Đang (Ảnh: Heinz Schütte)

Nguyễn Hữu Đang: Tôi sinh ở Thái Bình năm 1913, năm con Trâu. Loài trâu bị kết án phải sống một đời bạc bẽo; làm nhiều mà hưởng rất ít… (cười to). Tôi thích mùa đông hơn mùa hè. Tôi hợp với cái rét hơn. Bùi Tín đã viết thư cho tôi, khuyến khích tôi viết hồi ký… Tôi đã viết một bản tóm tắt tiểu sử: (ông dịch từ tiếng Việt).

Tóm lược quá trình hoạt động xã hội của Nguyễn Hữu Đang. Đây là một kiểu tiểu sử, tức là bắt đầu từ 1929-1931; 1932-1936, 1937-1939, 1938-1945, 1943-1946, 1944-1945, 1946-1948-49-54, 56 Nhân văn-Giai phẩm. 1958-1973 nhà tù, 1990 phục hồi một phần, về hình thức. 1992 sinh nhật thứ 80, do bạn bè nhà văn và trí thức tổ chức – ôi, thật vĩ đại! (Ông khoe các tấm ảnh và chỉ:) Nơi ở của Phùng Quán, nhà thơ và vợ ông, Phùng Cung (?) – đây là một đôi câu đối… họ của Phùng Cung và Phùng Quán: ta gặp thời điểm hiện tại – Đương là Đang… Phùng là Phùng Cung… trong thời đương đại, Đang… trật tự mới, chúng ta đang ở trong thời hiện đại; Đang là một trang nam tử tuấn tú… Chữ của một nhà thơ tài năng quanh khung cửa. Đây là lời chúc mừng – Phùng Cung, tức là hai người tổ chức… lời mừng thọ Nguyễn Hữu Đang… ở đây Phùng Quán là người phụ tá. Đây là cây xương rồng quàng băng đỏ: xương rồng là biểu tượng của Nguyễn Hữu Đang; một cuộc sống khô khan nhưng hào hiệp. Cuối cùng, ông đọc một bài thơ ca ngợi cây xương rồng, bài thơ kết thức như sau: ‘Xương rồng, ôi xương rồng, mi có phải là xương rồng thực? hay mi là xương của một tráng sĩ trong hình dạng xương rồng?’ (cười lớn)…

Bản tóm lược này tôi sẽ chỉnh sửa đôi chút rồi cho đánh máy và gửi cho ông một bản…

… cuộc đời tôi giống như một chặng chạy đua, một chặng tiếp sức – có những chặng đua, chặng tiếp sức trong các hoạt động xã hội. Tôi đã tham dự một chặng đua tiếp sức như thế. Bây giờ, ở tuổi 86, tôi nghỉ ngơi – tôi có quyền cho mình nghỉ ngơi (ông cười).

Heinz Schütte: Gia tộc ông có truyền thống chính trị hay không?

Nguyễn Hữu Đang: Không, nhưng gia đình và mọi người xung quanh tôi ít nhiều đều có tinh thần chống Pháp. Mẹ tôi mù chữ, thất học, bà không biết đọc biết viết, nhưng nghe thấy người Pháp là bao giờ bà cũng gọi họ bằng một thành ngữ nhục mạ. Cha tôi không chống Pháp nhưng không phải là một công chức hành chính ngoan ngoãn. Ông là quan huyện nhưng không thân Pháp. Bên cạnh ông, anh tôi lại là người chống Pháp, anh tham gia cuộc bãi khoá của học sinh trường Kỹ nghệ Thực hành, bãi khoá chống tên hiệu trưởng tàn ác, đó là vào năm 1927/1928. Nhưng ngay vào thời ấy, năm 1928, đã có ông cậu (chồng bà cô ruột tôi), ông Lê Ngọc Rư là Bí thư Tỉnh uỷ Nam Định của Đảng Cộng sản. Ông đã bị chính quyền thực dân bắt vì là người lãnh đạo Đảng Cộng sản, bị kết án chung thân đầy ra Côn Đảo. Ở đó ông đã ghép một chiếc thuyền hay bè và vượt biển với Tổng Bí thư ĐCS Đông Dương Ngô Gia Tự, họ tìm cách cặp vào đất liền từ Trung Hoa, Malaysia hay Sài Gòn hay Hải Phòng cũng chẳng biết. Cả hai đã chết trên biển vì bất ngờ gặp bão.

Chính ông Lê Ngọc Rư đã đánh thức tinh thần yêu nước và cách mạng của người anh cả tôi là Nguyễn Hữu Rung, học sinh trường Kỹ nghệ Thực hành Hải Phòng. Rung tham gia bãi khoá của học sinh chống tên hiệu trưởng độc ác Camboulive (?) và bị bỏ tù một năm. Anh tôi truyền cho tôi những ý tưởng tiến bộ và cho tôi bản chép những bài thơ yêu nước rực cháy như “Chiêu hồn nước” của Phạm Tất Đắc rất nổi tiếng vào thời đó khi đã bắt đầu có những hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính.

Năm 1929, được lôi kéo bởi những sự kiện chính trị nóng bỏng, tôi tham gia, mà không hiểu chủ nghĩa Marx là gì, Hội Học sinh do Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội chỉ đạo, đây là tổ chức có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ở Trung Hoa…

Sau một năm hoạt động bí mật, tôi bị bắt bỏ tù. Năm sau, tôi bị đưa ra toà án tỉnh, nhưng nhờ còn ít tuổi (17 tuổi), tôi được hưởng biện pháp đàn áp có mức độ dành cho “các trẻ càn quấy” với án quản chế tại làng quê.

Heinz Schütte: Trong những năm 30 ông đã làm việc với Trường Chinh?

Nguyễn Hữu Đang: Tôi đã làm việc với Trường Chinh từ năm 1936, thời kỳ Mặt trận Bình dân. Tôi tham gia ban biên tập thường trực của tờ báo của Đảng với Trường Chinh và Trần Huy Liệu. Chúng tôi đã là bộ ba biên tập thường trực của tờ báo Đảng. Bộ ba Ban Biên tập thường trực tuần báo Thời nay, cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939 gồm:

Trần Huy Liệu, nhà cách mạng kỳ cựu, thoạt tiên là thành viên ban lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học, chuyển qua theo chủ nghĩa cộng sản trong ngục Côn Đảo và vẫn là người cộng sản có ảnh hưởng bên cạnh Ban Chấp hành Trung ương cho đến khi qua đời.

Trường Chinh: Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Nguyễn Hữu Đang: Cộng sản (trước khi chính thức gia nhập Đảng)

Tôi bắt đầu nghề báo từ năm 1937, vào thời kỳ phong trào Mặt trận Bình dân.

Trường Chinh sẽ trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1941, sau khi Nguyễn Ái Quốc (bí danh của Hồ Chí Minh) trở về Việt Nam.

Về mặt chính trị, tôi đi theo cách mạng không phải vì tin vào chủ nghĩa cộng sản. Trên thực tế, khi tham gia các hoạt động cách mạng bí mật, tôi hoàn toàn mù tịt về chủ nghĩa cộng sản. Tôi không biết gì về chủ nghĩa Marx, nhưng tôi tham gia các tổ chức bí mật của cộng sản. Năm 16 tuổi tôi rải mọi thứ truyền đơn cộng sản, tôi lưu hành mọi thứ báo chí cộng sản bí mật. Ngày 1/5 và ngày lễ kỷ niệm Cách mạng tháng Mười, tôi trèo lên cây, lên cột nhà đang xây để treo cờ đỏ búa liềm một cách dũng cảm, không sợ chết chóc, không sợ tù đầy. Nhưng tôi hoàn toàn mù tịt về chủ nghĩa cộng sản. Tôi tham gia cách mạng, tức là tham gia phong trào cộng sản chỉ là do tinh thần chống Pháp, lòng căm thù chủ nghĩa thực dân. 16 tuổi, mọi tổ chức chính trị tuyên bố đấu tranh chống thực dân Pháp tôi đều gia nhập, tôi sẽ gia nhập bất kỳ tổ chức nào – Đảng Cộng sản, Đảng X, Đảng Y, v.v…, bất kỳ đảng nào miễn nó là kẻ thù của của chủ nghĩa thực dân. Tôi thuộc về phe các kẻ thù của chủ nghĩa thực dân, chứ không phải phe chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản, tôi cóc biết. Chủ nghĩa Marx, tôi cóc biết. 16 tuổi, sao nhỉ – đấu tranh giai cấp, tôi cóc biết. Chuyên chính vô sản, tôi cóc biết. Không gì hết, tôi không biết gì về chủ nghĩa cộng sản. Tôi bắt đầu biết chủ nghĩa cộng sản là thế nào từ năm 1936 trong phong trào Mặt trận Bình dân, nhờ các sách báo từ bên Pháp được đưa sang tự do. Chính Mặt trận Bình dân đã tạo ra quyền uy của Đảng Cộng sản. Không có Mặt trận Bình dân, nhân dân Việt Nam sẽ hoàn toàn mù tịt về vai trò của Đảng Cộng sản. Chính nhờ Mặt trận Bình dân với việc nhập khẩu báo chí Marxist xuất bản tại Pháp. Chính thời kỳ khai phóng thực dân ấy đã tăng cường ảnh hưởng của các nhóm cộng sản Việt Nam. Trước đó, tất cả những người cách mạng Việt Nam đều là những người chống thực dân, chống Pháp. Sau đó, chính cuộc kháng chiến chống Pháp đã tập họp và tăng cường hơn nữa ảnh hưởng của Đảng Cộng sản. Không có cuộc kháng chiến, có thể Đảng Cộng sản sẽ không đoạt được chính quyền. Ta có thể nói chính sự trở lại của thực dân Pháp, cuộc tấn công của đội lính viễn chinh do Leclerc dẫn đầu đã làm nổ ra cuộc kháng chiến, và cuộc kháng chiến ấy đã làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam mạnh lên. Nguồn gốc của chính quyền cộng sản Việt Nam là cuộc tấn công của Leclerc. Chính sự đe doạ của chủ nghĩa thực dân Pháp, của cuộc chinh phục lần thứ hai của Pháp ở Việt Nam đã làm nổ ra cuộc kháng chiến, và cuộc kháng chiến đã nâng cấp, đã tạo nên sức mạnh của Đảng Cộng sản vì Đảng Cộng sản đã biết tập họp xung quanh nó một mặt trận dân tộc. Không có sự đe doạ một cuộc chinh phục lần hai của bọn thực dân, làm sao Đảng Cộng sản có thể tập họp một mặt trân dân tộc xung quanh nó? Và mặt trận dân tộc ủng hộ nó cướp chính quyền, nói cách khác là Cách mạng tháng Tám, là sự kiện không phải Đảng Cộng sản mà là cái mặt trận dân tộc ấy đã thực hiện cuộc cướp chính quyền, đó là Mặt trận Việt Minh.

… Với Hồ Chí Minh, tự do chính là dân chủ; với Hồ Chí Minh, dân chủ chính là tự do…

Heinz Schütte: Vậy đó chính là đề tài của cuộc đời ông. Những năm 1930 đến 1954: đấu tranh cho độc lập; từ 1954: đấu tranh cho dân chủ.

Nguyễn Hữu Đang: Chính xác là vậy! Hai giai đoạn, hai thời kỳ – chính xác. Để đấu tranh cho tự do, tôi đã bị chính quyền Pháp giam giữ hai lần trước Cách mạng tháng Tám. Và trong chặng thứ hai, tôi đã một lần bị bắt bởi chính quyền Việt Nam, một chính quyền xã hội chủ nghĩa.

Heinz Schütte: Khi nào và tại sao có sự cắt đứt giữa ông và Trường Chinh?

Nguyễn Hữu Đang: Sau vụ đàn áp dẹp bỏ báo Nhân văn. Lập trường của tôi là ngoan cố, tức là không khuất phục kỷ luật của Đảng, điều đó hàm chứa một thái độ đối lập chính trị, thậm chí ly khai.

Heinz Schütte: Ông đã hợp tác với Hoàng Minh Chính ngay từ những năm 50? Ý tưởng của hai ông rất gần nhau.

Nguyễn Hữu Đang Tôi không bao giờ hợp tác với Hoàng Minh Chính, ngay cả trong những cuộc hội thảo hay trong việc tổ chức thanh niên hay trong việc xuất bản sách báo – tôi không bao giờ hợp tác với Hoàng Minh Chính, nhưng tôi là bạn của ông ấy từ năm 1939 trong phong trào xoá mù chữ. Chính trong phong trào ấy tôi đã quen ông ta, nhưng không có sự hợp tác chặt chẽ. Nhưng đó là một người bạn lâu năm…

Heinz Schütte: Ông đã tham dự Hội nghị Văn hoá Việt Bắc năm 1948?

Nguyễn Hữu Đang: Phải, tôi có mặt ở đó.

Heinz Schütte: Đã có sự bất hoà giữa ông và Tổng Bí thư Trường Chinh kể từ lúc ấy vì những luận thuyết của ông ta?

Nguyễn Hữu Đang: Có sự bất đồng giữa ông ấy và tôi, nhưng vì những lý do khác, thí dụ về việc phân công công tác cách mạng mà ông ấy quyết định cho tôi là không công chính; tôi đã chịu những hậu quả bất lợi từ việc ấy. Tôi chịu quá nhiều sự thay đổi không hợp lý. Sau này ông ấy đã thừa nhận sai lầm. Chính từ lúc ấy tôi rời bỏ địa hạt chính trị thuần tuý để hiến mình cho – đúng ra là trở về – các hoạt động văn hoá. Cuối cùng tôi đã đề nghị được nhận chức tổng thanh tra bình dân học vụ, lãnh trách nhiệm chi huy cuộc đấu tranh xoá mù chữ.

Heinz Schütte: Có phải những luận thuyết về văn hoá của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1941 là nền tảng của bản báo cáo của Trường Chinh năm 1948?

Nguyễn Hữu Đang: Trường Chinh đúng là người cách tân thực sự nền văn hoá Marxiste ở VN. Vào năm 1943 ông ấy đã biên soạn tài liệu mang tên “Đề cương văn hoá”. Ông quyết định đưa tôi trở lại chuyên môn cũ của tôi là trong lĩnh vực văn hoá và trao trách nhiệm cho tôi hoạt động trong giới văn nghệ sĩ trí thức để lập ra Hội Văn hoá Cứu quốc, hội này tồn tại đến tận năm 1948. Thực sự là tôi đã tổ chức Hội nghị Văn hoá Toàn quốc lần thứ nhất vào năm 1946 ở Hà Nội. Cái mà người ta gọi là Hội nghị Văn hoá 1948 chỉ là biện pháp tạm thời trong tình huống khó khăn của cuộc kháng chiến toàn quốc. Trong hội nghị này, Trường Chinh đã đọc một bài vốn chưa thể trình bày tại Hội nghị thực sự toàn quốc lần thứ nhất tổ chức năm 1946. Thực tế các thành viên Hội nghị 1948 hầu hết là đảng viên ở miền Bắc và họ chỉ thảo luận những vấn đề ít quan trọng.

Heinz Schütte: Những luận thuyết “Chủ nghĩa Marx và văn hoá” (1948) nói về cái gì, ông không hoàn toàn tán đồng nó?

Nguyễn Hữu Đang: Trong bài nói ấy (“Chủ nghĩa Marx và những vấn đề văn hoá Việt Nam”), Trường Chinh đã quá nhấn mạnh vai trò của tư tưởng Marx-Lenin làm hại đến những vốn liếng văn hoá có từ nhiề thế kỷ. Tôi buộc phải đề xuất một sửa đổi: Bỏ đi những đoạn khẳng định một cách quá lạc quan những thành quả tương lai của con đường phát triển ấy. Sau này trong tập san của Đảng, Trường Chinh đã phê phán thái độ của tôi, ông coi là thiếu niềm tin chính thống.

Heinz Schütte: Ông cũng đã làm việc với Nguyễn Đình Thi?

Nguyễn Hữu Đang: Nguyễn Đình Thi chỉ hợp tác với tôi trong bước đầu của Hội Văn hoá Cứu quốc. Chúng tôi là hai tác giả của bản Tuyên ngôn của Hội[1] được xuất bản thành sách vào tháng 8 năm 1945 sau ngày chính phủ lâm thời trở về Hà Nội. Bản tuyên ngôn này được gợi hứng từ các ý tưởng của Mao Trạch Đông trong những bài nói chuyện ở Diên An. Đề cương Văn hoá của Đảng Cộng sản lấy lại những ý tưởng này làm nền tảng lý thuyết.

Heinz Schütte: Tôi có thể đề nghị ông nói về cuộc sống hàng ngày trong nhà tù?

Nguyễn Hữu Đang: Người ta thường hỏi tôi bí quyết nào đã giúp tôi sống một cách trọn vẹn cuộc đời mình trong nhà tù. Tôi khoẻ mạnh, tôi lạc quan, tôi tiếp tục biện luận về triết học, chính trị, v.v… nghĩa là tôi giữ một cuộc sống bình thường trong nhà tù một cách thoải mái. Tôi không biết đến phiền não, mệt mỏi, buồn đau, ân hận, thù hằn, không, không, không hề. Tôi sống một cách bình thường như ở nhà mình, cùng với những người tù khác.

Heinz Schütte: Với sách báo?

Nguyễn Hữu Đang: Không! Không! Đó là nhà tù khắc nghiệt nhất của Việt Nam.

Heinz Schütte: Ở đây, ở Hà Nội ư?

Nguyễn Hữu Đang: Không, ở Hà Giang, cách biên giới Trung Hoa 20 km, trên đỉnh núi cao 1000m – người ta mặc áo bông quanh năm, nhiệt độ trung bình xuống đến 10, đến 5 độ, ban đêm là 0 độ. Thế đó, nhà tù khắc nghiệt nhất.

Heinz Schütte: Vậy là không có sách…

Nguyễn Hữu Đang: Chẳng có gì hết! Không có chế độ cho tù chính trị, không, chúng tôi bị giam giữ như những tên tội phạm hình sự… Chính sự dửng dưng đã triệt tiêu mọi tác hại của nhà tù, mọi khổ não của nhà tù. Nhà tù, tôi không biết; sự đàn áp, tôi không biết. Sống và chết ở đây, với tôi cũng như nhau.

Heinz Schütte: Theo Schopenhauer (1819) thì thế giới là ý chí và biểu tượng (tưởng tượng) (Die Welt als Wille und Vorstellung)

Nguyễn Hữu Đang: Chính xác! Với tôi, trong tù, với tư tưởng của tôi, mọi hình thái sống, mọi cấp độ của văn minh trong mỗi sự sống, thật đa dạng – có hàng ngàn cách sống. Nhưng mọi cách sống đều giống nhau về bản chất. Tôi sống ở nhà mình, tôi sống với tư cách ông thứ trưởng, với tư cách nhà xuất bản, với tư cách nhà giàu, nhà nghèo – mọi hình thái sống. Với tôi chân lý ở trong Đạo học chứ không ở trong chủ nghĩa Marx.

Ngay khi chúng tôi đến nhà tù, người ta đã tuyên bố: Các anh phải nhớ rằng một khi vào đây là các anh sẽ không có ngày trở lại, các anh sẽ ở đây cho đến lúc chết. Người ta đã tuyên bố thế – tổng giám thị nhà tù tuyên bố chính thức, công khai trước tất cả các tù nhân chính trị. Đã vào đây là không có ngày trở lại, không bao giờ ra khỏi nơi này. Cho dù án của anh là 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm – các anh cũng sẽ ở đây đến lúc chết. Vì sao? Vì các anh, lũ phản động, phản bội tổ quốc, phản bội cách mạng – các anh đáng chết. Vì lòng khoan dung, độ lượng, nhân đạo, mà chính phủ để cho các anh được sống, nhưng trả tự do cho các anh – không bao giờ! Trả tự do cho các anh là trả tự do cho hùm beo – các anh sẽ ở đây cho đến chết.

Heinz Schütte: Đó là diễn từ của Tố Hữu…

Nguyễn Hữu Đang: Án bao nhiêu năm chẳng quan trọng, chẳng đáng kể. Không một mối liên hệ với bên ngoài, không thư từ, không thăm nom, không tiền hay quà hay lương thực gửi tới – không, anh không nhận được chút gì của bạn bè hay gia đình. Anh không có quyền nhận thăm nom, không tiếp xúc với bên ngoài. Anh chỉ sống chuyên giữa các anh với nhau, những người tù, những tù nhân chính trị. Thế giới của anh, nhân loại đối với anh là 200 người tù – không có những người đồng tổ quốc, đồng công dân; với anh, không có gì hết, chỉ có 200 người đồng ngục cùng một số phận… Tôi biết và được thông tin rõ về thái độ cuồng tín, cực kỳ chuyên chế, tàn bạo, bất nhân của Tố Hữu. Ông ta có mối đại thù với nhóm Nhân văn – Giai phẩm. Chính Nhân văn – Giai phẩm đối với Tố Hữu là một kẻ thù không đội trời chung, nói như một thành ngữ Việt Nam… Tố Hữu và những người nhân văn và các giai phẩm không thể đội trời chung – là kẻ thù của nhau… Tố Hữu và Trường Chinh đầy thù hận.

Heinz Schütte: Vì sao?

Nguyễn Hữu Đang: Vì họ đã bị phong trào ấy phê phán. Phong trào ấy phê phán một thực trạng, nhưng thực trạng này được đại diện bằng con người Tố Hữu và Trường Chinh – sự độc tài, chuyên chế, sự chật hẹp của đường lối chính trị văn hoá… Tôi không biết người ta có diễn đạt sai bài xã luận mà tôi viết cho tờ báo số 6 không được phát hành hay không. Có thể đó là sự diễn đạt sai, diễn đạt lầm – một sự diễn đạt thổi phồng. Sự thổi phồng, hiểu sai ấy đã quan trọng hoá bài xã luận. Tôi đã nói về hiến pháp Trung Hoa, nó đề cao quyền tự do hội họp, biểu tình – với cả điều kiện mà chính quyền tạo cho người dân các phương tiện để hội họp, để tổ chức biểu tình. Điều đó được viết trong hiến pháp Trung Hoa. Vậy là tôi đã dẫn một đoạn để khẳng định rằng ngay cả trong các nước xã hội chủ nghĩa, các quyền tự do dân chủ có thể được tôn trọng. Thế là người ta vu khống bài xã luận, coi nó là một lời kêu gọi lật đổ, và với sự thổi phồng ấy hay là với một sự diễn dịch vu khống – tôi không biết đó là thiện ý hay ác ý, tôi không biết. Nhưng cuối cùng, chính cái xã luận ấy đã quyết định việc đóng cửa tờ báo và là mấu chốt buộc tội để toan tính một vụ xử án người chỉ huy của một phong trào ly khai. Sau khi tạm giam tôi ở nhà tù Hoả Lò Hà Nội, người ta đã muốn biến phiên toà xử tự do báo chí thành phiên toà xử gián điệp. Người ta đã dự phóng một phiên toà theo hướng ấy, nhưng lúc đó tôi không biết – người ta bảo tôi ăn mặc tử tế, cho tôi một bữa cơm no kềnh để đưa tôi ra trước toà với mấu chốt buộc tội là tội gián điệp. Nhưng tôi không biết có sự can thiệp nào – chờ đợi 7 tiếng, chờ đến 8 giờ, rồi đến 9 giờ, rồi đợi đến 10 giờ – ôi, hoãn rồi, hoãn rồi, về lại xà lim. Vậy là người ta thay đổi tội trạng – không có chuyện gián điệp. Mà chỉ đơn giản là một vụ phá hoại bằng những xuất bản phẩm: Trong các xuất bản phẩm, Nguyễn Hữu Đang và vài tên khác đã thực hiện một vụ phá hoại chính trị, theo nội dung bản án. Nhưng tuyên truyền không bỏ lỡ dịp nói về vụ gián điệp – người ta nói về nó, nhưng không truy cứu nó trước toà. Không có cáo trạng, không xét xử, người ta tiếp tục tuyên truyền cho mọi người tin rằng có một vụ, có những hoạt động gián điệp trong vụ án này. Đó là phương pháp cốt yếu của cộng sản. Nghĩa là người ta đưa ra những thông tin lập lờ – để anh tự do hiểu cách này hay cách khác.

Heinz Schütte: Ông đã tìm cách chạy vào Nam?

Nguyễn Hữu Đang: Chạy ra nước ngoài, không phải vào Nam, nhưng tôi đã đặt điều kiện: Nếu các anh giúp tôi đi ra một nước khác, tôi chấp nhận, nhưng vào Nam thì tôi từ chối, vì như thế hàm chứa cái ý phản bội, chạy sang phe địch, phe thù – tôi từ chối. Đó là một sự nhục nhã. Vào Nam? – Để làm gì chứ? Vào Nam làm gì với Ngô Đình Diệm? Nhưng tôi thực sự muốn ra nước ngoài – tôi đã nói thẳng với Trường Chinh trong một cuộc gặp giữa ông ấy và tôi. Câu hỏi thứ nhất mà Trường Chinh vừa cười vừa đặt ra cho tôi là: Hả, sao kia, anh đã tuyên bố với các đồng chí rằng anh muốn ra nước ngoài, vì không khí trong nước nghẹt thở quá. Vậy là anh muốn ra nước ngoài, nhưng đến một nước trong phe xã hội chủ nghĩa hay phe đế quốc, anh nói tôi nghe (ông ta cười). Lúc đó tôi vừa cười vừa trả lời: Tôi rất muốn ra nước ngoài, một nước trong phe xã hội chủ nghĩa nếu điều kiện cho phép. Nhưng nếu vì những khó khăn buộc tôi phải đến một nước theo chế độ tư bản, tôi có thể chấp nhận. Bằng chứng là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cư trú ở Pháp, và ông đã giữ được lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, và tôi có thể làm như ông ấy. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm như Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là một nhà cách mạng, tôi cũng là nhà cách mạng. Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản, tôi cũng là cộng sản. Nguyễn Ái Quốc có lòng dũng cảm, tôi cũng có lòng dũng cảm. Tôi không sợ cư trú dài hay ngắn hơn trong một nước tư bản. Thế là người ta đã sửa soạn… Người bạn đã khuyên tôi nên ra nước ngoài đã nhận lời giúp tôi đến được một nước khác, nhưng không phải là vào Nam! Anh ấy đã hứa, nhưng chuyến đi đã không được thực hiện. Vậy là tôi lỡ một dịp đi đến một nước khác – hoặc là phe tư bản, hoặc là phe xã hội chủ nghĩa – nhưng nhất định không phải miền Nam là nơi tôi nhắm! Tôi đã nói, hoặc là vượt qua biên giới Việt Nam – Lào, rồi qua Lào tôi đến Thái Lan, đó là lộ trình mà tôi mơ ước, nhưng không bao giờ tôi đi qua ngả miền Nam, dù chỉ một ngày – không! Nhưng để tô vẽ bản cáo trạng, người ta đã đưa vào câu tôi muốn vào Nam. Khi đó tôi trả lời toà án: Không, tôi không muốn vào Nam; tôi muốn đi ra nước ngoài. Và người ta hỏi tôi: Nhưng ở nước ngoài anh sẽ làm gì? “Đấu tranh cho thống nhất, thống nhất hai miền; ở nước ngoài tôi sẽ tiếp tục đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước, thống nhất hai miền Bắc Nam.” Nghe lời tuyên bố ấy, cử toạ… phiên toà bao gồm những người ủng hộ chính phủ, quần chúng của Đảng, đảng viên, những cán bộ của nhiều tổ chức và hoạt động khác nhau – thế là, vì tất cả bọn họ đều phản nhân văn, họ phá lên cười nhạo cái ý định đấu tranh cho thống nhất đất nước của tôi: Nhưng người ta chỉ có thể đấu tranh cho thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng – mà anh, anh đi ra nước ngoài và lại hòng đấu tranh cho thống nhất đất nước, thật lố bịch! Người ta phá lên cười – tôi mặc kệ sự mỉa mai của những người ấy. Trong chuyến đi rời đất nước ra nước ngoài, tôi muốn thăm Ấn Độ và Nam Tư của Tito, tôi tin ở Nehru và Tito. Tôi rất muốn gặp họ và xin họ lời khuyên để đấu tranh cho nước Việt Nam bị chia cắt, để Việt Nam được thống nhất và độc lập. Tôi muốn gặp Tito và Nehru…

Phải nói rằng chế độ nhà tù dành cho tù chính trị dưới ách thống trị thực dân nhân đạo hơn chế độ nhà tù cộng sản rất nhiều. Vì sao? Vì chế độ nhà tù thực dân ít nhiều cũng được kiểm soát bởi chính phủ chính quốc Pháp, tức là dưới sự kiểm soát của dư luận, tức là một bộ phận của sự kiểm soát ấy thuộc về công chúng và các tổ chức dân chủ, thí dụ như Liên đoàn Bảo vệ Quyền con người và Quyền công dân, và các tờ báo… Thật phi lý, nhưng là thực tế! Và chế độ tù chính trị trong các nhà tù cộng sản thì khắc nghiệt hơn chế độ dành cho thường phạm. Trong tù tôi đã tuyên bố với những người bên cạnh rằng nếu tôi biết có sự phân biệt ấy, tức là tù thường phạm (những người lầm đường lạc lối trong quần chúng) với tù chính trị (kẻ thù của nhân dân), nếu tôi biết có sự khác biệt ấy, thì tôi đã biến mình thành trộm cắp, lưu manh, sát nhân chứ không phải người cách mạng. Tôi sẽ không tham gia cách mạng mà tham gia các hoạt động của những kẻ phản xã hội kia. Tôi có khá đủ khả năng sống trong các nhà tù (ông cười). Trước hết, nét chủ yếu là thiếu lương thực. Có thể nói rằng trong nhà tù khắc nghiệt nhất, tù chính trị bị kết án phải chịu đói và rét triền miên. Chính cái đói, cái rét và bệnh tật – ba tác nhân làm suy kiệt sức khoẻ của những người tù chính trị. Tức là những người tù chính trị bị kết án phải chết từ từ. Kiệt sức vì đói, rét, bệnh tật, đó là một cái chết chậm – người ta chỉ chờ có cái chết. Theo quan điểm văn hoá tối thiểu trong tương lai hay trong cuộc sống thông thường của mọi người, những người tù chính trị của nhà tù, nhà tù của tôi, không có một tý thông tin nào, dù là qua đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, dù là qua báo chí, suốt trong 15 năm – không gì hết, không gì hết. Mỗi tuần lễ, toàn bộ thông tin là ông tổng giám thị tổ chức một cuộc họp tất cả tù nhân. Trong cuộc họp ấy tổng giám thị đưa ra những thông tin về cuộc chiến tranh Việt – Mỹ, những thắng lợi giành được đối với các lực lượng quân viễn chinh Mỹ – đó là thông tin duy nhất qua tiếng nói của tổng giám thị. Và tất cả là thế. Gia đình các tù nhân chính trị không biết số phận của con cái, anh em mình. Các thành viên gia đình còn sống hay đã chết – người ta không biết. Khi Hiệp nghị Paris trả lại tự do cho tôi, tôi đã viết thư cho gia đình – người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình để báo tin tôi được trả tự do. Lúc ấy cả gia đình tôi kinh ngạc, cả gia đình tôi hoàn toàn sửng sốt: Ôi, kìa, anh Đang còn sống, thế mà chúng ta cứ tưởng anh đã chết lâu rồi. Không tiếp xúc tí nào với bên ngoài. không tiếp xúc tí nào với gia đình, với bạn bè, với bất kỳ ai… Thế giới đối với chúng tôi là tập họp 200 tù nhân trong một vòng vây bằng tường đá, một bức tường thành bằng đá cao bên trên có dây thép gai – đó là thế giới của chúng tôi; không có thế giới nào khác.

Heinz Schütte: Trong làng ông, từ năm 1970, ông có liên lạc với “thế giới”?

Nguyễn Hữu Đang: Có, một chút thôi, một chút liên lạc – không cả sách báo, không có những cuộc họp mặt, chuyện trò, tiếp xúc… một chút liên lạc với thế giới, không nhiều và không đáng kể gì.

Heinz Schütte: Khi ra tù ông có tìm lại được gia đình?

Nguyễn Hữu Đang: Trước khi ra tù người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình. Trước khi rời nhà tù, người ta cho phép hai người em của tôi lên thăm, mang cho tôi bánh trái, thịt, lương thực.

(Ngày 13 tháng 6 năm 1999, chúng tôi – Nguyễn Hữu Đang, vợ tôi và tôi – nói về Nhân văn – Giai phẩm; ông đề nghị tôi gọi điện thoại cho Lê Đạt để cho tôi có thể gặp ông ấy…)

Nguyễn Hữu Đang: Đó là một nhà thơ thông minh, có học thức và năng động. Tôi tin rằng ông ấy có thể có ích cho ông. Trong khi về phần tôi, từ mấy hôm trước tôi đã có ý định viết cho ông để trước tiên là xin lỗi về việc không trả lời bản câu hỏi của ông; thứ đến là để trình bày với ông hoàn cảnh của tôi không thuận lợi để viết ra những câu trả lời đòi hỏi mất hàng trăm trang giấy nếu viết cho đàng hoàng…

(Thay vì thế, tôi đọc vài câu) trong các câu hỏi của ông và trả lời ngay lập tức.

Heinz Schütte: Triết gia Trần Đức Thảo đóng vai trò gì trong Trăm hoa Đua nở, tức là trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm?

Nguyễn Hữu Đang: Vai trò của ông ấy không quan trọng. Ông ấy chỉ viết có một bài trong Giai phẩm nhấn mạnh sự cần thiết phát triển chủ nghĩa cá nhân. Thế là chống lại những công thức cộng sản-stalin muốn chủ nghĩa cá nhân bị gạt bỏ một cách triệt để. Trái lại, Trần Đức Thảo khẳng định phải phát triển chủ nghĩa cá nhân đến hết giới hạn bởi vì mọi sáng tạo văn hoá đều mang tính cá nhân. Không phải qua tập thể mà người ta có thể cung cấp những sáng tạo trong văn học, nghệ thuật, ngay cả trong khoa học. Khoa học, trong các khám phá khoa học, có sự đóng góp của tập thể, nhưng để đạt kết quả tích cực, cụ thể – thì bao giờ cũng là lao động cá nhân của một nhà bác học. Thời ấy Ban Tuyên giáo của Đảng Cộng sản chống lại các quan điểm của Trần Đức Thảo. Nhưng ông chỉ viết có một bài báo, và trong bộ phận lãnh đạo phong trào Nhân văn – Giai phẩm, Trần Đức Thảo gần như đứng tách ra. Ông để cho chúng tôi toàn quyền đặt để.

Heinz Schütte: Ông có được mời dự lớp học tập chính trị của các nhà văn (trong 18 ngày) vào tháng 8 năm 1956?

Nguyễn Hữu Đang: Có. Không chỉ được mời, mà tôi có quyền tham dự. Trước khi có phong trào Nhân văn – Giai phẩm, tôi là một thành viên rất được tin tưởng của Đảng trong địa hạt văn nghệ. Người ta đã đề nghị tôi làm việc trong lớp học này, người ta đã đề nghị tôi tham gia tổ Văn 2 gồm các trí thức và nhà văn của Hà Nội cũ. Họ có học thức hơn các văn nghệ sĩ từ kháng chiến về. Vì có học thức, họ đặt ra những câu hỏi khó cho việc giảng bài, cho việc huấn luyện lý thuyết chính trị cho văn nghệ sĩ trong 18 ngày học ấy. Vì thế ban lãnh đạo cho rằng tôi phải tham gia cái tổ ấy để hướng dẫn việc nghiên cứu lý thuyết những tài liệu mấu chốt và bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. TNĐCS là một tài liệu tóm tắt toàn bộ học thuyết cộng sản một cách cô đọng. Cho nên phải có một thành viên ít nhiều có năng lực về vấn đề ấy để giải thích cho các trí thức cũ của thủ đô, những người đã từng đọc André Gide, Kravchenko v.v… Boudarel đã kể rất đúng những hoạt động của tôi trong lớp học 18 ngày ấy, Boudarel đã phản ánh đúng diễn biến của những cuộc tranh luận ấy.

Heinz Schütte: Ông có nghĩ rằng chế độ đã coi ông như thủ lĩnh chính trị của nhóm ly khai?

Nguyễn Hữu Đang: Tôi không bao giờ chối bỏ hay giấu giếm trách nhiệm ấy.

Heinz Schütte: Vì sao nữ tiểu thuyết gia Thụy An (tên thật Lưu Thị Yên) và chủ xuất bản Minh Đức lại bị đưa ra toà cùng lúc với ông?

Nguyễn Hữu Đang: Phiên toà tổ chức để kết tội tôi, Thụy An và chủ xuất bản Minh Đức có mục tiêu là bày ra trước công chúng một phiên toà xử những kẻ được coi như phá hoại chế độ cách mạng. Nguyễn Hữu Đang, kẻ tổ chức và lãnh đạo phong trào, Minh Đức, chủ xuất bản đáp ứng cho phong trào và Thụy An được coi là kẻ tranh cãi cuồng tín – ba tên phá hoại ấy phải được xét xử trong cùng một phiên. Đó là phiên toà xử vụ phá hoại chính trị. Thoạt tiên người ta định kết án tôi vì tội vi phạm luật xuất bản báo chí, nhưng sau đó người ta đã thay đổi mấu chốt buộc tội để trình bày tôi như một trong những tên đầu sỏ phá hoại chế độ về chính trị. Hơn nữa người ta đã coi Thụy An, với những quan hệ của bà với người Pháp trong thời chiếm đóng, đặc biệt với ông Maurice Durand, giám đốc Trường Viễn đông Bác cổ ở Hà Nội. Thế là người ta muốn trình bày ông Durand như một điệp viên được nhà cầm quyền Pháp để lại trước khi rút đi… Vậy là vì Thụy An có nhiều quan hệ với ông Durand và vì ông này bị nghi là gián điệp, nên người ta cũng nghi Thụy An. Và vì Thụy An bị coi như điệp viên, Nguyễn Hữu Đang có vài quan hệ với nữ tiểu thuyết gia và nhà báo Thụy An trong phong trào Nhân văn – Giai phẩm… Trước cách mạng, bà Thụy An đã xuất bản bào Đàn bà, bà là giám đốc, chủ nhiệm và chủ bút. Thế là người ta đã ghép các hoạt động của Nguyễn Hữu Đang với các hoạt động của bà Thụy An để trình bày Nguyễn Hữu Đang như một nhà văn và nhà báo có quan hệ mật thiết với gián điệp. Ngày xử án, báo Hà Nội mới chạy hàng tít lớn ngay trang đầu: Bọn gián điệp Nguyễn Hữu Đang và Thụy An đã bị toà án nhân dân xét xử và kết án 15 năm tù. Đó là một vụ án gián điệp. Troing khi xét xử tôi, người ta đã âm mưu kết án tôi như một điệp viên cùng với Thụy An, nhưng rồi họ đã thay đổi cáo trạng. Hôm đầu tiên, thoạt đầu họ tập trung buộc tội tôi như một điệp viên cùng với Thụy An, nhưng họ đã thay đổi cáo trạng để trình bày tôi như một trong những tên đầu sỏ phá hoại chế độ về chính trị. Và do đó tôi phải lãnh án 15 năm tù – không phải vì tội gián điệp mà vì tội phá hoại.

Heinz Schütte: Những văn nghệ sĩ gây tranh cãi năm 1956 đã được phục hồi vào năm 1986/1987… Ông có ở trong số được phục hồi?

Nguyễn Hữu Đang: Việc phục hồi được tuyên tại Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng sản lần VI với Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư. Nhưng trong quyết định ấy của Đại hội VI, một điều khoản phụ đã nói riêng rằng việc phục hồi chỉ một phần và không được công khai… mọi người đã bị kết án sai hay quá đáng phải được phục hồi nhưng chỉ một phần và không công khai… mọi người chỉ được hưởng sự phục hồi một phần. Và mọi người phải được phục hồi một cách kín đáo…

Heinz Schütte: Mà không thừa nhận sai lầm… “Một cách kín đáo” nghĩa là thế nào?

Nguyễn Hữu Đang: Không công bố – người ta không bao giờ công bố những người này hay những người khác được phục hồi – không, người ta không bao giờ nói. Ngay cả bây giờ. Nếu có ai hỏi: Đang có được phục hồi hay là không? Nhưng ông ấy chưa bao giờ được phục hồi, chẳng ai phục hồi cho ông ấy! Vì điều ấy không được công bố. Chỉ một cách kín đáo, nội bộ…

Heinz Schütte: … để không thừa nhận sai lầm?

Nguyễn Hữu Đang: Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ chấp nhận một sai lầm nào dù nhỏ, không bao giờ sai lầm, bao giờ cũng đúng đắn, bao giờ cũng sáng suốt… Chỉ có một sai lầm – Cải cách Ruộng đất. Người ta đã tuyên bố rằng phong trào Nhân văn, Nhân văn – Giai phẩm, đã muốn nhân lên sai lầm Cải cách Ruộng đất – chỉ có một sai lầm, nhưng những người tranh cãi muốn làm cho công chúng hiểu rằng có rất nhiều sai lầm – không, chỉ có một sai lầm, chỉ một mà thôi. Tóm lại, tôi nhắc lại, không có sự phục hồi. Không có ai được phục hồi chính thức.

Heinz Schütte: Tôi có thể công bố một bài viết về những cuộc gặp gỡ của chúng ta không? Điều gì không thể được công bố?

Nguyễn Hữu Đang: Không, ông không được công bố ngay cả một bài viết rất ngắn, về nguyên tắc, một sự cộng tác ngay cả chẳng có gì lập lờ với một người nước ngoài, về nguyên tắc nó phải được thông qua trung gian của các cơ quan an ninh, công an chính trị. Vì cuộc gặp của chúng ta không thông qua các cơ quan an ninh, nên một bài viết công bố ra có thể đặt thành những câu hỏi, những sự nghi ngờ: Nhưng ông đã làm gì với cái tay người nước ngoài ấy? Chúng tôi không kiểm soát các hoạt động của ông, và chúng tôi không biết quan điểm của tay ấy. Vì thế chúng tôi đặt ra những câu hỏi về chuyện ấy. Vậy thì – đừng nói gì hết. Đừng nói gì hết!… Tôi kể một thí dụ. Bà Thụy Khuê – ông biết bà Thụy Khuê chứ? Bà phóng viên đài phát thanh RFI (Radio France Internationale) đã đề nghị tôi một cuộc phỏng vấn về phong trào xoá mù chữ. Người ta cho phép tôi nói qua điện thoại giữa Pháp với Việt Nam; cuộc trò chuyện bị cắt quãng hai lần. Thế là cuộc phỏng vấn phải dừng lại. Vì cuộc phỏng vấn không được tổ chức thông qua các cơ quan an ninh, người ta đã cắt đứt cuộc trò chuyện của chúng tôi, người ta đã hai lần phá bài phỏng vấn. Qua điện thoại bà Thụy Khuê từ Pháp yêu cầu tôi trả lời phỏng vấn, nhưng người ta cắt…

*

Ông NHĐ mất ngày 8 tháng 2 năm 2007. Tôi tự thấy mình từ nay không còn bị ràng buộc bởi lời hứa không công bố gì hết về những cuộc gặp gỡ của chúng tôi.

(TT dịch theo bản công bố trên talawas ngày 02/8/2010)

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] Chú thích của talawas: Một nền văn hóa mới của Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Đình Thi, Hội Văn hóa Cứu quốc (trong Mặt trận Việt Minh) xuất bản, Hà Nội, 1945; 50 trang, khổ 18,5 x 25 cm. Bản điện tử đăng trên talawas ngày 17 và 18/8/2009.

Wednesday, 4 August 2010

Đỗ Trung Quân – Nhà văn Việt Nam

Đỗ Trung Quân – Nhà văn Việt Nam nghĩ về Hội Nhà văn Việt Nam: Lấp đi cái ao làng

04/08/2010 | 9:05 chiều | 3 phản hồi

Tác giả: Hoàng Ngọc-Tuấn

Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Đại hội Nhà văn Việt Nam

Hoàng Ngọc-Tuấn thực hiện

Dưới đây là những câu hỏi do Hoàng Ngọc-Tuấn đặt ra để phỏng vấn các nhà văn Việt Nam trong nước và ngoài nước nhân dịp Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII. Những câu hỏi này được gửi đến rất nhiều người, cả những người đang là Hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam lẫn những người ở bên ngoài Hội. Những bài trả lời sẽ được đăng trên talawas và Tiền Vệ.

_________________

Hoàng Ngọc-Tuấn: Hôm nay, 04/08/2010, Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII đang diễn ra tại Hà Nội. Cách đây vài ngày, blogger Nguyễn Xuân Diện viết trong bài “Nghẹt thở theo dõi diễn biến Đại hội Nhà văn” như sau: “Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 8 sắp khai mạc. Văn giới sẽ có cuộc tụ họp cực kỳ hoành tráng tại một nơi cũng cực kỳ hoành tráng, đó là Học viện Nguyễn Ái Quốc (Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)…”

Anh/chị có cảm tưởng gì về cái sự kiện “hoành tráng” này?

Đỗ Trung Quân: Hoàng tráng đã thành khẩu ngữ trên phương tiện truyền thông lẫn đời thường. Nghiêm túc cũng được mà hài hước hay mỉa mai cũng được, tuỳ vào ngữ cảnh vấn đề. Ví dụ “Cô hoa hậu kia có vòng một hoành tráng quá,” hay “Chà! Một đám ma thật là hoành tráng,” v.v… Cái hoành tráng của Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII này có thể hiểu nhiều nghĩa. Ví dụ: đông quá, các đoàn đại biểu của các hội địa phương hầu hết được mời khá đầy đủ (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh có 158 người, danh sách mời ra Hà Nội là 150 người, còn thật sự đi bao nhiêu tôi không rõ. Cá nhân tôi vắng mặt.)

Cũng lạ mà không lạ. Cảm tưởng của mình như người ngoại cuộc. Và thật sự từ lâu tôi đã ngoại cuộc, dù vẫn viết lách. Bởi lẽ chuyện sáng tác là chuyện cá nhân, không dính dáng tới Hội Nhà văn nào dù tôi có tên ở đấy. Nhà thơ Nguyễn Duy có một phát hiện chính xác và ngộ nghĩnh. Chỉ duy nhất tờ báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam còn cái khẩu hiệu “Vì tổ quốc – Vì chủ nghĩa xã hội” từ năm 1958 đến nay bên cạnh manchette. Tôi vừa cười vừa viết thế này:

Thoạt nghe thì thấy đương nhiên.

Nghe lâu thì thấy điên điên thế nào.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Đại hội “hoành tráng” đến thế mà nhà văn Tạ Duy Anh, một hội viên, lại phát biểu trong một cuộc phỏng vấn (đăng trên talawas) có nhan đề “Chưa khi nào nhà văn xứng đáng bị coi thường như hiện nay” rằng: “Khi nghe tin Đại hội tiến hành ở Cung Văn hoá Hữu nghị, tôi nghĩ là mình sẽ tham gia. Nhưng nay chuyển đến địa điểm mới thì có thể nói 90 % là tôi không dự. Kể cả dự hay không dự thì tôi cũng không kỳ vọng bất cứ điều gì ở Đại hội. Dở hơi mà kỳ vọng vào cái thứ hão huyền. Chúng ta cứ hay long trọng hoá cả những trò vốn chỉ sinh ra để mua vui, (cho vài kẻ cầm trò cực kỳ xỏ lá nhưng giấu mặt) nên mới cứ căng thẳng một cách xa xỉ như vậy.”

Anh/chị nghĩ thế nào về lời phát biểu này?

Đỗ Trung Quân: “Chưa khi nào nhà văn xứng đáng bị coi thường như hiện nay” (Tạ Duy Anh). Thật chính xác. Khi cái “mua vui cũng được một vài trống canh…” mà anh còn không làm nổi bằng tác phẩm cho ra hồn, nhà văn không viết nổi tác phẩm nhưng lại sính “giai thoại” và những thứ phù phiếm khác, thì cái sự bị xem thường là tất yếu. Khi không học, không đọc, không viết được nữa thì xem như đã chết. Một ví dụ: cả Hội Nhà văn Thành phố HCM không làm nổi một website văn chương, tự biến mình thành cơ quan hành chính thì cái chân dung văn chương hiện ra rất rõ: Nó lạc hậu. Cái gì lạc hậu mà không bị xem thường? Nhà văn cũng thế thôi.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Theo một bản tin trên trang web của Hội Nhà Văn Việt Nam, lần này, có 150 nhà văn từ Sài Gòn ra Hà Nội để tham dự Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII. Trước khi họ lên đường, ông Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM đã có cuộc gặp họ vào chiều ngày 22/07/2010.

Theo anh/chị, trong thời buổi kinh tế thị trường theo định hướng XHCN này, tại sao Đảng lại quan tâm đến văn chương như vậy?

Đỗ Trung Quân: Tôi vắng mặt trong buổi tiếp đón này nên không rõ vị đại diện Thành ủy Thành phố HCM nhắn nhủ, chỉ bảo gì cho các nhà văn thành phố. Nhưng đấy chưa hẳn là sự quan tâm. Nó là thủ tục xưa nay khi có những đại hội của ngành này ngành nọ. Chuyện Đảng quan tâm đến văn chương để “uốn nắn” là hiển nhiên, cũng như báo chí là lãnh vực luôn được quan tâm bởi nhà cầm quyền. Lề phải – lề trái luôn được nhắc nhở. Buổi tiếp đón ấy chỉ là thủ tục, thế thôi. Tôi tin rằng trong sự bận rộn thời kinh tế thị trường, việc đọc sách nói chung và văn học nói riêng đối với các vị lãnh đạo là chuyện xa xỉ. Nhiều nhà văn còn không đọc nữa là.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Năm 2007, trong bài “50 năm Hội Nhà văn Việt Nam: Tài sản lớn của một chặng đường”, nhà thơ Phạm Tiến Duật có kể ra 4 tài sản lớn của Hội Nhà văn Việt Nam, gồm có: 1/ tài sản lớn nhất của Hội Nhà văn Việt Nam là sự đoàn kết trong đội ngũ những người viết văn vì sự nghiệp của Ðảng, của nhân dân; vì sự nghiệp văn học sâu xa và lâu dài của dân tộc; 2/ tài sản thứ hai của Hội Nhà văn Việt Nam là lấy việc tôn vinh học thuật đỉnh cao, tôn vinh cá tính sáng tạo riêng biệt của mỗi tài năng là công việc hàng đầu và quan trọng nhất; 3/ tài sản thứ ba của Hội Nhà văn Việt Nam là tấm lòng của mỗi nhà văn và của Hội đối với người cầm bút trẻ; 4/ tài sản lớn thứ tư của Hội Nhà văn Việt Nam là xây ngôi nhà của mình thành ngôi đền lớn của văn học dân tộc.

Anh/chị nghĩ thế nào về những “tài sản” đó?

Đỗ Trung Quân: Nghe kinh thật! Tôi cũng là hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam mà chẳng nhận ra mình có cái tài sản lớn đến thế. Cũng nói thật ý nghĩ này: nhà thơ Nguyễn Duy, trong một buổi trò chuyện, giao lưu với một vài nhà văn Mỹ cách đây chưa lâu được tổ chức ở Việt Nam, có nói đại ý “Vấn đề gì chính trị chưa giải quyết được thì văn hoá sẽ giải quyết… Nuôi nấng thù oán, nhỏ nhen không phải là thái độ của nhà văn…” (Không nguyên văn – ĐTQ). Nghe có lý đấy chứ, nhưng nghĩ kỹ mà xem. Họ có thể bắt tay hoà giải hoà hợp với những nhà văn Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam, nhưng việc họ bắt tay hoà giải hoà hợp với những tác phẩm, những nhà văn đích thực của một nền văn học của miền Nam, của Sài Gòn cũ, đồng thời là của đồng bào mình thì sao? Nền văn học ấy không thiếu những tác giả, tác phẩm và dịch thuật quan trọng cho sự hội nhập với những trào lưu mới cần thiết của nửa đầu thế kỷ trước. Chính trị không giải quyết thì văn hoá hãy giải quyết việc này đi nào? Những vấn đề như thế chắc chắn không bao giờ được đặt ra ở Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII. Đại hội chỉ xoay quanh bầu bán và… hết. Tài sản ấy làm sao mà “lớn” mà “giàu” cho được.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Hội Nhà văn Việt Nam có tham vọng trở thành “ngôi đền lớn của văn học dân tộc.” Nhiệm vụ của Hội là “tập trung tất cả nhà văn Việt Nam nhằm xây dựng một nền văn học tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.” Thế nhưng, gần đây, tôi đọc bài phóng sự “Các nhà văn về nguồn” trên trang web của Hội Nhà văn Việt Nam thì thấy cuộc “về nguồn” ấy, do chính ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, dẫn đầu đoàn nhà văn, đi đến xã Kim Bình huyện Chiêm Hoá, để viếng thăm nơi diễn ra Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ I. Không lẽ cái “bản sắc dân tộc đậm đà”, cái nguồn của “văn học dân tộc”, nằm ở cái chỗ đó?

Theo anh/chị, ta nên lý giải cái logic này như thế nào?

Đỗ Trung Quân: Vậy là tôi còn “xa nguồn” lắm, có khi mất gốc chứ chẳng chơi, vì tôi chưa từng đến đấy. Đảng Cộng sản Đông Dương sinh ra… Hội Nhà văn Việt Nam? Vậy Hội Nhà văn Việt Nam sẽ sinh ra cái gì? Hỏi tức là trả lời rồi.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Ngày 29/07/2010 vừa qua, nhà báo Trang Hạ có viết bài “Em không phải là nhà văn”, đăng trên Trangha’s Blog. Trong đó, Trang Hạ cho chúng ta thấy nhiều điểm rất thú vị trong nội tình của Hội Nhà Văn Việt Nam hiện nay (đạo văn, mạo danh, bao che, quỵt tiền…) và đặc biệt ngoạn mục là thái độ của ông Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đối với Trung Quốc và… tiền.

Theo anh/chị, những việc thú vị và ngoạn mục như thế diễn ra trong “ngôi đền lớn của văn học dân tộc” đã phản ảnh đúng mức cái “bản sắc dân tộc đậm đà” chưa? Hay là anh/chị còn biết những sự kiện thú vị và ngoạn mục hơn nữa để làm những ví dụ xác đáng hơn nữa?

Đỗ Trung Quân: Bài viết của nhà báo Trang Hạ đã vẽ ra cái chân dung gần nhất của Hội Nhà văn Việt Nam rồi. Tôi không bình luận thêm. Tôi có viết trên blog cá nhân của mình cái lý do không tham dự Đại hội, mà lý do của tôi cũng chẳng mới mẻ gì: nhà văn không thấy Hội là cần thiết cho mình, mà Hội cũng chẳng thấy phải có trách nhiệm gì với nhà văn, thế thì chán nhau cũng phải. Một ví dụ: Khi hội viên cần có tiếng nói thì chẳng thấy tiếng nói của Hội. Khi một cuốn sách, một tác phẩm bị xem là “có vấn đề”, Hội thường chỉ làm một việc là im lặng và đồng ý để… thu hồi nó. (Trường hợp Cánh đồng bất tận bị phê phán của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư mấy năm trước là trường hợp hiếm hoi gần như duy nhất có tiếng nói của công luận bênh vực, trong ấy có tiếng nói của một số nhà văn với tư cách đồng nghiệp nhiều hơn là tiếng nói chính thức có văn bản của Hội Nhà văn). Một người đọc blog tôi comments “Tôi đồng ý! Nhận định trên của anh đúng cho… mọi Hội, Ngành của ta.”

Hoàng Ngọc-Tuấn: Nếu có một vị tiên trên trời hiện xuống ban cho anh/chị 3 điều ước về Hội Nhà Văn Việt Nam, thì anh/chị sẽ ước những gì?

Đỗ Trung Quân: Ước là điều xa xỉ nhưng “sống ở đời ai chẳng có ước mơ”. Nói thật nhá! Hội Nhà văn Việt Nam và báo Văn Nghệ đã thành cái ao làng lâu rồi. Tôi ước: Lấp đi cái ao làng. Cái ao làng phải thật sự bị lấp để thách thức chính những kẻ quen sống trong ao.

Đỗ Trung Quân – Nhà văn Việt Nam

Đỗ Trung Quân – Nhà văn Việt Nam nghĩ về Hội Nhà văn Việt Nam: Lấp đi cái ao làng

04/08/2010 | 9:05 chiều | 3 phản hồi

Tác giả: Hoàng Ngọc-Tuấn

Chuyên mục: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Đại hội Nhà văn Việt Nam

Hoàng Ngọc-Tuấn thực hiện

Dưới đây là những câu hỏi do Hoàng Ngọc-Tuấn đặt ra để phỏng vấn các nhà văn Việt Nam trong nước và ngoài nước nhân dịp Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII. Những câu hỏi này được gửi đến rất nhiều người, cả những người đang là Hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam lẫn những người ở bên ngoài Hội. Những bài trả lời sẽ được đăng trên talawas và Tiền Vệ.

_________________

Hoàng Ngọc-Tuấn: Hôm nay, 04/08/2010, Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII đang diễn ra tại Hà Nội. Cách đây vài ngày, blogger Nguyễn Xuân Diện viết trong bài “Nghẹt thở theo dõi diễn biến Đại hội Nhà văn” như sau: “Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 8 sắp khai mạc. Văn giới sẽ có cuộc tụ họp cực kỳ hoành tráng tại một nơi cũng cực kỳ hoành tráng, đó là Học viện Nguyễn Ái Quốc (Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)…”

Anh/chị có cảm tưởng gì về cái sự kiện “hoành tráng” này?

Đỗ Trung Quân: Hoàng tráng đã thành khẩu ngữ trên phương tiện truyền thông lẫn đời thường. Nghiêm túc cũng được mà hài hước hay mỉa mai cũng được, tuỳ vào ngữ cảnh vấn đề. Ví dụ “Cô hoa hậu kia có vòng một hoành tráng quá,” hay “Chà! Một đám ma thật là hoành tráng,” v.v… Cái hoành tráng của Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII này có thể hiểu nhiều nghĩa. Ví dụ: đông quá, các đoàn đại biểu của các hội địa phương hầu hết được mời khá đầy đủ (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh có 158 người, danh sách mời ra Hà Nội là 150 người, còn thật sự đi bao nhiêu tôi không rõ. Cá nhân tôi vắng mặt.)

Cũng lạ mà không lạ. Cảm tưởng của mình như người ngoại cuộc. Và thật sự từ lâu tôi đã ngoại cuộc, dù vẫn viết lách. Bởi lẽ chuyện sáng tác là chuyện cá nhân, không dính dáng tới Hội Nhà văn nào dù tôi có tên ở đấy. Nhà thơ Nguyễn Duy có một phát hiện chính xác và ngộ nghĩnh. Chỉ duy nhất tờ báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam còn cái khẩu hiệu “Vì tổ quốc – Vì chủ nghĩa xã hội” từ năm 1958 đến nay bên cạnh manchette. Tôi vừa cười vừa viết thế này:

Thoạt nghe thì thấy đương nhiên.

Nghe lâu thì thấy điên điên thế nào.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Đại hội “hoành tráng” đến thế mà nhà văn Tạ Duy Anh, một hội viên, lại phát biểu trong một cuộc phỏng vấn (đăng trên talawas) có nhan đề “Chưa khi nào nhà văn xứng đáng bị coi thường như hiện nay” rằng: “Khi nghe tin Đại hội tiến hành ở Cung Văn hoá Hữu nghị, tôi nghĩ là mình sẽ tham gia. Nhưng nay chuyển đến địa điểm mới thì có thể nói 90 % là tôi không dự. Kể cả dự hay không dự thì tôi cũng không kỳ vọng bất cứ điều gì ở Đại hội. Dở hơi mà kỳ vọng vào cái thứ hão huyền. Chúng ta cứ hay long trọng hoá cả những trò vốn chỉ sinh ra để mua vui, (cho vài kẻ cầm trò cực kỳ xỏ lá nhưng giấu mặt) nên mới cứ căng thẳng một cách xa xỉ như vậy.”

Anh/chị nghĩ thế nào về lời phát biểu này?

Đỗ Trung Quân: “Chưa khi nào nhà văn xứng đáng bị coi thường như hiện nay” (Tạ Duy Anh). Thật chính xác. Khi cái “mua vui cũng được một vài trống canh…” mà anh còn không làm nổi bằng tác phẩm cho ra hồn, nhà văn không viết nổi tác phẩm nhưng lại sính “giai thoại” và những thứ phù phiếm khác, thì cái sự bị xem thường là tất yếu. Khi không học, không đọc, không viết được nữa thì xem như đã chết. Một ví dụ: cả Hội Nhà văn Thành phố HCM không làm nổi một website văn chương, tự biến mình thành cơ quan hành chính thì cái chân dung văn chương hiện ra rất rõ: Nó lạc hậu. Cái gì lạc hậu mà không bị xem thường? Nhà văn cũng thế thôi.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Theo một bản tin trên trang web của Hội Nhà Văn Việt Nam, lần này, có 150 nhà văn từ Sài Gòn ra Hà Nội để tham dự Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII. Trước khi họ lên đường, ông Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM đã có cuộc gặp họ vào chiều ngày 22/07/2010.

Theo anh/chị, trong thời buổi kinh tế thị trường theo định hướng XHCN này, tại sao Đảng lại quan tâm đến văn chương như vậy?

Đỗ Trung Quân: Tôi vắng mặt trong buổi tiếp đón này nên không rõ vị đại diện Thành ủy Thành phố HCM nhắn nhủ, chỉ bảo gì cho các nhà văn thành phố. Nhưng đấy chưa hẳn là sự quan tâm. Nó là thủ tục xưa nay khi có những đại hội của ngành này ngành nọ. Chuyện Đảng quan tâm đến văn chương để “uốn nắn” là hiển nhiên, cũng như báo chí là lãnh vực luôn được quan tâm bởi nhà cầm quyền. Lề phải – lề trái luôn được nhắc nhở. Buổi tiếp đón ấy chỉ là thủ tục, thế thôi. Tôi tin rằng trong sự bận rộn thời kinh tế thị trường, việc đọc sách nói chung và văn học nói riêng đối với các vị lãnh đạo là chuyện xa xỉ. Nhiều nhà văn còn không đọc nữa là.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Năm 2007, trong bài “50 năm Hội Nhà văn Việt Nam: Tài sản lớn của một chặng đường”, nhà thơ Phạm Tiến Duật có kể ra 4 tài sản lớn của Hội Nhà văn Việt Nam, gồm có: 1/ tài sản lớn nhất của Hội Nhà văn Việt Nam là sự đoàn kết trong đội ngũ những người viết văn vì sự nghiệp của Ðảng, của nhân dân; vì sự nghiệp văn học sâu xa và lâu dài của dân tộc; 2/ tài sản thứ hai của Hội Nhà văn Việt Nam là lấy việc tôn vinh học thuật đỉnh cao, tôn vinh cá tính sáng tạo riêng biệt của mỗi tài năng là công việc hàng đầu và quan trọng nhất; 3/ tài sản thứ ba của Hội Nhà văn Việt Nam là tấm lòng của mỗi nhà văn và của Hội đối với người cầm bút trẻ; 4/ tài sản lớn thứ tư của Hội Nhà văn Việt Nam là xây ngôi nhà của mình thành ngôi đền lớn của văn học dân tộc.

Anh/chị nghĩ thế nào về những “tài sản” đó?

Đỗ Trung Quân: Nghe kinh thật! Tôi cũng là hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam mà chẳng nhận ra mình có cái tài sản lớn đến thế. Cũng nói thật ý nghĩ này: nhà thơ Nguyễn Duy, trong một buổi trò chuyện, giao lưu với một vài nhà văn Mỹ cách đây chưa lâu được tổ chức ở Việt Nam, có nói đại ý “Vấn đề gì chính trị chưa giải quyết được thì văn hoá sẽ giải quyết… Nuôi nấng thù oán, nhỏ nhen không phải là thái độ của nhà văn…” (Không nguyên văn – ĐTQ). Nghe có lý đấy chứ, nhưng nghĩ kỹ mà xem. Họ có thể bắt tay hoà giải hoà hợp với những nhà văn Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam, nhưng việc họ bắt tay hoà giải hoà hợp với những tác phẩm, những nhà văn đích thực của một nền văn học của miền Nam, của Sài Gòn cũ, đồng thời là của đồng bào mình thì sao? Nền văn học ấy không thiếu những tác giả, tác phẩm và dịch thuật quan trọng cho sự hội nhập với những trào lưu mới cần thiết của nửa đầu thế kỷ trước. Chính trị không giải quyết thì văn hoá hãy giải quyết việc này đi nào? Những vấn đề như thế chắc chắn không bao giờ được đặt ra ở Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII. Đại hội chỉ xoay quanh bầu bán và… hết. Tài sản ấy làm sao mà “lớn” mà “giàu” cho được.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Hội Nhà văn Việt Nam có tham vọng trở thành “ngôi đền lớn của văn học dân tộc.” Nhiệm vụ của Hội là “tập trung tất cả nhà văn Việt Nam nhằm xây dựng một nền văn học tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.” Thế nhưng, gần đây, tôi đọc bài phóng sự “Các nhà văn về nguồn” trên trang web của Hội Nhà văn Việt Nam thì thấy cuộc “về nguồn” ấy, do chính ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, dẫn đầu đoàn nhà văn, đi đến xã Kim Bình huyện Chiêm Hoá, để viếng thăm nơi diễn ra Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ I. Không lẽ cái “bản sắc dân tộc đậm đà”, cái nguồn của “văn học dân tộc”, nằm ở cái chỗ đó?

Theo anh/chị, ta nên lý giải cái logic này như thế nào?

Đỗ Trung Quân: Vậy là tôi còn “xa nguồn” lắm, có khi mất gốc chứ chẳng chơi, vì tôi chưa từng đến đấy. Đảng Cộng sản Đông Dương sinh ra… Hội Nhà văn Việt Nam? Vậy Hội Nhà văn Việt Nam sẽ sinh ra cái gì? Hỏi tức là trả lời rồi.

Hoàng Ngọc-Tuấn: Ngày 29/07/2010 vừa qua, nhà báo Trang Hạ có viết bài “Em không phải là nhà văn”, đăng trên Trangha’s Blog. Trong đó, Trang Hạ cho chúng ta thấy nhiều điểm rất thú vị trong nội tình của Hội Nhà Văn Việt Nam hiện nay (đạo văn, mạo danh, bao che, quỵt tiền…) và đặc biệt ngoạn mục là thái độ của ông Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đối với Trung Quốc và… tiền.

Theo anh/chị, những việc thú vị và ngoạn mục như thế diễn ra trong “ngôi đền lớn của văn học dân tộc” đã phản ảnh đúng mức cái “bản sắc dân tộc đậm đà” chưa? Hay là anh/chị còn biết những sự kiện thú vị và ngoạn mục hơn nữa để làm những ví dụ xác đáng hơn nữa?

Đỗ Trung Quân: Bài viết của nhà báo Trang Hạ đã vẽ ra cái chân dung gần nhất của Hội Nhà văn Việt Nam rồi. Tôi không bình luận thêm. Tôi có viết trên blog cá nhân của mình cái lý do không tham dự Đại hội, mà lý do của tôi cũng chẳng mới mẻ gì: nhà văn không thấy Hội là cần thiết cho mình, mà Hội cũng chẳng thấy phải có trách nhiệm gì với nhà văn, thế thì chán nhau cũng phải. Một ví dụ: Khi hội viên cần có tiếng nói thì chẳng thấy tiếng nói của Hội. Khi một cuốn sách, một tác phẩm bị xem là “có vấn đề”, Hội thường chỉ làm một việc là im lặng và đồng ý để… thu hồi nó. (Trường hợp Cánh đồng bất tận bị phê phán của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư mấy năm trước là trường hợp hiếm hoi gần như duy nhất có tiếng nói của công luận bênh vực, trong ấy có tiếng nói của một số nhà văn với tư cách đồng nghiệp nhiều hơn là tiếng nói chính thức có văn bản của Hội Nhà văn). Một người đọc blog tôi comments “Tôi đồng ý! Nhận định trên của anh đúng cho… mọi Hội, Ngành của ta.”

Hoàng Ngọc-Tuấn: Nếu có một vị tiên trên trời hiện xuống ban cho anh/chị 3 điều ước về Hội Nhà Văn Việt Nam, thì anh/chị sẽ ước những gì?

Đỗ Trung Quân: Ước là điều xa xỉ nhưng “sống ở đời ai chẳng có ước mơ”. Nói thật nhá! Hội Nhà văn Việt Nam và báo Văn Nghệ đã thành cái ao làng lâu rồi. Tôi ước: Lấp đi cái ao làng. Cái ao làng phải thật sự bị lấp để thách thức chính những kẻ quen sống trong ao.

Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII: Thông tin bên lề về Chủ tịch Hữu Thỉnh

Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII: Thông tin bên lề về Chủ tịch Hữu Thỉnh

04/08/2010 | 10:15 chiều | 2 phản hồi

Tác giả: talawas blog

Chuyên mục: Thời sự / Spectrum

Trước ngày khai mạc Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII hôm nay 04/8/2010, Chủ tịch Hội, nhà thơ Hữu Thỉnh có hai bài viết: “Gắn bó máu thịt với nhân dân để sáng tạo” (01/8/2010) và “Vì sự cường thịnh của đất nước, vì phẩm giá con người” (03/8/2010). Cả hai bài đều không xuất hiện trên website của Hội Nhà văn, mà được đăng trên Quân đội Nhân dân, cơ quan ngôn luận nổi tiếng với chủ trương quyết liệt “chống diễn biến hòa bình”. Theo một nguồn tin từ thân hữu của talawas, giá của hai bài báo này là 25 triệu đồng Việt Nam – dĩ nhiên không phải là nhuận bút cho tác giả, mà là chi phí quảng cáo trả cho tòa báo – và một vé chính thức đại diện cho Việt Nam đi dự thơ quốc tế tại Hàn quốc, dành cho một nhà thơ hiện là biên tập viên của báo Quân đội Nhân dân.

Nhà thơ Hữu Thỉnh năm nay 68 tuổi, đã liên tục giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam từ 3 nhiệm kì, kiêm Tổng biên tập báo Văn Nghệ. Có nhiều khả năng là ông sẽ tiếp tục giữ chức này trong nhiệm kì mới. Cũng theo một nguồn tin từ thân hữu của talawas, ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, đã ký quyết định bổ nhiệm ông Hữu Thỉnh vào chức vụ này từ một tuần nay, dù vấn đề nhân sự Ban Chấp hành trong Đại hội Nhà văn Việt Nam lần này được coi là rất “nóng”.

Tuy nhiên, cũng theo một nguồn thông tin nội bộ của talawas, báo Quân đội Nhân dân vừa bị họp kiểm điểm vì hai bài báo nói trên. Vì chúng “cúng cụ” quá lộ liễu. Hay tín hiệu cho chức “Chủ tịch Trọn đời” của nhà thơ Hữu Thỉnh qua đó trở nên quá rõ ràng. Chúng ta đang ở thời buổi “Tuyên giáo bi giờ người ta tế nhị lắm”, như lời cảnh báo của nhà báo Hồ Thu Hồng.

TƯỜNG THUẬT ĐẠI HỘI VIII HỘI NHÀ VĂN VN

TƯỜNG THUẬT ĐẠI HỘI VIII HỘI NHÀ VĂN VN

Ảnh: Ông Phùng Hữu Phú phát biểu. Ảnh Trần Nhương.

Chiều ngày 4-8-2010

Chiều nay, Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức Hội nghị riêng của các nhà văn là đảng viên, tại Hội trường lớn Học việnNguyễn Ái Quốc, đường Nguyễn Phong Sắc, quận Cầu Giấy, Thủ đô Hà Nội.

14 giờ 10 phút, Đại hội Hội Nhà văn bắt đầu khai mạc. Trên đài cao là ông Phùng Hữu Phú, Phó ban Tuyên giáo phát biểu. Chủ tịch đoàn gồm có các vị: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Lê Văn Thảo. Ông Phú nói TƯ thành Lập Ban chỉ đạo để hỗ trợ các hội chứ không can thiệp vào Đại hội của các Hội.

Ông Phú nói ông rất tâm đắc với Báo cáo chính trị là vì phẩm giá con người vì sự cường thịnh của đất nước. Ông cố gắng đọc báo Văn nghệ và các báo khác và đã thấy nhiều ý kiến tâm huyết đóng góp xây dựng Hội. Đại hội này sẽ với tinh thần Dân chủ, dân chủ không xuôi chiều, có tranh luận nhưng trên tinh thần xây dựng.

Với 60% đảng viên của các nhà văn VN, chúng ta hãy cùng nhau xây dựng Hội, tiến hành một đại hội Dân chủ. Hôm nay tôi xin chúc mừng các nhà văn đảng viên. Với tinh thần là người cầm bút và được phân công tôi xin chúc các đồng chí mạnh khỏe và trân trọng cảm ơn..

Sau đó, Nhà thơ Hữu Thỉnh đáp lời ông Phú và trình bày nhưng khó khăn mà BTC đã khắc phục. Các hội bạn mở đại hội được cấp 1,5 tỉ thì hội ta gần gấp đôi. Nhân dân cho các nhà văn hơi nhiều mà các nhà văn chưa có nhiều đóng góp mấy. Vì không có hội trường nên phải làm tại hội trường học viện hành chính chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có nhiều khó khăn cho các đại biểu. Nhưng hội trường đàng hoàng, tươi đẹp, an toàn.

Ông cũng xin ý kiến Đại hội về Đoàn Chủ tịch Đại hội phải là người hiểu Hội và có năng lực điều hành. Dự kiến Chủ tịch đoàn gồm BCH cũ và các đại biểu lãnh đạo các khu vực và 1 đảng viên lão thành. Và ông cũng khẳng định rõ, đây không phải là hình ảnh BCH mới.

Tiếp theo, Ông Hữu Thỉnh nêu ý kiến về việc đề cử, ứng cử và bầu cử. Ông nói, sau 20 năm mới lại có ĐH toàn thể. Xin các đảng viên hãy nâng cao vai trò lãnh đạo để ĐH thành công. Nhân dân công luận xã hội đang trông đợi ở các nhà văn. Chúng ta hãy có một ĐH xứng tầm. Tôi đề nghị: Diễn đàn ĐH là Văn hóa - Đổi mới, là tâm huyết đổi mới toàn diên, Ngày mai vào ĐH nội bộ, những vấn đề quan trọng được quyết định.

Tiếp theo là phát biểu của Nhà văn Nguyễn Trí Huân khẳng định ĐH chính là một diễn đàn mang tính học thuật cao. Ông cũng cho biết có 626 đảng viên trên 922. tham gia ĐH.

Phần tham luận, Nhà thơ Định Hải nói: Tôi hết sức xúc động đứng lên diễn đàn này. Tôi đã được dự 8 kì ĐH. Rất sung sướng. Tôi biết ơn lắm. Mặc dù BCH cũng nhiều khuyết/nhược điểm. Tôi thấy Hội ta kết nạp nhiều người già quá! Tôi đề nghị kết nạp ngay Trang Hạ, Lê Thiếu Nhơn, Lê Anh Hoài, Văn Cầm Hải, Phạm Xuân Nguyên. Đại hội phải bầu ra Ban kiểm tra độc lập với BCH. BCH số lượng 25 người, nên có số lượng ấy...Nhà thơ Định Hải phát biểu lạc đề nhiều ý nên được "vỗ tay " nhiều lần.

Nhà thơ Lê Duy Phương lên tiếng đề nghị bài tham luận của Ngô Minh rất hay, phải được đọc ở ĐH chính thức...

Nhà văn Triệu Xuân giận dữ vì nhà văn mà chỉ cãi nhau về bầu bán mà không biết ngoài kia nhân dân đói rách...Nhà văn hãy lo cho Nhân Dân, Đất Nước!

Nhà thơ Dương Thuấn nói: Các nhà văn già vẫn nhìn nhà văn trẻ trên 50 tuổi như một lũ trẻ con. Ông kêu gọi: Hãy thay đổi.

Nhà văn Tô Nhuận Vĩ: Nên theo chỉ thị 45 mới tinh. Các đồng chí nhiều tuổi chỉ tham gia ít thôi.

Nhà văn Nguyễn Trần Thiết: Tôi 15 năm nay mới được dự đại hội. Họ chỉ bầu cho cánh của họ.

Nhà văn Đào Thái Tôn: Tôi bị bịt miệng, cứ đụng đến Mai Quốc Liên là không đăng. Tôi tha thiết BKT độc lập. Tôi là nạn nhân!

Nhà văn Trần Kỳ Trung đăng đàn: Sao lại để toàn người già nói ...

Chiều nay có 10 ý kiến phát biểu. Hội trường nóng ran. Nhiều lần hội trường vỗ tay không dứt không phải vì hưởng ứng mà là muốn mời diễn giả xuống...

Nhà thơ Hữu Thỉnh kết luận ngày làm việc, nói: Chiều nay không khí sôi nổi, trách nhiệm. Ai cũng mong ĐH thành công đáp ứng mong mỏi của nhân dân. Chúng ta muốn có 1 BCH đủ mạnh gánh vác trọng trách, chúng ta cùng mong muốn tính văn hóa hội nghị thẳng thắn, đoàn kết...

Bạt ngàn hội trường là những mái đầu bạc như một trời mây trắng. Hội Nhà văn quá già nua, khiến ai cũng cảm thấy chạnh niềm cảm xúc! Hội trường rộng, nhưng khá nóng. Micro rất kém nên lời phát biểu câu được câu chăng.

Sunday, 1 August 2010

Tranh luận về cồng chiêng Tây Nguyên

Tranh luận về cồng chiêng Tây Nguyên

LTS: Sau bài viết “Cồng chiêng Tây Nguyên sản xuất tại Thái Lan” trên số báo SGTT ra ngày 27.7.2010, chúng tôi đã nhận được nhiều phản hồi của bạn đọc. Đáng lưu ý là phản hồi của nhà văn Nguyên Ngọc và ông Nguyễn Duy Ngọc. Theo ông Nguyễn Duy Ngọc, việc cồng chiêng Tây Nguyên do người Tây Nguyên làm ra như GS Trần Quang Hải đã trả lời phỏng vấn là không đúng và ông dẫn ra một số bằng chứng từ sự biết của ông. Nhà văn Nguyên Ngọc, người đã có nhiều tác phẩm văn học về Tây Nguyên và cũng đã xem Tây Nguyên là một phần máu thịt của mình, đã bức xúc khi nói về câu chuyện xuất xứ của cồng chiêng Tây Nguyên.

SGTT.VN - Chúng tôi gửi đến bạn đọc những ý kiến của ông Nguyễn Duy Ngọc và ông Nguyên Ngọc để chúng ta cùng nhau hiểu biết thêm về câu chuyện cồng chiêng Tây Nguyên, một trong những niềm tự hào của chúng ta khi đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể thế giới từ năm 2009.

Hai ý kiến khẳng định, cồng chiêng Tây Nguyên là những sản phẩm "nhập ngoại" nhưng đã được người Tây Nguyên khéo léo "biến" thành bản sắc của mình. Ảnh: T.L

Ông Nguyễn Duy Ngọc: Người Tây Nguyên có sản xuất được cồng chiêng không?

Các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không hề đúc được cồng chiêng. Họ chỉ sử dụng cồng chiêng “nhập ngoại” vào các sự kiện sinh hoạt văn hóa của họ. Lúc đầu cồng chiêng vào Tây Nguyên chủ yếu theo đường từ Lào sang, có xuất xứ từ Trung Quốc, Myanmar. Những chiếc cồng chiêng này có giá trị rất cao, thậm chí đổi nhiều con trâu mới có được một chiếc, nó là tài sản lớn trong các gia đình Bana, Jarai, Ê đê...

Sau này, và chỉ rất lâu sau này, các làng đúc đồng dọc theo duyên hải miền Trung mới đúc cồng chiêng mang lên bán cho người Tây Nguyên. Làng Phước Kiều (Điện Bàn, Quảng Nam) là nơi cùng cấp một số lượng lớn cồng chiêng lên Tây Nguyên cho đến bây giờ. Ông Dương Ngọc Sang, một nghệ nhân đúc đồng lão làng ở Phước Kiều cho biết trước đây ở Phước Kiều chỉ đúc các vật dụng gia đình bằng nhôm đồng như xoong, chảo..., cho đến khoảng sau 1960 mới bắt đầu đúc cồng chiêng mang lên Tây Nguyên bán.

Chuyện là những thợ nhôm đồng ở Phước Kiều khi mang nồi chảo lên các tỉnh Tây Nguyên bán dạo thì thấy những chiếc cồng chiêng được các dân tộc ở đây nâng niu, trao đổi nhau với giá trị cao. Họ nảy ra ý định đúc những chiếc cồng chiêng mô phỏng theo rồi đem lên bán. Lúc đầu họ chỉ biết đúc phôi, tiếng chiêng họ đúc kêu không đúng do họ không biết gì về âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên cả. Những người già ở các làng Tây Nguyên có am hiểu về cồng chiêng, dùng búa chỉnh lại độ dày mỏng để tiếng chiêng phát ra đúng, có thể chơi được trong giàn cồng chiêng. Mãi sau này người Phước Kiều mới học được cách chỉnh âm cho cồng chiêng sau khi đúc phôi xong. Và những chiếc chiêng từ Phước Kiều lên chất lượng và giá thường thấp hơn nhiều so với những chiếc cồng chiêng nhập vào qua đường Lào trước kia, mà sau này không hiểu vì lí do gì không còn nhập vào nữa.

Cồng chiêng được đúc từ hợp kim đồng và thiếc với tỉ lệ thích hợp. Vấn đề ở đây là kỹ thuật đúc, pha trộn kim loại sẽ quyết định chất lượng chiếc chiêng sau khi ra đời, chứ không phải là chuyện tỉ mẩn “tốn cả năm trời” như GS Hải nói. Thực sự việc đúc một chiếc chiêng không cần phải lâu đến vậy, thường chỉ vài ngày.

Ông Hải cho rằng: “Người Tây Nguyên tin rằng, lớp đồng đen trên bề mặt cồng chiêng được phết thêm máu gia súc dùng trong tế lễ, thì cái cồng, cái chiêng đó đánh lên, mới phát ra đúng âm thanh của Tây Nguyên. Ấy thế mà hiện nay lại có những chàng trai Tây Nguyên dám đem những cái cồng, cái chiêng ông bà, tổ tiên để lại ra gọt chỗ này, cạo chỗ kia, rồi tạo nên âm giai thất cung thay thế vào để chơi nhạc mới”.

Hầu như chiếc chiêng nào dù tốt đến mấy chơi một thời gian dài đều hỏng tiếng, mất tiếng, và đều phải cạo sửa, gõ búa để chỉnh lại độ dày mỏng, lấy lại đúng âm thanh ban đầu. Và âm thanh có tốt hay không là do chất lượng chiêng, kỹ thuật đúc, còn cái “huyền thoại máu thú” nghe “hấp dẫn kia” thì tôi chưa nghe ai nói, và khó mà chứng minh được. Còn việc các chàng trai Tây Nguyên mà sáng chế, chỉnh sửa lại bộ cồng chiêng nào đó mà chơi pop, rock... được thì quả tuyệt vời chứ, sáng tạo đáng khen chứ, sao lại chê. Khi nó chỉ là sáng tạo ở vài điểm, nó chỉ làm phong phú thêm, chứ khó mà biến đổi hết cả văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được. Các giai điệu cồng chiêng Tây Nguyên ở mỗi nơi đều khác khác nhau rất rõ, và có lẽ nó cũng đã có nhiều biến chuyển, bổ sung, thêm mới theo thời gian.

Vấn đề hiện nay của cồng chiêng Tây Nguyên không phải là không có các dự án hỗ trợ. Ngược lại đang có quá nhiều, mà lại làm một cách tạp nham, thiếu hiểu biết. Những chiếc chiêng “dự án” liệu có tốt không khi chỉ cần giảm một lượng thiếc nhất định trong hỗn hợp đồng - thiếc là giá thành chiêng sẽ giảm nhiều, vì thiếc có giá đắt gấp nhiều lần đồng. Kéo theo đó chất lượng sút giảm theo, đánh chỉ một thời gian là điếc, vứt xó. Có nhiều dự án, đưa cồng chiêng lên Tây Nguyên nhiều hẳn đã hay? Có khi lại gây bội thực, chán chê, người Tây Nguyên không mua cồng chiêng nữa, chỉ chờ đem cho. Rồi các lễ hội giả tạo do nhà nước bỏ tiền ra tổ chức, các buổi biểu diễn cồng chiêng theo kiểu sân khấu. Nó có làm sống lại được không gian cồng chiêng tồn tại bao đời? Không, nó chỉ là những "xác ướp", thậm chí còn không phải "xác ướp" của không gian cồng chiêng truyền thống Tây Nguyên, mà là những "xác ướp lạ” từ xa đem tới, phủ lớp áo Tây Nguyên. Các dự án đó chỉ có “bức tử” luôn những giá trị văn hóa hãy còn sống của Tây Nguyên mà thôi.

Văn hóa Tây Nguyên vốn đã bị “đứt gãy” nhiều bởi di dân ồ ạt, bởi những giá trị mới xô đến đột ngột, đè nát những giá trị cũ, bởi mất rừng, mất đất, mất rẫy... Bây giờ trong việc bảo tồn nền văn hoá này với những “dự án” moi tiền, những tác động thô bạo, thiếu hiểu biết... thì chỉ làm Tây Nguyên "tổn thương" thêm.

Ông Nguyên Ngọc: Nhân chuyện cồng chiêng Tây Nguyên

Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy, cồng chiêng chưa bao giờ được đúc ở Tây Nguyên. Do đó cũng không có chuyện giết trâu, giết heo, bôi máu… thiêng khi người Tây Nguyên tự tay làm ra cồng chiêng. Người Xơ Đăng ở bắc Tây Nguyên có công nghệ luyện thép lâu đời và nổi tiếng, nhưng cồng chiêng làm bằng đồng (có pha hợp kim thiếc) chứ không phải thép nên người Tây Nguyên không tự mình đúc được. Họ mua cồng chiêng chủ yếu từ Lào; tôi chưa nghe nói mua xa đến tận Trung Quốc, Myanmar…, nếu có thì chắc cũng là những cồng chiêng từ các nơi ấy bằng cách nào đó đã được chuyển sang Lào và người Tây Nguyên mua lại tại đấy. Họ cũng có mua cồng chiêng của người Việt từ vùng ven biển miền Trung, trong đó có trung tâm đúc đồng lâu đời là làng Phước Kiều ở Quảng Nam.

Theo tôi không chỉ đến 1960 người Tây Nguyên mới mua cồng chiêng từ đồng bằng miền Trung. Chúng ta đều biết từ rất xa xưa người Việt cũng đã có cồng chiêng. Chính đây là điều cần đặc biệt chú ý: người Tây Nguyên mua cồng chiêng từ nhiều vùng chung quanh, nhưng có thể nói đấy chỉ mới là những "cồng chiêng nguyên liệu thô" hoàn toàn chưa phải là cồng chiêng Tây Nguyên, công cụ của một nền nghệ thuật độc đáo và hết sức đặc sắc. Chiếc chiêng được đúc ra, chẳng hạn như chiêng của làng Phước Kiều Quảng Nam, mới chỉ là một thứ vật liệu thô, thậm chí chưa có nhạc tính, gõ vào đấy cũng gần như gõ vào một cái kẻng. Về sau, có thể qua học tập ở cồng chiêng Tây Nguyên, mà người Phước Kiều đã nâng cao tay nghề lên được một bước, họ đã có được một số công nghệ tạo một mức độ nhạc tính nào đó cho sản phẩm của mình.

Tôi đã nghe chính người làng Phước Kiều gọi công việc ấy là "dạy tiếng cho chiêng", song cũng mới chỉ là một kiểu tiếng nói bập bẹ, ngọng ngịu nào đó thôi. Tôi đã được thấy những chiếc chiêng người Tây Nguyên mua từ đồng bằng về, mặt chiêng gần như hoàn toàn bằng phẳng. Người ta dùng búa gõ tạo thành một đường rãnh vòng tròn men theo mép trong của vành chiêng. Rất lạ, chính cái đường rãnh được tạo theo một nghệ thuật riêng nào đó làm cho chiếc chiêng, vốn thô như một chiếc kẻng, bắt đầu có nhạc tính, trở thành một nhạc cụ.

Song đó cũng chỉ mới là bước đầu. Trong một dàn chiêng (số lượng chiêng tùy thuộc từng loại, đặc trưng cho nhạc cồng chiêng của từng dân tộc), mỗi chiếc phụ trách một âm, một "nốt". Người ta "dạy", trao cho từng chiêng một nốt riêng của nó. Bằng cách dùng một chiếc búa nhỏ, thường rất đẹp và rất quý, gõ nhẹ lên mặt chiêng, gõ từ mặt ngoài vào thì âm sẽ cao lên, gõ từ mặt trong ra thì âm sẽ thấp xuống. Chính vì thế mà ta thấy trên mặt chiêng có vô số những vết lồi lõm nhẹ, chẳng cái nào giống cái nào.

Mỗi chiếc chiêng có một diện mạo riêng, cũng như mỗi con người ở đời, không ai giống ai, có cá tính, có tính cách riêng. Tất nhiên đấy là một công việc vô cùng tinh tế, cả một nghệ thuật không phải ai cũng đạt được. Một dàn chiêng mua về phải được "dạy dỗ" công phu và đầy tài năng như vậy, thường hàng tháng trời, vô cùng tỉ mỉ và say mê, mới trở thành một bộ chiêng Tây Nguyên. Mới từ cái xác khô như những cái kẻng mua dưới Phước Kiều lên, trở thành những sinh vật sống, có hồn, có khi còn thiêng hơn cả con người…

Đại thể chiêng mua từ đồng bằng của người Việt lên là như vậy. Còn đối với những cái mua từ Lào về thì sao? Ở Lào nó đã là nhac cụ, đã có hồn. Nhưng là "hồn Lào". Phải dạy cho nó trở thành cồng chiêng Tây Nguyên. Cũng chỉnh bằng cách điều chỉnh với chiếc búa nhỏ được điều khiển hết sức tài tình, tinh tế như vậy. Dạy cho nó tiếng Tây Nguyên, tiếng Ba Na, tiếng Gia Rai, tiếng Ê Đê …, chứ không phải tiếng Lào.

Chiêng để lâu thì thường bị lạc giọng, các nốt sai đi, do thời tiết, do va chạm, do di chuyển, do khi đánh quá nặng hay quá nhẹ tay. Khi đó người ta bảo "chiêng bị bệnh". Nó ốm. Phải mời thầy thuốc đến chữa bệnh cho chiêng. Thường khắp cả một vùng mới có một thầy thuốc chuyên khoa như vậy, còn hơn cả một nghệ sĩ: một nhân vật thiêng. Ông được rước đến vô cùng trang trọng, và ông ngồi hàng ngày, có khi hàng nhiều ngày để chỉnh chiêng, cả làng im lặng và kính cẩn vây quanh chiêm ngưỡng ông thầy tài ba ấy chữa bệnh cho chiêng. Cũng chỉ với chiếc búa nhỏ quý và thiêng mà ông không để cho ai được chạm đến. Ở Tây Nguyên người ta gọi ông là "N'jâu" hay "P'jâu cing". N'jâu hay P'jâu có nghĩa là thầy thuốc. Tôi được nghe kể rằng ngày trước sau khi thầy đã chữa chiêng xong rồi, thì một người phải lên ngựa phi sang tận sườn núi xa bên kia, để từ bên ấy lắng nghe tiếng vọng của chiêng bên này mà đánh giá tài năng của thầy!

Như vậy người Tây Nguyên không đúc được chiêng, nhưng theo cách nào đó chính họ sáng tạo ra cồng chiêng, cồng chiêng Tây Nguyên, không nhầm lẫn với bất cứ cái vật bằng đồng hình tròn nào khác, mang từ dưới xuôi lên hay bên từ Lào về; riêng biệt, độc đáo, và đặc sắc, có một không hai.

Tất nhiên còn vô số điều phong phú và sâu sắc để nói về cồng chiêng Tây Nguyên. Xin hẹn dịp khác. Chỉ xin chú ý thêm một điều: Cái mà UNESCO đã sáng suốt công nhận là Di sản Văn hóa thế giới không phải là cồng chiêng Tây Nguyên, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên, mà là "Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên". Và không gian ấy là làng và rừng Tây Nguyên. Mất hết rừng, không còn làng rừng, thì sẽ không còn cồng chiêng Tây Nguyên nữa đâu, dù có bao nhiêu festival ồn ào, diêm dúa.

Riêng tôi, tôi không sợ cồng chiêng bị bán ra ngoài Tây Nguyên, tôi cũng không sợ cồng chiêng mua từ Thái Lan về (thì ngày trước nó vẫn được mua từ Lào về đấy, có sao đâu!). Người Tây Nguyên có một bản lĩnh văn hóa rất mạnh để biến cái vốn là ngoại lai thành tài sản văn hóa độc đáo của riêng mình, Tây Nguyên hóa tất cả, miễn là còn rừng. Rừng là sức mạnh vĩ đại của Tây Nguyên. Tôi chỉ sợ mất hết rừng Tây Nguyên rồi, tức cũng mất hết làng rừng Tây Nguyên. Mất chính cái Không gian mà UNESCO đã trân trọng thay mặt toàn thế giới văn hóa công nhận.

Cồng chiêng Tây Nguyên sản xuất tại... Thái Lan

Cồng chiêng Tây Nguyên sản xuất tại... Thái Lan

SGTT.VN - Từ Pháp trở về Việt Nam tham dự hai sự kiện lớn của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế đang cùng lúc diễn ra tại Hà Nội: Hội nghị lần 6 “Âm nhạc và các dân tộc thiểu số”; Hội nghị lần 2 “Âm nhạc dân tộc học ứng dụng”, giáo sư (GS) Trần Quang Hải bày tỏ mối lo trước hiện tượng hiện đại hoá các di sản văn hoá phi vật thể của dân tộc, đặc biệt là cồng chiêng Tây Nguyên.

Cồng chiên Tây Nguyên ưứng trước nguy cơ bị "Tây hoá". Ảnh: H.L

GS đăng ký trình bày một tham luận có cái tên rất dài: “Phương Tây hoá và hiện đại hoá cồng chiêng của người Tây Nguyên Việt Nam: Điều đó có tốt cho sự phát triển âm nhạc của họ trong sự toàn cầu hoá âm nhạc thế giới?”. Thực trạng nào khiến ông phải đặt ra câu hỏi ấy?

Kể từ khi được Unesco công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể của thế giới”, cồng chiêng Tây Nguyên bỗng thay đổi chóng mặt. Trong dàn cồng chiêng cổ, tôi thấy xuất hiện ngày càng nhiều cồng chiêng sản xuất tại Thái Lan. Trông thì đẹp mã, bóng bẩy, sơn son, phết vàng, về mặt chất lượng thì âm cũng chuẩn, cao độ cũng tốt, nhưng đó không phải là cồng chiêng của người Tây Nguyên.

Cồng chiêng do bàn tay người Tây Nguyên làm ra, nó thấm đẫm hơi thở của núi rừng. Mỗi một cái cồng, cái chiêng, có khi phải tỉ mẩn rèn, đúc cả năm trời mới làm xong. Cứ hoàn thành một dàn cồng chiêng, là lại tiến hành tế lễ, giết gà, mổ bò, mổ trâu.

Giáo sư Trần Quang Hải. Ảnh: H.L

Người Tây Nguyên tin rằng, lớp đồng đen trên bề mặt cồng chiêng được phết thêm máu gia súc dùng trong tế lễ, thì cái cồng, cái chiêng đó đánh lên, mới phát ra đúng âm thanh của Tây Nguyên. Ấy thế mà hiện nay lại có những chàng trai Tây Nguyên dám đem những cái cồng, cái chiêng ông bà, tổ tiên để lại ra gọt chỗ này, cạo chỗ kia, rồi tạo nên âm giai thất cung thay thế vào để chơi nhạc mới.

Người ta dùng những cái cồng, chiêng lai căng ấy chơi đủ thứ nhạc từ Pop đến Rock mà không hiểu rằng, sở dĩ cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới” là bởi nó là báu vật riêng có của núi rừng Tây Nguyên, và chỉ duy nhất cồng chiêng Tây Nguyên mới phát ra được thứ âm thanh độc đáo rặt Tây Nguyên. Vậy mà…

Chưa hết đâu, cách trình diễn cồng chiêng dạo này cũng được “cách tân” triệt để. Trước kia, một dàn cồng chiêng cần đến cả chục người cùng tham gia biểu diễn. Kỹ thuật đánh hết sức phong phú, và phải rèn luyên lâu năm mới thuần thục. Còn bây giờ, có khi, người ta gắn cồng, chiêng vào một cái khung, rồi một người đứng gõ cốc cốc. Cứ cái đà này, tôi nghĩ, cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ đánh mất mình, mà còn có thể đánh mất luôn danh hiệu cao quý “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”.

Từ trước đến nay đã có Di sản văn hoá phi vật thể thế giới nào bị Unesco lấy lại danh hiệu chưa, thưa GS?

Đã có một vài trường hợp. Unesco quy định rất rõ: Di sản văn hoá phi vật thể nào được vinh danh, thì cần phải bảo tồn, gìn giữ nguyên trạng, không được phép cải tiến, thay đổi. Nếu “phạm luật”, Unesco chắc chắn thu hồi lại danh hiệu.

Cứ cái đà này, tôi nghĩ cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ đánh mất mình, mà còn có thể đánh mất luôn danh hiệu cao quý “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”.

Ông đã cảnh báo nguy cơ này với những người có trách nhiệm?

Chỉ một năm sau khi cồng chiêng Tây Nguyên trở thành “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”, tôi đã thấy GS Tô Ngọc Thanh lên tiếng cảnh báo. Tiếp đến là cha tôi, GS Trần Văn Khê. Nhưng từ đó đến nay, hiện tượng “Tây hoá” cồng chiêng Tây Nguyên không hề chấm dứt.

Sau khi được công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”, không chỉ cồng chiêng Tây Nguyên mà cả quan họ Bắc Ninh, nhã nhạc cung đình Huế đều bị phôi pha “hương đồng gió nội” trong cơn lốc du lịch hoá, thương mại hoá... Phải chăng chúng ta mới chỉ “vô tư” sở hữu danh hiệu cao quý ấy mà chưa nhận thức đầy đủ những trọng trách kèm theo?

Đúng vậy! Trước khi trở thành “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”, Tây Nguyên có 6.000 dàn cồng chiêng. Hiện tại, chỉ còn có 2.000, mất đi 4.000. Do đâu?

Cồng chiêng được vinh danh và bởi thế, thu hút nhiều hơn các nhà sưu tầm cổ vật cũng như du khách. Vì hoàn cảnh, nhiều người Tây Nguyên bất đắc dĩ buộc phải bán đi cái cồng, cái chiêng tồn tại đã bao đời của dân tộc mình, gia đình mình. Vậy mà những năm qua, tôi chưa thấy có dự án nào hỗ trợ bà con Tây Nguyên trong công cuộc bảo tồn, gìn giữ vốn quý cha ông để lại.

Quan họ Bắc Ninh dạo này xuất hiện khá nhiều trong các tour du lịch. Ở chỗ này, chỗ kia đã thấy người ta rì rầm chuyện liền anh, liền chị biểu diễn xong thì xuống xin du khách tiền bồi dưỡng. Quan họ mà đi xin tiền thì đâu còn là quan họ! Nhã nhạc cung đình Huế, gần đây bỗng dưng được trình diễn kèm với múa. Nhã nhạc “nguyên gốc” làm gì có múa. Nhã nhạc có múa tức là mang hơi hướng du lịch hoá, thương mại hoá rồi.

Làm sao để chấn chỉnh tình trạng này đây? Tôi nghĩ chỉ có thể trông đợi ở cấp quản lý. Nếu đã có luật thì ai làm sai, cứ phạt nặng. Như thế có thể là hơi khắt khe, nhưng cần thiết!